I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH MIN
BảO Vệ QUYềN CủA NGƯờI LAO ĐộNG KHI VIệT
NAM
GIA NHậP CáC HIệP ĐịNH THƯƠNG MạI Tự DO
THế Hệ MớI
LUN VN THC S LUT HC
HÀ NỘI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH MIN
BảO Vệ QUYềN CủA NGƯờI LAO ĐộNG KHI VIệT
NAM
GIA NHậP CáC HIệP ĐịNH THƯƠNG MạI Tự DO
THế Hệ MớI
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS Lờ Th Hoi Thu
Khái quát chung về quyền của người lao động........................................7
1.1.1.
Khái niệm quyền của người lao động.......................................................7
1.1.2.
Đặc điểm quyền của người lao động.........................................................9
1.1.3.
Các quyền cơ bản của người lao động....................................................11
1.2.
Điều chỉnh pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động...................18
1.2.1.
Khái niệm bảo vệ quyền của người lao động.........................................18
1.2.2.
Nguyên tắc bảo vệ quyền của người lao động........................................19
1.2.3.
Các biện pháp bảo vệ quyền của người lao động...................................21
Bảo vệ quyền tự do liên kết, thương lượng tập thể.....................................41
2.2.2.
Bảo vệ quyền việc làm của người lao động................................................49
2.2.3.
Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động..............................................52
2.2.4.
Bảo vệ quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống của người lao động...........57
2.2.5.
Bảo vệ quyền bình đẳng của người lao động di trú....................................60
2.2.6.
Các biện pháp bảo vệ quyền của người lao động...................................64
2.3.
Đánh giá thực trạng bảo vệ quyền của người lao động khi Việt
Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới..................69
2.3.1.
...................................................................................................................79
3.1.3.
Các quy định pháp luật bảo vệ quyền của người lao động phải phù
hợp với thông lệ quốc tế.............................................................................80
3.2.
Một số kiến nghị.......................................................................................81
3.2.1.
Về các quy định của pháp luật lao động.....................................................81
3.2.2.
Về tổ chức thực hiện..................................................................................88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3......................................................................................94
KẾT LUẬN CHUNG.............................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................96
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AEC:
Cộng đồng Kinh tế ASEAN
BLLĐ:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay Việt Nam đang trên con đường phát triển, hội nhập sâu rộng với thế
giới, rất nhiều vấn đề được đặt ra với đất nước, trong đó có vấn đề quyền của người
lao động. Bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng phải được coi trọng trên
cơ sở người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
trong thương mại nên họ trước hết phải được hưởng lợi, chia sẻ thành quả của quá
trình này, cụ thể là được đảm bảo các quyền, lợi ích và điều kiện lao động cơ bản.
Pháp luật Việt Nam đã có những ghi nhận về quyền của người lao động trong các
văn bản pháp luật, đó là Hiến pháp 2013 và Bộ luật lao động 2012. Tuy nhiên, trước
bối cảnh Việt Nam đã, đang và sẽ gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự
do Việt Nam – EU (EVFTA), Các cam kết trong khuôn khổ Cộng động kinh tế
ASEAN (AEC), vấn đề bảo vệ quyền của người lao động lại được đặt ra một cách
cấp thiết.
