Lời nói đầu
Đất nớc ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế có sự quản của nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết đại hội Đảng khoá VI (12/1986) khoá VII (6/1991) khoá VII
(7/1996) và các nghị quyết trung ơng tiếp theo nhất là các nghị quyết trung ơng IV
khoá VIII đã đề ra các chủ trơng, chính sách lớn về đổi mới về phát triển kinh tế
xã hội. Hội nghị lần thứ 6 (lần 1).Ban chấp hành trung ơng đảng khoá VIII về
nhiệm vụ kinh tế xã hội 1999 đề ra phơng hớng và mục tiêu tổng quát về kinh tế
xã hội 1999 và đến năm 2000 là tiếp tục công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nớc.
Trong đó vấn đề đầu t và phát triển nghị quyết nêu rõ: "Đổi mới đồng bộ các
chính sách, thể chế và thủ tục có liên quan tới môi trờng và điều kiện sản xuất
kinh doanh (nh thành lập doanh nghiệp, đất đai, vốn, khoa học, công nghệ lu
thông hàng hoá trong và ngoài nớc, thuế....) nhằm thật sự khuyến khích mọi tầng
lớp nhân dân cộng đồng ngời Việt Nam ở nớc ngoài, mọi doanh nghiệp cần kiệm,
hăng hái bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh, làm giàu cho mình và góp phần xây
dựng đất nớc, chú trọng khai thác tiềm năng đầu t phát triển kinh tế hộ, doanh
nghiệp vừa và nhỏ, ban hành chính sách u đãi đặc biệt (cao hơn mức bình thờng)
đối với mọi trờng đầu t không dựa vào nguồn vốn nớc nhà trong hai năm 1999-
2000 kể cả đầu t trực tiếp nớc ngoài "Trong đầu t Đảng ta coi đầu t vốn có tầm
quan trọng đặc biệt khuyến khích, u đãi mọi thành phần kinh tế bỏ vốn vào sản
xuất kinh doanh".
Vì thế để các doanh nghiệp có thể tồn tại trớc sự cạnh tranh khốc liệt trên th-
ơng trờng đồng thời phát huy hết hiệu quả sản xuất kinh doanh thì động lực để
doang nghiệp có thể mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu đó là vốn.
Do đó vấn đề đặt ra đối với mọi doanh nghiệp là quản trị vốn ra sao cho có
hiệu quả nhất và đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1
Để thấy đợc một doanh nghiệp thực hiện, giải quyết vấn đề này hiệu quả hay
không hiệu quả ta phân tích việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đó.Cụ thể ở đây
sức lao động và t liệu sản xuất) nhằm tạo ra nhiều của cải cho mỗi cá nhân, mỗi
doanh nghiệp và cả xã hội công thức đó cũng chỉ ra rằng trong dòng chảy liên tục
của dòng vốn đầu t nếu nh hình thái nào trong ba hình thái trên cha đi vào chu
trình vận động liên tục của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong trờng hợp nh
vậy thì đồng vốn đó vẫn ở dạng tiềm năng chứ nó cha đem lại những lợi thiết thực
cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội tích luỹ vốn (t bản) theo Mác là
"Sử dụng giá trị thặng d cho t bản, hay chuyển hoá gía trị thặng d thành t bản".
Một nhà kinh tế học ngời Hàn Quốc tên là Sang Sung Part đã định nghĩa về
vốn nh sau:" dới dạng tiền tệ, vốn đợc định nghĩa là khoản tích luỹ là khoản thu
nhập thờng có cha đợc tiêu dùng. Về mặt hiện vật vốn đợc chia thành hai phần vốn
có định và vốn tồn kho, là các t liệu sản xuất đợc sản xuất bằng hiện vật đợc sản
3
xuất hay đợc xuất khẩu. Từ định nghĩa của nhà kinh tế học Sang Sung Part chúng
ta rút ra một số nhận xét :
Một là: Vốn không chỉ biểu hiện dới dạng hiện vật hoặc dới dạng tiền tệ.
Hai là : Trong nền kinh tế thị trờng vốn không chỉ là nhng lợng tiền mặt nhất
định trực tiếp đầu t sinh lợi mà còn là giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình
tham gia vào các quá trình sản xuất.
Ba là : Tiền chỉ là vốn nếu nó đợc đầu t sinh lợi.
