Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Gia Lai - Pdf 33

Chương 1
GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Tính cần thiết của đề tài
Tại Gia Lai hiện nay ô nhiễm môi trường đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực với mức
độ khác nhau trong đó có y tế. Có thể nói ô nhiễm trong ngành Y Tế đang diễn ra khá
trầm trọng mà nổi bật là ở các bệnh viện.
Mạng lưới y tế ngày càng phát triển đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của
nhân dân bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặt biệt là trong vấn
đề quản lý rác thải y tế.
Rác thải y tế bao gồm chất thải nguy hại như: kim tiêm, găng tay, cao su, bông,
băng thấm dịch hoặc máu, các loại thuốc quá hạn, bệnh phẩm và rác thải phóng xạ. Tuy
chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp nhưng chất thải
rắn y tế và bệnh phẩm lại có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây truyền dịch bệnh,
ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân nếu không được xử lý đúng mức.
Do chất thải bệnh viện ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng nên công tác thu
gom và xử lý phải triệt để.
Nhưng, hiện nay khâu quản lý rác thải của các cơ sở y tế còn hết sức lỏng lẻo.
Hầu hết rác thải y tế, các bệnh phẩm chưa được phân loại theo đúng chuẩn loại, chưa
được khử khuẩn trước khi thải bỏ, không có nhà lưu chứa hoặc có nhưng không đúng
tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Đề tài tập trung vào 2 vấn đề chính:
− Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn tại một số bệnh viện trên địa
bàn tỉnh Gia Lai.
− Đề xuất các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn bệnh viện phù hợp với
điều kiện tỉnh.
1.3. Nội dung đề tài
Để đạt được những mục tiêu trên, nội dung đề tài bao gồm:
− Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh.
− Khảo sát thực tế tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh.

TỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI Y TẾ
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT THẢI Y TẾ
2.1.1. Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
2.1.1.1.Các định nghĩa
a/ Chất thải y tế
Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các
dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác
phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học.
Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí.
Chất thải y tế thường bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đối
với môi trường sức khoẻ giống như các chất thải thông thường khác.
b/ Chất thải nguy hại
Là chất thải có chứa các chất hoặc hoá chất có một trong các đặc tính gây nguy
hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lây nhiễm với các đặc tính
nguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ
con người.
Do có các đặc tính và tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ mà các
loại chất thải y tế nguy hại đòi hỏi phải được thu gom, phân lập và tiêu huỷ theo những
qui trình đặc biệt và đảm bảo an toàn có áp dụng các công nghệ phức tạp và thường là
tốn kém để tránh thoát thải ra môi trường bên ngoài.
c/ Chất thải y tế nguy hại
Là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các
bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược
phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế. Nếu những chất này không được
huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người.
d/ Quản lý chất thải y tế nguy hại
Là các hoạt động kiểm soát chất thải trong suốt quá trình từ khi chất thải phát
sinh đến xử lý bắt đầu từ khâu thu gom, vận chuyển, lưu trữ và tiêu huỷ chất thải y tế
nguy hại.
e/ Thu gom

quốc. Các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu thuộc ngành y tế được tổ chức phân bố theo 4
cấp:
 Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y Tế
 Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh.
 Các cơ sở y tế tuyến huyện.
 Các cơ sở y tế tuyến xã và tương đương.
Trong đó, qui mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện, tuyến tỉnh
gọi là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến Trung Ương. Đa số các
bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số bệnh viện chuyên khoa.
Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giường bệnh, thường xuyên hoạt động khám
chữa bệnh và cũng thường xuyên phát thải chất thải rắn y tế.
Một số ngành khác cũng có cơ sở y tế từ tuyến cơ sở cho tới tuyến chuyên khoa
như Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An có hẳn một hệ thống y tế từ tuyến Trung Ương tới cơ
4
sở hoặc một số ngành có bệnh viện riêng như: Bưu Chính Viễn Thông, Giao Thông Vận
Tải, Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.
Trong cách xác định trên đây còn chưa đánh giá được nguồn và số lượng thải tại
các trạm y tế xã, phòng mạch tư nhân và các hoạt động từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu
sinh học.
Dưới đây là một số tài liệu đã công bố số lượng phát thải chất thải rắn y tế mỗi
giường bệnh/ngày, tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại, tải lượng chung toàn quốc.
Bảng 2.1: Lượng chất thải rắn y tế trung bình trên giường bệnh/ngày.
ST
T
Nguồn Năm kg/GB/ngày
1
Phạm Thị Ngọc Bích, Phạm Ngọc Châu. Kinh nghiệm
bước đầu xử lý chất thải tại một số bệnh viện cấp tỉnh ở
Việt Nam, hội thảo Việt Nam – Thuỵ Điển.
1996 2,27

