VAI TRÒ của CHỦ nợ TRONG THỦ tục GIẢI QUYẾT PHÁ sản THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐOÀN THỊ NGỌC MAI

VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ
TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐOÀN THỊ NGỌC MAI

VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ
TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ
TRÌNH GIẢI QUYẾT TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP .............. 11
1.1. Khái niệm và phân loại chủ nợ ............................................................. 11
1.1.1. Khái niệm chủ nợ ............................................................................ 11
1.1.2. Phân loại chủ nợ.............................................................................. 14
1.1.3. Thẩm quyền của Hội nghị chủ nợ.................................................. 22
1.2. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quy định vai trò của chủ
nợ trong Luật phá sản và gợi mở cho Việt Nam .......................................... 24
1.2.1. Vai trò của chủ nợ trong pháp luật phá sản của Cộng hòa Pháp .... 24
1.2.2. Vai trò của chủ nợ trong pháp luật phá sản Nhật Bản .................... 27
1.2.3. Vai trò của chủ nợ trong Luật Phá sản của Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa ................................................................................................. 29
Chương 2: VAI TRÒ CỤ THỂ CỦA CHỦ NỢ TRONG CÁC GIAI ĐOẠN
GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN HÀNH………………………………34
2.1. Các quy định trước khi thực hiện thủ tục tố tụng tại Tòa án ................ 35
2.2. Các quy định về thủ tục tố tụng tại tòa án để giải quyết yêu cầu thông
báo phá sản DN ............................................................................................ 35
2.2.1. Vai trò của chủ nợ trong quá trình nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
................................................................................................................... 35


2.2.2. Vai trò của chủ nợ đối với việc được thông báo khi DN mất khả
năng thanh toán ......................................................................................... 39
2.2.3. Vai trò của chủ nợ đối với việc cung cấp tài liệu chứng cứ chứng


Doanh nghiệp

GQPS

:

Giải quyết phá sản

HNCN

:

Hội nghị chủ nợ

LPS

:

Luật phá sản

TTPS

:

Thủ tục phá sản

TAND

:

Nền kinh tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa các doanh nghiệp lại
càng trở nên căng thẳng, phức tạp. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh
nghiệp không ngừng cạnh tranh nhau, không ngừng tìm cách để bài trừ, loại
bỏ lẫn nhau. Tự do cạnh tranh và phá sản là những thuộc tính vốn có của kinh
tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào không đáp ứng
được những đòi hỏi nghiệt ngã của thương trường, của sức ép cạnh tranh sẽ bị
đào thải. Để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, mất khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn, đồng thời phòng ngừa, khắc phục những
hậu quả, rủi ro mà những doanh nghiệp này có thể gây ra cho nền kinh tế, mỗi
quốc gia đều phải xây dựng và thực thi một cơ chế phá sản có hiệu quả. Tuy
nhiên, do tính chất nhạy cảm và mức độ ảnh hưởng rộng tới nhiều đối tượng
khác nhau trong đời sống kinh tế nên cơ chế phá sản luôn đòi hỏi sự can thiệp
mềm dẻo, linh hoạt của Nhà nước, phù hợp với những yêu cầu thực tiễn mà
hoạt động kinh doanh đặt ra.
Phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội tất yếu trong nền kinh tế thị
trường. Bên cạnh những hậu quả gây ra cho nền kinh tế mà các doanh nghiệp
bị phá sản gây ra, phá sản cũng có những ảnh hưởng tích cực không thể phủ
nhận, đó là việc cơ cấu lại nền kinh tế một cách có trật tự, đào thải những
doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả ra khỏi thương trường, bảo đảm một môi
trường kinh doanh phát triển bền vững. Ở Việt Nam, sau gần 30 năm tiến
hành đổi mới toàn diện đất nước kể từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ VI vào tháng 12 năm 1986, cho đến nay, nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa vẫn đang trên đà phát triển và dần được định hình rõ
nét. Bằng chứng là số lượng các doanh nghiệp gia tăng mạnh mẽ với đa dạng
1