Trên cơ sỏ kế thừa các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế chính trị
Mác-xít và các nhà kinh tế học khác thì vốn hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực tài
chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia, còn vốn hiểu theo nghĩa
rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc đã tích luỹ của một
cá nhân hay một quốc gia.
Đối với một doanh nghiệp vốn là toàn bộ giá trị đầu t ban đầu và giá trị
đầu t tiếp theo trong sản xuất kinh doanh hay xét theo góc độ tài sản (bao gồm tài
sản cố định và tài sản lu động) thì tài sản này trong kinh doanh đợc gọi là vốn.
1.2 Vai trò của vốn trong kinh doanh:
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kĩ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động
nhất định là từ 45 đến 50 tỷ USD (1996-2000) trong đó nguồn vốn tích luỹ t trong
nứớc từ 20 đến25 tỷ USD chiếm khoảng 15% GDP, đạt khoảng 50% tổng nhu cầu
vốn bao gồm : vốn đầu t thuộc ngân sách nhà nớc từ 8 đến 10 tỷ USD, vốn tiết
kiệm từ các hộ gia đình, các tổ chức tài chính từ 6 đến 8 tỷ USD.
Nh vậy trong khi tạo ra các tiền đề và triển khai quá trình phát triển của một
doanh nghiệp hay bất kì một lĩnh vực nào đều không thể thiếu vai trò của vốn và
vốn chính là chìa khoá để công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
II-/ Phân loại vốn trong doanh nghiệp :
A-/ Phân loại vốn dới góc độ tài sản:
Vốn của doanh nghiệp biểu hiện dới dạng giá trị đợc gọi là tài sản. Căn cứ
vào tính chất luân chuyển của tài sản, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đợc chia
làm hai loại sau:
* Loại 1: tài sản lu động:
5
TSLĐ
sản xuất
TSLĐ
lưu thông
TSLĐ
tài chính
Tàì sản lưu động
* Loại 2: Tài sản cố định:
B-/ Phân loại vốn dới góc độ nguồn hình thành:Căn cứ vào nguồn hình thành (tài trợ) toàn bộ vốn của doanh nghiệp đ
Căn cứ vào nguồn hình thành (tài trợ) toàn bộ vốn của doanh nghiệp đ
-
-
Doanh nghiệp là một tổ chức đợc thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực
hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp có thể thực hiện một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các t liệu lao động(TLLĐ). Các
doanh nghiệp còn cần các đối tợng lao động khác với các t liệu lao động, các đối t-
ợng lao động (nh nguyên nhiên, vật liệu, bán thành phẩm....) chỉ tham gia vào một
chu kỳ sản xuất và không giữ đợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản
phẩm.
Những đối tợng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật đợc gọi là tài
sản lu động, còn hình thái giá trị gọi là vốn lu động của doanh nghiệp.
7
Công nợ phải trả
Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
Trong các doanh nghiệp sản xuất thờng chia tài sản lu động thành hai loại: tài
sản lu động sản xuất và tài lu động lu thông. Tài sản lu động sản xuất bao gồm các
loại nguyên nhiên, vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm dở dang.... đang
trong quá trình dự trữ sản xuất và chế biến. Còn tài sản lu động lu thông bao gồm
các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, khoản vốn trong
thanh toán các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trớc. Trong quá trình sản
xuất kinh doanh các tài sản lu động sản xuất và tài sản lu động lu thông luôn vận
động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
đợc tiến hành liên tục. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá-tiền tệ, để hình thành
các tài sản lu động sản xuất và tài sản lu động lu thông các doanh nhgiệp phải bỏ
ra một số vốn đầu t ban đầu t ban đầu nhất định. Vì vậy cũng có thể nói vốn lu
động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trớc để đầu t mua sắm các tài sản lu
động của doanh nghiệp.
Vốn lu động là biểu hiện của tài sản lu động nên đậc điểm vận động của nó
chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lu động, vốn lu động của doanh
nghiệp không ngừng vận động các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, dự trữ sản
2.1.2/ Đặc điểm của vốn l u động :
Vốn lu động chuyển toàn bộ giá trị vào thành phẩm sau mỗi chu kỳ sản xuất,
do đó để tái sản xuất cần phải thu hồi vốn lu động và vốn lu động luân chuyển
càng nhanh thì hiệu quả sử dụng vốn lu động của doanh nghiệp càng cao, đồng
thời góp phần mở rộng qui mô sản xuất, cải thiện mức sống của công nhân viên.