5
Từ cơ sở dữ liệu lượng chất thải y tế trung bình giường bệnh ngày, tỷ lệ chất thải
y tế nguy hại trong tổng số chung và số lượng giường bệnh tại các cơ sở y tế từ tuyến
huyện trở lên và tương đương có thể xác định được tổng lượng chất thải y tế nguy hại
phải xử lý theo địa bàn và theo khu vực cho mỗi bệnh viện.(Xem phụ luc 2).
Tính chung cho toàn quốc, lượng chất thải từ các hoạt động dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ, dịch vụ y tế là:
 Chất thải rắn y tế chung: 252 tấn/ngày
 Chất thải rắn y tế nguy hại: 50 tấn/ngày
Trong đó 2 thành phố có tải lượng lớn nhất là:
 Tp Hồ Chí Minh: 31,3 tấn chất thải rắn y tế chung, trong đó có 6,2 tấn chất
thải rắn y tế nguy hại
 Tp Hà Nội: 26,5 tấn chất thải rắn y tế chung, trong đó có 5,3 tấn chất thải rắn
y tế nguy hại
2.1.2. Khuynh hướng phát thải chất thải y tế
a/ Đối với chất thải y tế chung
Tổng lượng chất thải y tế chung ít biến đổi do tổng số giường bệnh tương đối ổn
định. Mặc dù có sự gia tăng số giường bệnh của các bệnh viện tuyến huyện trở lên trong
các giai đoạn từ 1995 tới nay nhưng số giường bệnh tại các cơ sở y tế khác như trạm y
tế cơ quan, điều dưỡng lại giảm.
b/ Chất thải y tế nguy hại
Tuy tổng thải chung chất thải y tế tăng ít hoặc chỉ tăng nhẹ, nhưng lượng chất
thải y tế nguy hại phải xử lý đặc biệt lại gia tăng lên theo thời gian do 2 xu thế sau:
 Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần như kim bơm tiêm, đè lưỡi,
găng tay phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lưu, bông băng, vải trải phẫu
thuật, quần áo phẫu thuật .v.v.
 Tăng số lượng các giường bệnh ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tương
đương trở lên.
 Ngày càng ứng dụng nhiều hơn các kỹ thuật cao trong tất cả các khâu từ
khám bệnh, xét nghiệm, chuẩn đoán và điều trị.

Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hoá trị liệu và
nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm
các đồng vị phóng xạ.
c/ Nhóm chất thải hoá học
Chất thải hoá học bao gồm các hoá chất có thể không gây nguy hại như đường,
axit béo, axít amin, một số loại muối v.v. và hoá chất nguy hại như phóc-man-đê-hít,
hoá chất quang học, các dung môi, hoá chất dùng để diệt khuẩn y tế và dung dịch làm
sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng, tẩy uế, thanh trùng v.v.
d/ Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO
2
bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần, v.v. đa số các bình chứa khí
nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu huỷ đúng qui
cách.
e/ Nhóm chất thải sinh hoạt
7
Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ
các hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng gói bao gói, thức ăn còn thừa, thực
phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như các loại lá cây, hoa quả rụng v.v.
2.1.4. Khối lượng chất thải phát sinh
Khối lượng chất thải y tế không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý, mà còn
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:
 Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm hoạ đột xuất.
 Loại và qui mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa.
 Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và
ngoại trú.
 Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực.
 Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và
chăm sóc.
 Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân.

tuyến Trung Ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải chất thải rắn y tế cũng
dao động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ chất thải nguy hại.
Bảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh theo tuyến bệnh viện
Tuyến bệnh viện
Tổng lượng chất thải y tế
(kg/ giường bệnh /ngày)
Chất thải y tế nguy hại
(kg/ giường bệnh/ngày)
Bệnh viện Trung Ương 4,1-8,7 0,4-1,6
Bệnh viện tỉnh 2,1-4,2 0,2-1,1
Bệnh viện huyện 0,5-1,8 0,1-0,4
(Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải - 2004)
2.1.5. Thành phần chất thải rắn bệnh viện
Chất thải rắn y tế phát sinh trong bệnh viện chủ yếu là do các hoạt động chuyên
môn và phụ thuộc vào số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị (tỷ lệ sử dụng giường
bệnh) và còn một lượng chất thải sinh hoạt từ nhân viên y tế trong bệnh viện. Đối với
các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có mặt một số lượng đáng kể người nhà bệnh
nhân, người thăm nuôi, một vài dịch vụ khác như nhà hàng ăn uống, sách báo v.v. mà số
lượng người vãng lai này khá lớn nhiều khi tương đương với số bệnh nhân nằm viện.
Chính hiện trạng này làm cho khối lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng
lên, đặc điểm thành phần chất thải bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ khối
lượng chất thải rắn sinh hoạt). Kết quả này dẫn tới sự quá tải hệ thống thu gom và xử lý
chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh. Sự quá tải này cũng là nguyên nhân
dẫn đến quản lý, thu gom và phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủ các
qui định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại có thể
bị lẫn vô chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trở thành nguồn gây ô
nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và sức khoẻ.
9
Bảng 2.7: Đặc điểm, thành phần chất thải rắn y tế bệnh viện
ST