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai

bị ảnh hưởng lớn nhất trước nguy cơ một doanh nghiệp bị phá sản, vì một
“con nợ chết” sẽ kéo theo hàng loạt chủ nợ có thể đứng trước nguy cơ mất
2


trắng tài sản và lâm vào tình trạng bi đát về tài chính. Bởi vậy, LPS 2014 đã
có những quy định xuyên suốt đề cao vai trò của các chủ nợ trong quá trình
tiến hành thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn thi
hành cho thấy việc triển khai vai trò của các chủ nợ theo tinh thần của LPS
còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân là do các chủ nợ chưa thấu hiểu hết
được vai trò quan trọng của mình trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp;
đồng thời những quy định của LPS 2014 vẫn còn nhiều bất cập, chưa bắt kịp với
sự phát triển của xã hội và tư duy lập pháp tiên tiến trên thế giới cũng như thiếu
tính khả thi khiến cho các chủ nợ chưa phát huy được vai trò của mình trên thực
tế. Hơn thế nữa, trong giai đoạn kinh tế suy thoái và đang có dấu hiệu phục hồi
như hiện nay, việc các chủ nợ khẳng định được vai trò của mình trong quá trình
xử lý phá sản doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả giải quyết thật tốt
các vụ phá sản nhằm cơ cấu lại một nền kinh tế có trật tự, thúc đẩy sự phát triển
vượt trội ở giai đoạn hậu suy thoái. Đây là yêu cầu có tính cấp thiết cả về mặt lý
luận pháp lý và thực tiễn thi hành, nó tác động không nhỏ đến sự phát triển của
nền kinh tế - xã hội của nước ta, do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Vai trò của
chủ nợ trong thủ tục giải quyết phá sản theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nhận thấy kể từ khi pháp luật về phá sản bắt đầu hình thành ở
nước ta, cụ thể là từ khi Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 ra đời cho đến nay,
đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu và phân tích các quy định
trong hệ thống pháp luật phá sản, chỉ ra những bất cập mà LPS hiện hành
đang mắc phải, trong đó có cả những quy định về chủ nợ và vai trò của nó.
Xung quanh vấn đề này, đã có nhiều công trình nghiên cứu do các nhà khoa

Việt Nam và một số nước trên thế giới, tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật
phá sản ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập trong việc thực thi pháp luật về phá
sản và kiến nghị giải pháp hoàn thiện. Công trình này đã đề cập một cách có
hệ thống và toàn diện các vấn đề của LPS. Tuy nhiên, cho đến nay, khi LPS
2004 đã trải qua 10 năm thi hành, LPS 2014 trải qua hơn 01 năm thi hành thì
các phân tích của tác giả phần nào chưa bao quát hết các vấn đề phát sinh và
một số kiến nghị đã thể hiện tính không phù hợp với điều kiện áp dụng của
nền kinh tế Việt Nam.
- Luận văn Thạc sỹ Luật học của ThS. An Phương Huệ (2004): “Luật
Phá sản của Việt Nam và Luật Phá sản của Cộng hòa Pháp – những nét
tương đồng và khác biệt” - luận văn tập trung phân tích các quy định của pháp
4


luật Phá sản Việt Nam trong mối liên hệ so sánh với Luật Phá sản Pháp, từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật phá sản ở
nước ta. Nhắc đến việc phân tích các quy định của pháp luật về thủ tục phá
sản, trong đó tác giả có đề cập đến vai trò của chủ nợ khi tham gia quá trình
giải quyết phá sản với tư cách là một chủ thể quan trọng, không thể không kể
đến Luận văn thạc sỹ luật học “Quyền của chủ nợ là người lao động trong
quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp” của Th.s Trần
Ngọc Diệp. Luận văn này tập trung nghiên cứu về nội dung quyền lợi của
người lao động trong vai trò là chủ nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu
tuyên bố phá sản. Luận văn không chỉ làm rõ vấn đề mà còn có những so
sánh, đưa ra được những kinh nghiệm quốc tế liên quan đến đề tài. Đồng thời
trong nội dung đề tài cũng đã đề xuất được các phương án, đưa ra các kiến
nghị có ích để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về phá sản ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ của TS. Vũ Thị Hồng Vân (2008): “Quản lý và xử lý tài
sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam”. Đề tài nghiên
cứu phân tích và luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý và xử lý tài

