Đánh giá thực trạng thu gom xử lý và xây dựng mô hình thực nghiệm xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật quy mô phòng thí nghiệm - Pdf 47

Đánh giá thực trạng thu gom xử lý và xây
dựng mô hình thực nghiệm xử lý bao bì thuốc
bảo vệ thực vật quy mô phòng thí nghiệm áp dụng tại Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội và
Tân Tiến, Văn Giang, Hưng Yên
Phạm Thị Bưởi
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85
02 Người hướng dẫn: PGS. TS. Trịnh Thị Thanh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Thực trạng thu gom, xử lí bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên các vùng sản
xuất rau tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội và Tân Tiến – Văn Giang – Hưng Yên.
Nghiên cứu mô hình xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên vùng sản xuất nông
nghiệp quy mô cấp xã bằng phương pháp sử dụng tác nhân oxy hóa mạnh và kiềm hóa
đảm bảo vệ sinh môi trường. Nghiên cứu sử dụng tác nhân oxy hóa (tác nhân
Fenton ) cho xử lý lượng thuốc BVTV tồn đọng còn bán dính trong bao bì . Nghiên
cứu sử dụng tác nhân kiềm hóa (tác nhân Ca (OH)2) cho xử lý lượng thuốc BVTV
tồn đọng còn
bám dính trên bao bì . Xây dưṇ g quy trình thu gom và xử lý bao b ì thuốc BVTV và
đề xuất cơ chế duy trì hoạt động thu gom.
Keywords: Bao bì; Thuốc bảo vệ thực vật; Xử lý ô nhiễm
Content
MỞ ĐẦU
Theo ước tính, lượng bao bì thuốc BVTV thường chiếm khoảng 14,86% so với lượng
thuốc tiêu thụ, như vậy mỗi năm chúng ta đã thải ra môi trường sản xuất khoảng 15.000
tấn bao bì các loại. Trước đây, phần lớn vỏ bao bì là chai thủy tinh nhưng gần đây đã
được thay thế bằng một phần lớn chai nhựa và các túi Polyethylen, đây là các chất
Polyethylen khó phân giải. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cho thấy,
lượng thuốc còn bám lại trên vỏ bao bì trung bình chiếm 1,85% tỷ trọng bao bì, như vậy
mỗi năm chúng ta đã đổ vào môi trường sản xuất khoảng trên 200 tấn thuốc BVTV.
Lượng thuốc này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, ô nhiễm
nguồn đất, nước và nhiễm bẩn nông sản (Nguyễn Trường Thành , 2007 [8]).

bảo vệ sinh môi trường.
- Nghiên cứu sử dụng tác nhân oxy hóa (tác nhân Fenton) cho xử lý lượng thuốc
BVTV tồn đọng còn bán dính trong bao bì.
- Nghiên cứu sử dụng tác nhân kiềm hóa (tác nhân Ca(OH)2) cho xử lý lượng thuốc
BVTV tồn đọng còn bám dính trên bao bì.
- Xây dưṇ g quy trình thu gom và xử lý bao bì thuố c BVTV và đề xuất cơ chế
duy trì hoạt động thu gom.

2


CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm của bao bì thuốc bảo vệ thực vật
1.1.1. Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc
được tổng hợp từ các chất hóa học, dùng để phòng, trừ dịch hại trên cây trồng, điều hòa sinh
trưởng thực vật, xua đuổi hoặc thu hút các loại sinh vật gây hại trên thực vật đến để tiêu diệt.
Theo thống kê của Cục BVTV, nếu trước năm 2003, lượng thuốc BVTV nhập khẩu vào Việt
Nam không bao giờ vượt quá con số 40.000 tấn/năm, nhưng kể từ năm 2004 đến nay đã tăng
gấp đôi, cá biệt kể từ năm 2008, lượng thuốc BVTV nhập khẩu lên tới hơn 100.000 tấn
(Vương Trường Giang và cs, 2011 [2]).
1.1.2. Hiện trạng thải bỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật
Tính đến năm 2009, trên địa bàn các tỉnh trong cả nước lượng bao bì thuốc cần xử lý đã lên
đến 69.640 tấn và còn tích lũy qua các năm.
1.1.3. Ảnh hưởng của bao bì thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và con người
- Gây ô nhiễm từ nguồn thuốc còn bám dính lại trên vỏ bao
- Gây ảnh hưởng đên sức khoẻ con người do bị xây xát, thương tích khi tiếp xúc với
bao bì đặc biệt là các dạng chai thuỷ tinh.
- Gây ô nhiễm môi trường từ các dạng bao, túi Polyethylen hay các chất hữu cơ khó
phân giải khác tích tụ lại.