c/ Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những ngưới có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người làm
nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm
chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong các khu quản lý và kiểm soát chất
thải.
10
Dưới đây là những nhóm đối tượng chính có nguy cơ cao đối với tác hại của chất
thải y tế:
 Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, những người
thực hiện các thủ thuật xâm lấn, tiêm, thay băng, v.v.
 Những người thực hiện nhiệm vụ phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải
y tế từ ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện.
 Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc bệnh nhân ngoại trú.
 Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân, người thăm nuôi.
 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục vụ cho
các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận
chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế.
 Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại bãi đổ rác thải, các
lò đốt rác) và những người bới rác, thu rác.
Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ dịch vụ cơ sở y tế tư nhân, qui mô lẻ, nằm rải
rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khoẻ do nguồn chất
thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới. Đôi khi, ngay cả những tủ thuốc
gia đình hoặc một số tế nạn xã hội như tiêm chích ma tuý cũng là nguồn phát sinh chất
thải y tế nguy hại có tiềm năng gây rủi ro cao về môi trường và sức khoẻ.
 Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn:
Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựng một lượng
rất lớn bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan
B. Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua các hình thức sau:
 Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọn gây

là một thành phần quan trọng nhất của loại chất thải sắc nhọn và là mối nguy hiểm đặc
biệt bởi chúng thường bị dính máu bệnh nhân.
Bảng 2.8: Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại chất
thải y tế, các loại sinh vật gây bệnh và phương thức lây truyền
Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh
Dạng chất
thải y tế
Nhiễm khuẩn tiêu hoá
Nhóm enterobacteri: salmonella, shigella spp,
vibrio cholerac, các loại giun sán.
Phân hoặc
chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Vk lao, virus sởi, streptococcus pneumoniac.
Các loại dịch
tiết, đờm
Nhiễm khuẩn mắt Virus herpes
Dịch tiết của
mắt
Nhiễm khuẩn sinh dục Neiserreria gonorrhoeac, virus herpes.
Dịch tiết sinh
dục
Nhiễm khuẩn da Streptococcus spp Mủ
Bệnh than Bacillus antharacis.
Chất tiết của
da (mồ hôi,
chất nhờn)
Viêm màng não Não mô cầu (neisseria meningitides) Dịch não tuỷ
AIDS HIV
Máu, chất tiết
sinh dục

Các hoá chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm chất
thải y tế dạng hoá chất. Chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là
những chất ăn mòn. Cũng cần phải lưu ý rằng đây cũng là loại hóa chất gây phản ứng và
cũng có thể tạo nên các dạng hỗn hợp thứ cấp có tính độc cao.
Các loại hoá chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉ hoặc túi
rách thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của bất cứ ai tới gần
và tiếp xúc chúng.
Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn trùng bị rò rỉ có thể thấm sâu vô
đất và tiếp theo gây ô nhiễm nước ngầm. Sự nhiễm độc có thể xảy ra do tiếp xúc trực
tiếp với sản phẩm hoá chất, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải nước hoặc thức ăn đã
bị nhiễm độc. Các mối nguy cơ khác có thể là khả năng dẫn đến các vụ hoả hoạn hoặc
gây ô nhiễm do việc xử lý chất thải không đúng cách chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc
chôn lấp.
Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây nên bất
lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất là hệ thống xử lý công nghệ phân
huỷ sinh học) hoặc gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên tiếp nhận nguồn
nước này. Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể xảy ra do sản phẩm của quá trình
bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác, do các kim loại
nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các hoá chất khử trùng và tẩy uế.
 Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào
13

Trích đoạn Lưu trữ, vận chuyển chất thải tới nơi tiêu hủy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status