Phá sản” của tác giả La Minh Tường đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tòa
án nhân dân tối cao, số 15/2012; hay bài viết “Mạn đàm về một số quy định về
Hội nghị chủ nợ trong Luật Phá sản 2004” của tác giả Nguyễn Thị Tình và
Đỗ Phương Thảo được đăng trên Chuyên đề báo Pháp luật số tháng 6/2013;
v.v.. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung khai thác một cách tổng
thể các quy định của LPS để từ đó đánh giá và đưa ra được những kiến nghị
hoàn thiện pháp luật.
Xét về góc độ nghiên cứu riêng về chủ nợ trong LPS thì có rất ít công
trình nghiên cứu tập trung phân tích sâu sắc vấn đề này, có thể kể đến một vài
công trình nghiên cứu hướng đến đối tượng nghiên cứu là chủ nợ như bài viết
“Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục Phá sản” của tác
giả Trần Văn Tú và Nguyễn Văn Giang được đăng trên tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 03/2012.
Tuy nhiên, hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện về vai trò của chủ nợ - một chủ thể rất quan trọng tham gia vào quá
trình giải quyết phá sản doanh nghiệp. Do đó, với đề tài nghiên cứu của mình,
trên cơ sở kế thừa những đánh giá, phân tích của các công trình nghiên cứu
trước, tác giả hy vọng sẽ góp thêm một “đường nét” mới mẻ vào “bức tranh”

6


hoàn thiện LPS nước nhà và không có sự trùng lặp bởi các công trình nghiên
cứu khác.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của LPS 2014 và
thực trạng về vai trò của chủ nợ trong DN kể từ khi DN lâm vào tình trạng phá
sản đến khi kết thúc quá trình giải quyết yêu cầu phá sản đối với DN.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về

trong các quy định của LPS 2014, từ đó rút ra những vấn đề vẫn còn tồn tại
hoặc có thể phát sinh sau khi Luật được áp dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, luận văn sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: Chương 1 của luận văn được triển
khai thông qua phương pháp phân tích các vấn đề chung về các chủ thể của
LPS và phân chủ nợ, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu với pháp
luật phá sản một số nước khác. Đối với chương 2, tác giả sử dụng phương
pháp phân tích nhằm cụ thể hóa và làm rõ những quy định của pháp luật phá
sản về vai trò của chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp. Từ
đó, ở chương 3, bằng phương pháp đối chiếu, phương pháp kết hợp nghiên
cứu lý luận với thực tiễn, phương pháp thống kê – phân tích nhằm làm rõ thực
tiễn thi hành LPS 2014, tác giả đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện
các quy định của pháp luật nhằm phát huy vai trò của chủ nợ trong suốt quá
trình tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp.
Dù là sử dụng phương pháp nào để xây dựng các nội dung của luận văn
thì các phương pháp nghiên cứu trong luận văn vẫn được thực hiện trên nền
tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các
quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
6. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn phân tích làm
sáng tỏ thực trạng các quy định của LPS về vai trò của chủ nợ trong quá trình giải
quyết phá sản doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị về những phương
hướng và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của LPS về vai trò của
chủ nợ, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
được xác định cụ thể như sau:
8




Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

8. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần lời nói đầu và phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu
tham khảo chủ yếu, luận văn được kết cấu với 3 chương:
Mở đầu: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương
pháp nghiên cứu.
Chương 1: Khái quát về địa vị pháp lý của chủ nợ trong quá trình giải
quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về vai trò của chủ nợ trong các giai
đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của chủ nợ trong thủ tục
phá sản doanh nghiệp.