1.3. Một số công nghệ đƣợc áp dụng xử lý bao bì thuố c BVTV tại Việt Nam
1.3.1. Công nghệ thiêu đốt
Hiện tại ở nước ta có một số công ty có hệ thống lò đốt đáp ứng đủ điều kiện đốt
thuốc bảo vệ thực vật an toàn như công ty xi măng Holcim tại Kiên Giang, Công ty Môi
trường Xanh tại Hải Dương.
1.3.2. Công nghệ Na-tech
Đây là phương pháp sử dụng Na kim loại để khử các thuốc Clor hữu cơ. Nghiên cứu là
sự phối hợp giữa Viện Hoá học và Viện Bảo vệ thực vật năm 2006 phương pháp Na-Tech đã
thu được kết quả bước đầu: Thuốc Endosulfan sau xử lý đã không còn ở dạng ban đầu.
1.3.3. Xử lý sinh học
Đây cũng là hướng cần nghiên cứu và ứng dụng ở nước ta. Trong các năm qua, một số
cơ quan nghiên cứu đã thử nghiệm sử dụng vi sinh vật đặc hiệu phân huỷ DDT. Song cho đến
nay chúng tôi chưa thấy có báo cáo kết quả nào có khả trong ứng dụng trong thực tiễn.
1.3.4. Chôn lấp
Ở nước ta, việc chôn lấp bao bì thuốc BVTV cũng đã được nghiên cứu ứng dụng ở
nhiều cấp độ khác nhau ở hầu khắp các địa phương. Song, hầu hết đây là giải pháp tình thế.
Phần nhiều là các bể xây xi măng chưa đảm bảo tiêu chuẩn chôn lấp thuốc BVTV (như ở
Viện BVTV, tỉnh Nghệ An,....). Hầu hết các bao bì thuốc chôn lấp này cần phải xử lý triệt để
bằng các phương pháp khác để tránh ô nhiễm ra môi trường (Nguyễn Trường Thành , 2007
[8]).
1.3.5. Công nghệ sử dụng tác nhân oxy hoá mạnh (tác nhân Fenton)
2+

Tác nhân Fenton (Fe + H2O2) là một trong các hệ oxy hoá mạnh nhất đang được
nghiên cứu và đưa vào ứng dụng để xử lý các hóa chất bảo vệ thực vật và rất có hiệu quả trên
nhiều loại hợp chất hữu cơ khác nhau trong đó có POPs.
1.3.6. Công nghệ sử dụng tác nhân kiềm hóa
Hầu hết các thuốc BVTV đều có tính axit, tan mạnh trong nước. Sử dụng tác nhân
Ca(OH)2 sẽ xảy ra phản ứng trao đổi nhóm thuỷ phân trong một số thuốc được thay thế bằng
OH và độ độc có thể giảm đi nhiều.

ống đong lấy chính xác 100ml dung dịch thuốc từ thùng chứa dung dịch mẫu đã được khuấy
trộn vào các cốc, điều chỉnh pH bằng 3 [29], nhiệt độ môi trường ở điều kiện thường. Lấy
2+
chính xác lượng dung dịch Fe và H2O2 đã được chuẩn bị theo công thức thí nghiệm (bảng
2.1), mẫu CT1.6 là mẫu đối chứng. Dùng máy khuấy từ khuấy liên tục trong vòng 30 phút.
Các mẫu được lấy để phân tích dư lượng thuốc BVTV trước và sau khi tiến hành thí nghiệm 6
giờ.
Thí nghiệm 1.2 xác định tỉ lệ tác nhân Fenton và nồng độ thuốc BVTV
Tiến hành thí nghiệm như phần trên, sử dụng tỉ lệ