Vốn lu động luôn thay đổi theo hình thái biểu hiện: trong quá trình luân
chuyển với tốc độ nhanh hơn so với vốn cố định, xết về mặt lợng để quá trình sản
xuất kinh doanh tiến hành thờng xuyên liên tục tiền thu về phải luôn lớn hơn giá
trị vốn ban đầu bỏ ra ( T'' > T ) . Trong quá trình chuyển đổi hình thái đó các giai
đoạn của vòng tuần hoàn luôn đan xen nhau không tách biệt hẳn điều đó có nghĩa
là trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lu động luôn luôn vận động đồng thời
dới các hình thức khac nhau. Bên cạnh đó hình thái hiện vật của vốn lu động là
những đối tợng lao động của quá trình sản xuất cho thấy vốn lu động có đặc điểm
luân chuyển không ngừng, vì thế quản trị vốn lu động cần nắm bắt tình hình chu
chuyển vốn, kịp thời khắc phục những hiệu ứng tiêu cực trong sản xuất đảm bảo
cho sản xuất đợc tiến hành liên tục.
Tóm lai: Vốn lu động là đối tợng tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh,
nó chuyển đổi từ hình thái này sang hình thái khác sau đó trở về ban đầu. Một
vòng khép kín đó là một chu kỳ vận động của vốn lu động.
9
2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn cố định đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh:
Trong nền kinh tế thị trờng việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố
định của doanh nghiệp đuề phải thanh toán, chi trả bằng tiền,số vốn đầu t ứng trớc
để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định hữu hình và vô hình đợc gọi
vốn cố định của doanh nghiệp.
Vốn cố định là số vốn đầu t ứng trớc vì số vốn này nếu đợc sử dụng có hiệu
quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại đợc sau khi tiêu thụ các sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ của mình
Vốn cố định đối với một doanh nghiệp khi bắt đầu thành lập đợc coi là nền
Ba là: Sau nhiề chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân
chuyển, sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn đợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm
đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Những đặc
điểm luân chuyển trên của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn cố định phải luôn
gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các tài sản cố định của doanh
nghiệp.
Tóm lại: Vốn có định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t ứng tr-
ớc về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết
thời gian sử dụng.
III-/ Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính và phân
tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính:
Để phân tích khái quát tình hình tài chính toàn doanh nghiệp cần thực hiện ba
nội dung sau:
Dựa trên chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn đầu t (ROI ) để đánh giá chung ba yếu
tố:qui mô, tính năng động và quá trình sinh lợi của doanh nghiệp:
ROA =
ROA là tích của hệ số quay vòng vốn với tỷ lệ lãi thuần trên doanh thu vốn
đầu t đợc xác định là tổng cộng tài sản.
Mặt khác ROA còn có hai ý nghĩa :
*Một là : nó cho phép liên kết hai con số cuối cùng của hai báo cáo tài chính
cơ bản: lãi thuần của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và tổng cộng tài sản
của bảng cân đối kế toán.
11
*Hai là: nó kết hợp ba yếu tố cơ bản cần phải xem xét ngay từ đầu trớc khi
đi vào chi tiết. Đó là qui mô của doanh nghiệp đợc phản ánh qua tài sản, qui mô
hoạt động và tính năng đợc phản ánh qua doanh thu và quá trìnhlời đợc phản ánh
bằng giá trị của chỉ tiêu ROA qui mô của doanh nghiệp là căn cứ để diễn giải mọi
sự việc và tính năng động thể hiện mức độ phát triển hay suy thoái của doanh
Tỷ số đảm bảo nợ dài hạn =
3.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp:
3.2.1/ Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định (hay VCĐ)
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng nguyên giá TSCĐ đem lại mấy đồng doanh thu
thuần
Tỷ suất hao phí của TSCĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra đợc 1 đồng doanh thu thì doanh nghiệp cần
tiêu hao hết bao nhiêu dòng nguyên giá tài sản cố định. Chỉ tiêu này tính ra càng
nhỏ càng tốt.