10


Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA CHỦ NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI
QUYẾT TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Phá sản là một hiện tượng hết sức bình thường, tồn tại tất yếu và phổ
biến trong nền kinh tế thị trường nơi sự cạnh tranh lẫn nhau luôn tồn tại. Phá

phi

LPS 2004 không đưa ra khái niệm về “chủ nợ” mà thực hiện việc định
danh bằng cách phân loại các đối tượng chủ nợ. Việc không đưa ra khái niệm
cụ thể này dẫn đến tình trạng một số đối tượng có quyền và nghĩa vụ về tài
sản có liên quan tham gia vào thủ tục phá sản nhưng lại không thể định danh
thành một loại chủ thể nhất định, dẫn đến khó xác định vai trò và đảm bảo
quyền lợi của họ trong quá trình GQPS. LPS 2014 đã khắc phục hạn chế này
bằng cách đưa ra khái niệm về “chủ nợ” tại khoản 3 Điều 4: “Chủ nợ là cá
nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu DN, HTX phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm
một phần và chủ nợ có bảo đảm”.
Như vậy, khái niệm chủ nợ đã được xác định bởi quyền yêu cầu doanh
nghiệp trả nợ, cách hiểu này đã bao hàm được cả những cá nhân, tổ chức có
khoản nợ đối với doanh nghiệp phát sinh trước, trong và cả sau khi có quyết
định mở thủ tục phá sản, tránh bỏ sót những chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên
quan. Tuy nhiên, sau khi đưa ra khái niệm về “chủ nợ”, LPS 2014 lại lặp lại
khái niệm này khi phân loại chủ nợ, điều này là không cần thiết và khiến cho
khái niệm chủ nợ trở nên rắc rối, khó hiểu hơn.
Mục đích của LPS đó là bảo vệ quyền và lợi ích của con nợ và chủ
nợ thông qua việc giải quyết và tìm ra cách thức thanh toán nợ. Thực tế cho
thấy, không phải lúc nào quyền của các chủ nợ cũng được bảo đảm. Và dẫu
có thì cũng chỉ là một phần nhỏ trong số những thiệt hại lớn mà các chủ nợ
phải gánh chịu. Với vai trò là người trực tiếp tham gia vào hoạt động sản
xuất kinh doanh hay là người thành lập nên doanh nghiệp của các chủ nợ,
việc đảm bảo quyền lợi của họ sẽ vừa là động lực, vừa là nền tảng để họ có
thể mạnh dạn hơn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, góp
phần nâng cao chất lượng đời sống, ổn định xã hội
Theo quy định tại LPS 2014 thì có 3 loại chủ nợ đó là: chủ nợ có bảo
đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm. Việc phân

vệ chính mình khi lợi ích của chính họ bị xâm hại
13


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

1.1.2. Phân loại chủ nợ
Một trong những mục tiêu quan trọng mà pháp luật phá sản hướng đến
là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Về nguyên tắc, trong thủ tục
phá sản, các chủ nợ đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ. Tuy nhiên,
tùy thuộc vào tính chất của các khoản nợ mà quyền lợi của các chủ nợ cũng khác
nhau, từ đó sẽ dẫn đến vai trò của họ cũng khác nhau. Việc phân loại chủ nợ có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc xác định vai trò cũng như trách nhiệm của từng
loại chủ nợ ở mỗi giai đoạn tố tụng phá sản, từ đó góp phần thúc đẩy việc giải
quyết phá sản doanh nghiệp đạt được hiệu quả thiết thực.
Để phân loại các chủ nợ, cần dựa vào các tiêu chí nhất định, cụ thể:
* Căn cứ vào tương quan giữa giá trị tài sản bảo đảm và giá trị khoản nợ:
Đây là tiêu chí mà LPS 2014 đã dùng để phân loại chủ nợ, cơ sở phân loại
theo tiêu chí này chính là sự xuất hiện của tài sản bảo đảm của doanh nghiệp cho
khoản nợ của mình, theo đó, chủ nợ được phân làm ba loại cơ bản: chủ nợ có
bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm.
+ Chủ nợ có bảo đảm: Theo quy định tại Khoản 5, Điều 4 LPS 2014 thì “Chủ
nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp,
HTX phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản

thường thỏa thuận đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng, nhưng các
khoản nợ có đảm bảo một phần vẫn xuất hiện là do:
+ Khi thỏa thuận, các bên thỏa thuận bằng một số tiền cụ thể hoặc một tài
sản nhỏ hơn giá trị khoản nợ.
+ Mặc dù khi ký kết hợp đồng, các bên thỏa thuận đảm bảo 100% nghĩa vụ
để phòng ngừa rủi ro, nhưng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, tài sản bị
giảm hoặc mất đi một phần giá trị, một trong những tài sản đảm bảo bị mất đi
do lý do khách quan(thiên tai, hỏa hoạn....) dẫn đến giá trị tài sản bảo đảm
không được bảo toàn như ban đầu.
15