CFe 2: CH

tối ưu. Các cốc thủy tinh

2O2

đánh số từ CT1.7 đến CT1.12, mẫu CT1.12 là mẫu đối chứng.
Mô tả thí nghiệm: Chuẩn bị 06 cốc thủy tinh 200ml đánh số từ CT1.6 đến CT1.10,
dùng ống đong lấy chính xác 100ml dung dịch thuốc từ thùng chứa mẫu đã được khuấy trộn
vào các cốc, điều chỉnh pH bằng 3 [29], nhiệt độ môi trường ở điều kiện thường. Lấy chính
2+
xác lượng dung dịch Fe và H2O2 (tác nhân Fenton) đã được chuẩn bị theo bảng công thức thí
nghiệm (bảng 2.2), sử dụng tỷ lệ CFe 2 : CH 2O2 tối ưu trên thí nghiệm 1.1. Dùng máy khuấy
từ


khuấy liên tục trong vòng 30 phút. Theo dõi thí nghiệm và lấy mẫu trong vòng 72 giờ. Tiến


hành lấy mẫu phân tích trước và sau phản ứng 6; 24; 72 giờ.

GCMS, HPLC.
2.2.4. Phương pháp đánh giá xử lý số liệu
Dựa vào kết quả điều tra khảo sát thực địa và kết quả phân tích mẫu số liệu được xử lý
trên máy tính và được tính toán trên phần mềm excel, GCMS Solution, HPLC Empower pro.


CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả khảo sát thực trạng thu gom, xử lí bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên các
vùng sản xuất rau của Đặng Xá– Gia Lâm – Hà Nội và Tân Tiến – Văn Giang – Hƣng
Yên
3.1.1. Kết quả khảo sát tình hình sử dụng thuốc BVTV tại các vùng nghiên cứu
Đặng Xá diện tích nông nghiệp là 321,06 ha mỗi năm sử dụng khoảng 6000kg thuốc
BVTV. Tân Tiến với diện tích sản xuất nông nghiệp là 659,58 ha mỗi năm sử dụng trên
12000kg thuốc BVTV. Tổng lượng thuốc sử dụng của hai xã mỗi năm theo ước tính là trên
18000kg, tương ứng với lượng bao bì khoảng gần 3000kg.
3.1.2. Kết quả khảo sát tình hình thải bỏ bao bì thuốc BVTV tại các vùng nghiên cứu
Tại Đặng Xá, cùng với việc đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp thì vấn đề sử dụng
thuốc BVTV và các chất thải từ quá trình sản xuất cũng rất được quan tâm. Đặc biệt trong
năm 2008 qua được sự hỗ trợ của FAO và chi cục BVTV Hà Nội đã xây 13 bể chứa thuốc bảo
vệ thực vật cho nông dân có nơi để bao bì, vỏ thuốc tập trung nhằm hạn chế ô nhiễm nguồn
nước và môi trường sinh thái, nhưng chúng chưa có nắp đậy, chưa tuân thủ các yêu cầu về
cách ly an toàn. Một vấn đề đặt ra là chưa có hướng xử lý hiệu quả nào cho loại rác thải này.
Tại Tân Tiến, mặc dù đang được đầu tư mạnh mẽ song nền sản xuất nông nghiệp tại
đây chưa được quy hoạch chi tiết, sản xuất vẫn theo hướng tự phát nhỏ lẻ và chưa được đầu tư
đồng bộ. Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất cũng tuân theo quy luật của sản xuất mà
chưa có biện pháp quản lý nào do vậy các chất thải từ quá trình sản xuất cũng như bao bì
thuốc BVTV chưa được thu gom đúng quy cách mà chủ yếu thải bỏ trực tiếp tại đầu thửa
ruộng hoặc mương nước tưới.
3.1.3. Kết quả khảo sát tồn dư thuốc BVTV trong bao bì tại vùng nghiên cứu
Tiến hành thu thập mẫu tại các vùng điều tra và đưa về phân tích tại Trung tâm phân


Thu thập mẫu trên diện tích 3ha xen canh
rau và cây ăn quả tại Thôn Đa Ngưu – Tân 3887,20
Tiến – Văn Giang