Hiệp định TPP là một thỏa thuận thương mại tự do được kí kết ngày 02
tháng 2 năm 2016 giữa 12 quốc gia khu vực Thái Bình Dương, bao gồm: Mỹ,
Nhật Bản, Việt Nam, Australia, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Malaysia,
Peru, Mexico, Canada. Hiệp định này tác động đến mọi khía cạnh của thương mại
khu vực như vấn đề thuế quan, đầu tư, sở hữu trí tuệ… Trong đó vấn đề lao động
là một vấn đề quan trọng được đề cập tại Chương 19 của Hiệp định. Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) ký kết ngày 02 tháng 12 năm 2015
cũng đưa lao động vào là một nội dung quan trọng. Đây là hai FTA thế hệ mới
điển hình mà Việt Nam vừa ký kết. Ngoài ra, trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế
ASEAN có các cam kết, thỏa thuận, hiệp định liên quan đến lao động như Hiệp
định khung về Thương mại Dịch vụ ASEAN (AFAS), Hiệp định ASEAN về di
chuyển thể nhân (MNP), Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong một số lĩnh vực
ngành nghề, nhằm công nhận lẫn nhau bằng cấp, trình độ của lao động có kỹ năng
Vấn đề bảo vệ quyền của người lao động là nội dung lý luận và thực tiễn
được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Các nghiên cứu thường tập trung vào một khía cạnh cụ thể như bảo vệ quyền của
2
lao động nữ, bảo vệ quyền của lao động di trú hoặc nghiên cứu về một khía cạnh
quyền cụ thể như quyền nhân thân, quyền làm việc, hay quyền tự do hiệp hội như
sách chuyên khảo “Bảo đảm quyền con người trong pháp luật lao động Việt
Nam”của PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu. Một số công trình nghiên cứu như: Luận văn
thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động trong pháp luật lao
động ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoài Thương năm 2015; Luận văn thạc sĩ luật
học “Bảo vệ quyền của lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” của
Nguyễn Thị Giang năm 2015; Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền của người
lao động nữ trong các ngành nghề kinh doanh nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm từ
thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” của Sa Thị Hải Vân năm 2016, Khóa luận tốt
nghiệp ‘Các quy định về lao động trong một số hiệp định thương mại tự do thế hệ
mới mà Việt Nam là thành viên’ của Trần Thị Giang năm 2017…
Các công trình trình nghiên cứu đều đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau
của bảo vệ quyền của người lao động theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, gắn với
tình hình cụ thể là Việt Nam đang hội nhập với thương mại quốc tế, việc gia nhập
các FTA thế hệ mới là xu hướng bắt buộc để không nằm ngoài vòng phát triển. Do
vậy các FTA thế hệ mới đang là vấn đề nóng và nhận được nhiều quan tâm. Bên
cạnh các khía cạnh về thương mại, đầu tư như truyền thống, vấn đề được chú ý hơn
cả là các cam kết về lao động. Nội dung này đã được nghiên cứu khá nhiều, tuy
nhiên chủ yếu là các bài viết ngắn, nghiên cứu một số khía cạnh như trong sách
chuyên khảo “Ảnh hưởng của thương mại tự do đến nhân quyền” do PGS.TS Lê
Thị Hoài Thu – PGS.TS Vũ Công Giao đồng chủ biên năm 2016; bài viết trên tạp
chí như: “Hiệp định xuyên Thái Bình Dương, Cơ hội và thách thức đối với thị
Phương pháp biện chứng duy vật: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn
thiện các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền của người lao động cho phù hợp với các cam
kết trong FTA thế hệ mới hay các tiêu chuẩn được ILO quy định.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích cụ thể các cơ chế pháp lý bảo vệ
quyền của người lao động trong pháp luật Việt Nam hiện nay và thực tế thực thi
pháp luật đó. Kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng và so sánh để tổng hợp
lại những vấn đề pháp lý đặt ra và phương hướng hoàn thiện các cơ chế pháp lý khi
Việt Nam gia nhập các FTA thế hệ mới.
Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu các quy định của pháp luật Việt
Nam về bảo vệ quyền của người lao động và cam kết trong FTA thế hệ mới, cụ thể
4
là so sánh với các quy định của ILO trong các công ước về những quyền cơ bản của
người lao động tại nơi làm việc. Từ đó tìm ra các quy định đã phù hợp và những
điểm bất cập thiếu sót cần chỉnh sửa, bổ sung nhằm tạo ra cơ chế pháp lý thống
nhất, phù hợp bảo vệ quyền của người lao động.
Các phương pháp trên được áp dụng linh hợp, kết hợp với nhau. Đồng thời
trong quá trình nghiên cứu sẽ kết hợp cả lý thuyết và thực tế từ đó đánh giá, kết luận
được vấn đề đang nghiên cứu.
5. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền của
người lao động và thực trạng bảo vệ quyền của người lao động khi Việt Nam gia
nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Từ đó luận văn đề xuất một số
giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người lao động
trong bối cảnh Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
6. Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận văn làm rõ hơn những vấn đề lý luận về quyền của người lao
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. Khái quát chung về quyền của người lao động
1.1.1. Khái niệm quyền của người lao động
Người lao động, trước hết họ là con người, do đó có những quyền năng cơ
bản của một con người. Nhưng với vị trí to lớn tạo ra của cải vật chất của xã hội,
pháp luật quốc tế và quốc gia từ lâu đã luôn quan tâm đến những quyền lợi riêng
cho người lao động. Ở khía cạnh pháp lý, quyền là khả năng của chủ thể được
hưởng gì, được làm gì, yêu cầu gì và được ghi nhận trong pháp luật. Nói một cách
khác, quyền năng của chủ thể được nhà nước quy định trong các quy phạm pháp
luật và được đảm bảo bằng sức mạnh của nhà nước.
Trên phương diện lịch sử, các quyền về lao động bắt đầu xuất hiện và chịu
ảnh hưởng rõ ràng của quá trình công nghiệp hóa ở các nước phương Tây. Việc
pháp điển hóa quyền của người lao động cũng bắt đầu từ đây. Vào cuối thế kỷ
XIX, một số nước Châu Âu (Anh, Pháp, Đức…) có những cải cách phúc lợi cho
con người, bao gồm việc bảo vệ một số quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó có
quyền làm việc. Sang thế kỉ XX, Hiến pháp một số nước châu Mỹ như Mê-xi-cô,
Hoa Kỳ có quy định bảo vệ quyền con người trong đó có quyền của người lao
động [30, tr. 14].
Đối với các văn kiện quốc tế, quyền của người lao động được công nhận toàn
cầu và đạt được những bước tiến trong nội dung pháp lý, cơ chế và phương pháp
thực hiện qua Tuyên ngôn quyền con người năm 1948 (UDHR): “Quyền của người
lao động phải được đảm bảo như quyền con người”. Sau tuyên ngôn này là hai
Công ước cụ thể hóa gồm Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và
Công ước về kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) năm 1966. Hai công ước này ra
đời đánh dấu các quyền của con người nói chung và người lao động nói riêng thực
sự được công nhận mang tính toàn diện trên phạm vi quốc tế.
7
8
Như vậy, quyền của người lao động là những quyền nhất định khi tham
gia vào quan hệ lao động. Có thể hiểu quyền của người lao động là năng lực
pháp lý của người lao động được làm những gì pháp luật cho phép trong quan hệ
lao động, với mục đích thỏa mãn những yêu cầu, đòi hỏi của mình và được pháp
luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Quyền của người lao
động chính là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều
kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt
động công đoàn, an sinh xã hội.
Quyền của người lao động được ghi nhận trong các văn bản quốc tế và trong
pháp luật các quốc gia đã tạo ra một hệ thống pháp lý bảo vệ quyền của người lao
động cũng như nghĩa vụ pháp lý mà các quốc gia phải thực hiện để đảm bảo mọi
người lao động trong nước đều được hưởng những quyền cơ bản trong lao động.
1.1.2. Đặc điểm quyền của người lao động
Thứ nhất, quyền của người lao động là một bộ phận của hệ thống quyền con
người, thuộc về phạm trù các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 đã đề cập đến các quyền và tự
do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ, màu da, dân tộc… tất
cả con người đều không có sự phân biệt đối xử nào. Các quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa trong đó có quyền về lao động bao gồm: quyền được đảm bảo an sinh xã
hội; quyền làm việc và quyền được trả lương ngang nhau cho những công việc như
nhau; được trả lương xứng đáng và hợp lý để đảm bảo cho một cuộc sống có giá trị
như một con người; được thành lập hoặc gia nhập công đoàn; quyền nghỉ ngơi, giải
trí. Hai công ước ICESCR và ICCPR có quy định các quyền về lao động như quyền
được làm việc, quyền được hưởng các điều kiện lao động thích đáng và thuận lợi;
quyền được thành lập và gia nhập công đoàn; quyền được an sinh xã hội bao gồm
cả bảo hiểm xã hội. Các văn bản này đã ghi nhận những quyền cơ bản, những
trong tay quyền quản lý, điều hành và chi phối người lao động. Nếu không có
những quy định để bảo vệ các quyền của người lao động thì người sử dụng lao động
với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ cắt giảm tối đa các chế độ, điều kiện làm việc
với người lao động. Chính vì thế, quyền của người lao động phải được ưu tiên bảo
vệ cả về mặt pháp lý và thực tiễn.