Tỷ suất sinh lợi của TSCĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1đồng nguyên giá TSCĐ khi tham ra vào sản xuất
thì tạo ra đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt
3.2.2/ Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản l u động ( hay VLĐ ):
Khả năng sinh lợi của TSCĐ (VLĐ) =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1đồng vốn lu động khi tham gia vào sản xuất thì tạo
đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này tính ra càng lớn càng tốt.
Tỷ suất hao phí của TSCĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thuần tạo ra trong kỳ tiêu hao bao
nhiêu đồng vốn lu động. Chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt.
Hiệu số luân chuyển VLĐ (HI) =
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay của vốn thực hiện đợc trong 1 kỳ phân tích
Hệ số đảm nhận của VLĐ (Hđ) =
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng doanh thu doanh nghiệp thu đợc trong kỳ thì
cần tiêu hao hết bao nhiêu đồng VLĐ. Chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt.
Hiệu suất sử dụng TSLĐ (VLĐ) =
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn lu động làm ra mấy đồng doanh thu thuần.
Kỳ luân chuyển bình quân (K1) =
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian cần thiết để vốn lu động thực hiện đợc 1vòng
quay. Chỉ tiêu này tính ra càng nhỏ càng tốt.
* Giai đoạn từ tháng 3 năm 1973 đến hết năm 1988:
Theo Quyết định số 53/QĐUB ngày 29/3/1973 của Uỷ ban hành chính thành
phố Hà Nội, xí nghiệp bánh mứt kẹo Hà Nội đợc tách thành hai xí nghiệp đó là xí
nghiệp bánh mứt kẹo trực thuộc Sở Thơng nghiệp Hà Nội và xí nghiệp kẹo Hà Nội
trực thuộc Sở Công Nghiệp Hà Nội. Nhiệm vụ chính của xí nghệp kẹo Hà Nội là
chuyên sản xuất các loại kẹo dạng cứng và dạng mềm. Sản lợng hàng năm đạt từ
1.000 - 1.300 tấn/năm. Só lợng cán bộ công nhân viên tính đến năm 1988 là 423
ngòi. Xí nghiệp đóng tại Dịch Vọng, Từ Liêm, Hà Nội. Do đây là thời kỳ bao cấp
nên nhà nớc đã cấp vốn, nguyên vật liệu và phân phối sản phẩm còn xí nghiệp chỉ
lo tổ chức sản xuất đảm bảo kế hoạch đợc giao.
1.1.2 Thời kỳ kinh tế thị tr òng (2 giai đoạn):
* Giai đoạn từ 1989 đến 1992:
Theo Quyết định số 169/QĐUB ngày1 tháng1 năm 1989 của UBND thành
phố Hà Nội: quyết định sát nhập xí nghiệp chế biến bột mì Nghĩa Đô thuộc Sở l-
ơng thực Hà Nội vào xí nghiệp keọ Hà nội, đồng thời đổi tên thành nhà máy kẹo
Hà Nội. Nhiệm vụ chính chuyên sản xuất các loại bánh kẹo với sản lợng hàng năm
15
đạt từ 1.500-2.000 tấn. Ngoài ra còn sản xuất các loại nớc ngọt và rợu nhẹ có ga
với sản lợng hàng năm 200.000 lít. Số lợng lao động là 1.087 ngời, đến năm 1992
tinh giảm biên chế theo chế độ 176/CP giảm 384 ngời. Nhà máy đóng ở thị trấn
Nghĩa Đô, T Liêm, Hà Nội. Giai đoạn này do không đợc nhà nớc bao cấp nên nhà
máy phải tự lập kế hoạch thu mua vật t, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
* Giai đoạn từ 1992 đến nay:
Theo thông báo số 1113/CNn ngày 12/11/1992 của Bộ Công Nghiệp Nhẹ và
Quyết định số 3128/QĐUB ngày 8/12/1992 của UBND thành phố Hà Nội về việc
thành lập công ty bánh kẹo Tràng An, là doanh nghiệp nhà nớc theo quyết định số
388/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trởng. Nhiệm vụ chính là sản xuất đa dạng các loại
bánh kẹo cung cấp cho thị trờng trong và thủ đô Hà Nội, sản lợng hàng năm đạt
2.000 - 2.500 tấn. Ngoài ra do yêu cầu của cơ chế thị trờng, công ty đợc bổ xung
thêm nhiệm vụ mở các chi nhánh, đại lý để tiêu thụ sản phẩm của công ty và các