MV3

Thu thập mẫu trên diện tích 3ha chuyên
canh rau tại Thôn Phượng Trì – Tân Tiến – 4880,53
Văn Giang

MV4

Thu thập mẫu trên diện tích 3ha chuyên
canh rau tại Hoàng Long – Đặng Xá – Gia 3624,10
Lâm


5

6

MV5

Thu thập mẫu trên diện tích 3ha chuyên
canh rau tại Đổng Xuyên – Đặng Xá – Gia 4050,60
Lâm

MV6


Về kinh phí
3.2. Kết quả thực nghiệm xử lý bao bì thuốc BVTV quy mô phòng thí nghiệm
Tiến hành chuẩn bị dung dịch mẫu cho thí nghiệm như ở phần 2.2.3, phân tích dung
dịch mẫu trước xử lý và bao bì thuốc BVTV sau khi được rửa sạch thu được kết quả như bảng
3.5:
Bảng 3.5: Dư lượng thuốc BVTV trên mẫu nước và bao bì sau xử lý
Loại mẫu

Tổng dƣ lƣợng thuốc BVTV (*) (ppm)

Mẫu nước trước xử lý

329,65


Mẫu bao bì sau khi được làm sạch

4,91

((*): Tổng cộng nồng độ các hoạt chất được thể hiện tại phụ lục 3.2)
Lượng thuốc BVTV trung bình trên bao bì thu gom tại các điểm lấy mẫu là khoảng
4000ppm, sau khi ngâm và rửa thì giảm xuống còn 4,91ppm, như vậy lượng thuốc tồn dư
trong bao bì đã giảm hơn 98%. Bao bì sau xử lý được xem là sạch thuốc BVTV.
3.2.1. Kết quả thí nghiệm oxy hóa tác nhân Fenton
a. Thí nghiệm 1.1: Kết quả xác định tỉ lệ C
Fe 2 : CH 2O2 tối ưu cho việc phân giải
BVTV.
thuốc
Theo phân tích mẫu được thu thập tại các vùng nghiên cứu, trung bình các hoạt chất
BVTV còn trên bao bì khoảng 0,5% khối lượng bao bì do vậy lượng thuốc còn lại trên bao bì

329,65
321,56
((*) Tổng cộng nồng độ các hoạt chất được thể hiện tại phụ lục 3.3)
Theo kết quả trong thí nghiệm khảo sát xác định tỷ lệ

CFeSO4.7 H 2O : CH 2O2 tối ưu cho quá

trình xử lý thuốc BVTV bằng phương pháp oxy hoá hoá học. Ta thấy công thức CT1.4 làm
giảm nồng độ thuốc xuống còn 55,45ppm và công thức CT1.5 làm giảm tỷ lệ thuốc xuống còn
54,39ppm (có giảm, nhưng không đáng kể). Tuy nhiên lượng FeSO4.7H2O tăng lên lớn (bước
nhảy của lượng FeSO4.7H2O lớn). Để tiết kiệm chi phí xử lý và tránh ô nhiễm thứ cấp ta
chọn tỷ lệ CFeSO4.7 H 2O : CH 2O2 như ở CT1.4.
b.

Thí nghiệm 1.2: Xác định tỉ lệ ( CFeSO4.7 H 2O : CH 2O2 ) : Cthuốc BVTV
Từ kết quả của thí nghiệm (a) ta lựa chọn tỷ lệ CFeSO4.7 H 2O : CH

là 1: 2,5 như ở công

2O2

thức CT1.4.
Bố trí thí nghiệm như ở phần trên ta được kết quả như sau:
Bảng 3. 7 : Kết quả phân tích mẫu theo thời gian trong thí nghiệm 1.2


Công
thức

Tổng dƣ lƣợng thuốc BVTV (ppm)