Thứ ba, quyền của người lao động là công cụ điều tiết mối quan hệ giữa các
quốc gia trong lĩnh vực lao động
10
Ở khía cạnh pháp lý quốc tế, quyền của người lao động là một công cụ hữu
hiệu để điều tiết mối quan hệ giữa các quốc gia trong lĩnh vực lao động. Giữa các
quốc gia, do khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội mà điều kiện lao động, năng
suất và chất lượng lao động sẽ khác nhau. Ngay bản thân từng người lao động cũng
khác nhau về khả năng lao động, trình độ và năng suất lao động. Tuy nhiên, dù có
sự khác nhau giữa từng người lao động và giữa các quốc gia thì việc được đảm bảo
những quyền cơ bản như thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn; được đảm bảo
điều kiện vệ sinh, an toàn lao động; được trả lương công bằng; không bị cưỡng
bức… phải là quyền của mỗi một người lao động. Chính vì vậy, sự điều tiết quốc tế
về lao động sẽ rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia và tạo nên những đảm bảo
cơ bản về quyền cho mọi người lao động. Sự ra đời của các công ước hay các tổ
chức quốc tế về lao động cũng như sự tham gia của các quốc gia đã tạo ra những
tiêu chuẩn quốc tế cơ bản và những thay đổi ở các quốc gia trong vấn đề bảo vệ
quyền của người lao động.
1.1.3. Các quyền cơ bản của người lao động
Một là, quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể
Quyền tự do liên kết hay quyền công đoàn là một quyền cơ bản và rất quan
trọng với người lao động, là một trong những nội dung của quyền con người. Công
đoàn, về lịch sử là sự phản ánh mâu thuẫn và cuộc đấu tranh về lợi ích và quyền
của mình”. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) ghi
nhận tại Điều 22 Khoản 1: “Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người
khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. Tại
Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ICESCR 1966 đã
khẳng định quyền công đoàn và cụ thể hóa như sau: “1. Các quốc gia thành viên
Công ước cam kết bảo đảm: a) Quyền của mọi người được thành lập và gia nhập
công đoàn do mình lựa chọn, theo quy chế của tổ chức đó, để thúc đẩy và bảo vệ
các lợi ích kinh tế và xã hội của mình.”
Tổ chức lao động quốc tế cũng đã ghi nhận và bảo vệ quyền tự do liên kết
của người lao động. Trước hết, trong Lời nói đầu Hiến chương ILO đã tuyên bố
“thừa nhận nguyên tắc tự do liên kết (hiệp hội)”. Tuyên ngôn Philadelphia năm
1944 khẳng định: “tự do ngôn luận và tự do liên kết là điều kiện thiết yếu của tiến
bộ lâu dài” và xem đây là một trong những nguyên tắc cơ bản làm nền cho tổ chức
này. Một lần nữa, nguyên tắc này được nhắc đến trong Tuyên bố về các nguyên tắc
12
và quyền cơ bản tại nơi làm việc năm 1998 và được quy định trong Công ước số 87
về quyền tự do liên kết và bảo vệ quyền được tổ chức năm 1948 và Công ước số 98
về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm 1949. Cụ thể thì “Người lao động
và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, có quyền
được thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình mà không phải
xin phép trước, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ
chức đó” và “Những người lao động phải được hưởng sự bảo vệ thích đáng chống
lại tất cả các hành vi phân biệt đối xử nhằm xâm hại đến quyền tự do liên kết trong
lao động”. Hai công ước này đã ghi nhận quyền tự do liên kết hay người lao động
có thể thành lập nhiều tổ chức đại diện khác nhau trong một cơ sở lao động, và có
quyền tự do lựa chọn tham gia vào một trong các tổ chức mà họ thấy phù hợp để
bảo vệ lợi ích của mình; đồng thời xác định một cách rõ ràng nghĩa vụ của các quốc
trong việc làm và nghề nghiệp, ILO đã thông qua hai công ước, đó là Công ước số
100 (năm 1951) về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một
công việc có giá trị ngang nhau và Công ước số 111 (năm 1958) về phân biệt đối xử
trong việc làm và nghề nghiệp.