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

+ Chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba. Theo quy định tại
khoản 4, Điều 4 LPS 2014 thì: “Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ
quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, HTX phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản nợ không được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp,
HTX hoặc của người thứ ba”.
Đây là loại chủ nợ bị ảnh hưởng và thiệt hại nặng nề nhất khi doanh
nghiệp mắc nợ họ phá sản; bởi bản thân họ không được bảo đảm bằng bất kỳ
một tài sản nào của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba. Khả năng thu hồi nợ
của loại chủ nợ này dường như là khó khăn hơn rất nhiều so với hai loại chủ

quá trình kinh doanh, doanh nghiệp cũng có thể đối mặt với các khoản nợ
khác đối với Nhà nước như : nợ tiền điện, tiền nước phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ; nợ tiền phạt vi phạm về bảo vệ môi
trường do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ;...
Như vậy, có thể thấy Nhà nước là chủ nợ luôn gắn liền với sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Nếu theo cách phân loại chủ nợ của LPS 2014
thì Nhà nước cũng đơn thuần chỉ là một chủ nợ không có bảo đảm ; tuy nhiên,
xét về góc độ chủ thể thì Nhà nước lại là một chủ thể đặc biệt và không giống
với các loại chủ thể khác trong quan hệ vay – nợ với doanh nghiệp.
+ Chủ nợ là người lao động :
Khi doanh nghiệp đứng trước bờ vực bị buộc phải chấm dứt hoạt động
thì người lao động là đối tượng phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, bởi lẽ khi
doanh nghiệp lâm vào phá sản ; những người lao động có thể phải đứng trước
nguy cơ thất nghiệp, không có thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình mình.
Đây là đối tượng ở vị trí yếu thế trong quan hệ với doanh nghiệp, họ ít có đủ
trình độ để tự nhận thức được tình trạng kinh tế của doanh nghiệp cũng như
có biện pháp để tự bảo vệ quyền lợi của mình. Có thể thấy quan hệ về tài sản
17


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

giữa doanh nghiệp – chủ sử dụng lao động và người lao động thường là quan
hệ về lương, bảo hiểm xã hội cũng như các quyền lợi vật chất khác được quy

và thanh lý tài sản lập sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp.
+ Chủ nợ mới là những chủ nợ phát sinh sau khi Tòa án ra quyết định mở
thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp. Bởi căn cứ theo Điều 47 LPS 2014
thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ
tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát,
kiểm tra của thẩm phán và Quản tài viên,Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Như
vậy, theo tinh thần của Luật phá sản, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án vẫn có thể tiếp tục hoạt
động và giao kết hợp đồng, tiến hành các giao dịch liên quan đến việc vay
vốn, huy động vốn. Hơn nữa, một trong những mục tiêu cơ bản của pháp luật
phá sản là giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản bằng cách cho
phép doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh nếu doanh nghiệp có khả
năng phục hồi; để thực hiện tốt mục tiêu này, Luật Phá sản đã tạo điều kiện để
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được tiếp tục tiến hành các giao dịch
kinh doanh với đối tác, với các chủ thể để tăng cường tiềm lực giải thoát khỏi
bờ vực phá sản. Có nghĩa là, vẫn sẽ có những chủ nợ phát sinh trong quá trình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kể từ sau thời điểm Tòa án ra quyết
định mở thủ tục phá sản, những chủ nợ này có thể được xem là chủ nợ mới
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, LPS 2014 còn thiếu sót khi không đề cập đến
loại chủ nợ này cũng như việc đảm bảo các quyền lợi và vai trò của họ trong
giải quyết phá sản doanh nghiệp.
Có thể nói, việc phân loại chủ nợ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định vai trò và vị trí của các loại chủ nợ trong tiến trình giải quyết phá sản
doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi pháp luật phá sản phải có sự phân loại hợp lý

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status