CT1.10
329,65
2,67
99,19
27,63
6,75
CT1.11
329,65
2,18
99,34
CT1.12
327,15
312,57
300,12
329,65
8,94
((*) Tổng cộng nồng độ các hoạt chất được thể hiện tại phụ lục 3.2;3.4; 3.5; 3.6)
Nhận xét: Theo kết quả phân tích nồng độ thuốc BVTV giảm rất nhanh sau 6 giờ thí
nghiệm, nguyên nhân là do phản ứng Fenton xảy ra rất nhanh. Theo thời gian nồng độ thuốc
tiếp tục giảm xuống, có thể do tác dụng xúc tác của oxy không khí và phản ứng quang hóa.
Nồng độ của thuốc BVTV tiếp tục giảm trong tất cả các công thức thí nghiệm, tuy nhiên do
chất oxy hóa không đủ lên tại công thức CT1.7 nồng độ thuốc chỉ giảm tới 49,84 ppm, CT1.8
giảm xuống còn 31,54 ppm, hiệu xuất xử lý chỉ đạt 90%. Tại các công thức CT1.9, CT1.10,
CT1.11 hiệu xuất của quá trình xử lý đều đạt trên 99%. Nồng độ thuốc BVTV tại các công
thức này giảm đáng kể so với mẫu đối chứng (mẫu đối chứng giảm không đáng kể), có thể kết
luận phương pháp oxy hóa Fenton rất phù hợp cho xử lý tồn dư thuốc BVTV trên bao bì
thuốc. Tuy nhiên, với tỷ lệ ( CFeSO4.7 H 2O : CH 2O2 ) : Cthuốc BVTV là 2,5:1 và 3:1 như ở CT1.10 và
2+
CT1.11 tuy lượng Fe và H2O2 tăng lên rất lớn song nồng độ thuốc BVTV giảm đi không
đáng kể so với dùng tỷ lệ ( CFeSO4.7 H 2O : CH 2O2 ): Cthuốc BVTV tại CT1.9, do vậy lựa chọn tỷ lệ

63,7

CT2.2

329,65

175,06

104,88

78,95

76,0

CT2.3

329,65

169,03

71,68

43,51

86,8

CT2.4

329,65


8,4

((*) Tổng cộng nồng độ các hoạt chất được thể hiện tại phụ lục 3.2; 3.7; 3.8; 3.9)
Theo kết quả trên nồng độ thuốc BVTV giảm dần theo thời gian, giảm mạnh nhất


trong 24 giờ thí nghiệm, quan sát thí nghiệm thấy rằng sau khi khấy đều Ca(OH)2 vào dung
dịch thuốc có xuất hiện dạng kết bông, các bông này lắng xuống cùng Ca(OH)2. Sau 72 giờ
nồng độ thuốc BVTV trong công thức CT2.4 giảm xuống thấp nhất (40,62 ppm), hiệu suất xử
lý cao nhất đạt 87,68%.
Bảng 3.9: So sánh hiệu suất xử lý của thí nghiệm 1.2 và 2 sau 72 giờ.
Thí nghiệm 1.2
Công thức

Thí nghiệm 2
Hiệu suất xử lý sau 72
Công thức
giờ (%)

Hiệu suất xử lý
sau 72 giờ (%)

CT1.7
CT2.1
84,8
63,7
CT1.8
CT2.2
90,4
76,0

Dưới đây là mô phỏng thiết kế bể lưu chứa và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật mà
chúng tôi muốn đề xuất.