Riêng đối với bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, đến giờ đây vẫn
là một vấn đề phức tạp và được đấu tranh mạnh mẽ trên toàn cầu. Công ước số 100
đã yêu cầu các nước thành viên:
Bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp hiện
hành trong việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích và trong
chừng mực phù hợp với các phương pháp ấy, bảo đảm việc áp dụng
cho mọi người lao động nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động
nam và nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau (Khoản 1 Điều 2)
và phải sử dụng các biện pháp nhằm khuyến khích việc đánh giá một
cách khách quan các việc làm, căn cứ trên những công việc phải thực
hiện trong các việc làm ấy.
Đồng thời, theo công ước thì những mức trả công chênh lệch giữa những
người lao động không xét theo giới tính, mà là tương ứng với những khác biệt trong
công việc phải làm đã được xác định bằng đánh giá khách quan thì sẽ không được
coi là trái với nguyên tắc bình đẳng.
Ba là, quyền nhân thân
Quyền nhân thân của người lao động là một quyền quan trọng cần được tôn
14
trọng và bảo vệ. Trong lĩnh vực lao động, quyền nhân thân của người lao động là
quyền lao động và các quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
tín… của người lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động với người sử
dụng lao động [32, tr. 6]. Quyền tự do không bị lao động cưỡng bức ép buộc, quyền
của lao động trẻ em và quyền được bảo đảm thời giờ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý là
nhằm bảo đảm thực sự việc bãi bỏ lao động trẻ em và nâng dần tuổi tối thiểu được
đi làm hoặc được lao động tới độ tuổi mà các thiếu niên có thể phát triển đầy đủ
nhất về thể lực và trí lực”.
Ngoài ra, trong các quy định của mình, UDHR, ICESCR và ICCPR đều ghi
nhận quyền được bảo đảm thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; được đảm bảo về
điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh. ILO cũng có nhiều công ước để bảo đảm các
quyền nhân thân này của người lao động, tiêu biểu như công ước số 155 (1981) về
“An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc”; công ước số 1 (1919)
về “Thời gian làm việc trong công nghiệp”; khuyến nghị số 166 về “Giảm thời gian
làm việc”; công ước số 14 (1921) về “Áp dụng nghỉ hàng tuần cho các cơ sở công
nghiệp”; công ước số 106 (1957) về “Nghỉ hàng tuần trong thương mại và văn
phòng”; công ước số 132 (1976) về “Những ngày nghỉ có lương”.
Bốn là, quyền được bảo đảm về thu nhập và đời sống
Người lao động trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì ngược lại, họ
cũng phải được bảo đảm tối thiểu về thu nhập và đời sống để có thể tiếp tục duy trì
công việc. Đảm bảo về thu nhập và đời sống được thể hiện cụ thể qua tiền lương và
bảo hiểm. Tiền lương, cụ thể là lương tối thiểu luôn nhận được sự quan tâm của xã
hội bởi sự tác động to lớn của nó không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là
vấn đề chính trị, xã hội [30, tr. 30]. Mục đích cơ bản của người lao động khi tham
gia quan hệ lao động là nhận lại được những gì mà sức lao động của mình bỏ ra mà
cụ thể là tiền lương. Bên cạnh đó, để đảm bảo duy trì lao động, họ cũng cần đảm
bảo về các mặt khác của đời sống thông qua chế độ bảo hiểm.
Điều 23 Công ước UDHR quy định:
2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho
những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử
nào; 3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao
công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình
16
17