Thiết kế bể xử lý
BỂ XỬ LÝ

Mực nước
ngâm

Van cấp

Phên
nén

Nắp đậy
0,4
m
0,4m
1m

Đáy bể
chứa
ngâm

Van xả

1m
3




dụng giấy quỳ để kiểm tra), thêm vào bể 0,02 kg FeSO4.7H2O/1kg bao bì và 0,08 lít H2O2/1kg
bao bì vào bể xử lý, khuấy liên tục trong 30 phút, theo dõi thí nghiệm trong 72 giờ tiếp theo.
Nước sau xử lý được lưu trong bể để xử lý mẻ bao bì sau (tuần hoàn nước). Quá trình xử lý sẽ
được Hợp tác xã giám sát chặt chẽ, đảm bảo bao bì được xử lý theo đúng quy trình kỹ thuật
đã được chuyển giao.
d. Tiêu huỷ bao bì sau xử lý
Bao bì thuốc BVTV sau khi được thu gom và xử lí sạch phần thuốc còn bán dính, ta
tiến hành phân loại ra làm 2 loại (vỏ chai thủy tinh; vỏ chai nhựa và vỏ bằng túi polyethylene)
- Đối với vỏ bao bì bằng túi polyethylene và chai nhựa: Do đây là dạng bao bì rất khó phân
hủy nên ta tiến hành đóng rắn rồi đem chôn lấp, hoặc nghiền nhỏ phối chộn cùng với xi măng
để đóng gạch, loại gạch này ta có thể sử dụng trong công việc kè hệ thống kênh mương hoặc
đường xá.
- Đối với bao bì bằng thủy tinh: Bán lại cho các đơn vị sản xuất thuốc BVTV để sử dụng đóng
gói cho các sản phẩm sau, hoặc chuyển đến các nhà máy chế biến thủy tinh để tái chế lại.
(các sản phẩm bao bì từ nguyên liệu tái chế, chỉ nên dùng cho việc đóng gói các loại thuốc
BVTV).
Ưu điểm: Xử lý tập trung, có thể áp dụng cho nền sản xuất nhỏ, phân tán.


Sơ đồ 1: Sơ đồ mô hình thu gom và xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật
MÔ HÌNH THU GOM VÀ XỬ LÝ BAO BÌ THUỐC BVTV
Bao bì thuốc BVTV

Trách nhiệm thu
gom của người
nông dân

Bể thu gom

phải mà người dân có thể chấp nhận được).
(2) Quản lý, giám sát người thu gom, xử lý và phân loại bao bì.
(3) Trả lương cho người thu gom, xử lý và phân loại bao bì.
(4) Giám sát vật tư tiêu hao như: bảo hộ lao động, xe thu gom, dụng cụ lao động, túi
lưới…


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Với mục tiêu ban đầu đặt ra cho luận văn là xác định thực trạng tình hình thu gom, xử
lí bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên các vùng sản xuất rau tại Hà Nội và Hưng Yên và nghiên
cứu mô hình xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên vùng sản xuất rau quy mô cấp xã bằng
phương pháp sử dụng tác nhân oxy hóa mạnh và kiềm hóa đảm bảo vệ sinh môi trường
nghiên cứu thu được một số kết quả chính như sau:
1. Xử lý bao bì thuốc BVTV bằng phương pháp oxy hóa với xúc tác Fenton. Tiến hành
thí nghiệm 1.1 xác định được tỷ lệ CFe2+ : CH2O2 tối ưu là 1: 2,5. Áp dụng tỷ lệ CFe2+ : CH2O2
tối ưu là 1: 2,5 để tiến hành thí nghiệm 1.2 xác định được tỷ lệ (CFe+:CH2O2) : Cthuốc BVTV bằng
2:1 là tỷ lệ phù hợp của phản ứng Fenton trong xử lý thuốc BVTV và sau thời gian 72 giờ
hiệu suất xử lý đạt 99%.
2. Xử lý bao bì thuốc BVTV bằng phương pháp kiềm hóa sử dụng tác nhân Ca(OH)2
Nồng độ thuốc BVTV giảm dần theo thời gian, giảm mạnh nhất trong 24 giờ. Sau 72 giờ
nồng độ thuốc BVTV trong công thức CT2.4 giảm xuống thấp nhất, hiệu suất đạt 87%.
3. So sánh kết quả của hai thí nghiệm 1.2 và thí nghiệm 2 trong vòng 72 giờ thấy rằng thí
nghiệm 1.2 xử lý bao bì thuốc BVTV bằng phản ứng oxy hóa với xúc tác Fenton cho hiệu
suất xử lý cao hơn (99%). Do vậy áp dụng phương pháp xử lý oxy hóa tác nhân fenton cho xử
lý bao bì thuốc BVTV.
4. Quy trình xử lý bao bì thuốc BVTV áp dụng cho quy mô cấp xã được xây dựng như
sau: Bao bì thuốc bảo vệ thực vật được thu gom vào bể thu gom, sau đó tiến hành xử lý tồn
dư thuốc bảo vệ thực vật bằng phương pháp oxy hóa tác nhân Fenton, bao bì sau xử lý được
phân loại, bao bì làm từ nhựa và polyethylene được đem đóng rắn, chai lọ thủy tinh được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status