ĐÁNH GIÁ và GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX của CÔNG TY DU LỊCH đất VIỆT - Pdf 47

ĐÁNH GIÁ
VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CHIẾN
LƯỢC MARKETING-MIX
CỦA CÔNG TY DU LỊCH
ĐẤT VIỆT


CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MARKETING
1.1 Một số khái niệm về Marketing mix
1.1.1 Khái niệm về Marketing mix
Marketing mix ( Hỗn hợp Marketing) là một trong những khái niệm chủ yếu của
Marketing hiện đại.
Marketing mix là tập hợp những công cụ marketing mà công ty sử dụng để đạt được các
mục tiêu trong một thị trường đã chọn. Các công cụ Marketing được pha trộn và kết hợp
với nhau thành một thể thống nhất để ứng phó với những khác biệt và thay đổi trên thị
trường. Có thể nói Marketing mix là một giải pháp có tính tình thế của tổ chức.
Các công cụ Marketing gồm có: sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place) và
xúc tiến (Promotion) và thường được gọi là 4P. Những thành phần của mỗi P có rất nhiều
nội dung.
Marketing mix có thể được chọn từ rất nhiều khả năng, được thể hiện như một hàm có
bốn biến số là (P1, P2, P3, P4). Marketing mix của mộ công ty tại thời điểm t cho một
sản phẩm A có mức chất lượng q, giá bán m, chi phí phân phối y, chi phí xúc tiến z được
thể hiện là (q,m,y,z). Một biến số thay đổi sẽ dẫn đến sự kết hợp mới trong Marketing
mix. Không phải tất cà yếu tố thay đổi trong Marketing mix có thể điều chỉnh trong ngắn
hạn. Công ty có thể điểu chỉnh giá bán, lực lượng bán, chi phí quảng cáo trong ngắn hạn
như chỉ có thể phát triển sản phẩm mới và thay đổi kênh phân phối trong dài hạn.
1.1.2 Các thành phần của Marketing mix:
 Product (Sản phẩm)
Một sản phẩm được xem như là một món để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Nó là một hàng hóa hữu hình hoặc một dịch vụ vô hình. Sản phẩm hữu hình là

Promotion (xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ bán hàng) là tất cả các phương pháp
truyền thông một nhà tiếp thị có thể sử dụng để cung cấp thông tin về sản phẩm
cho các bên khác nhau về sản phẩm. Chiêu thị bao gồm các yếu tố như : Quảng
cáo, quan hệ công chúng, tổ chức bán hàng và xúc tiến bán hàngMarketing mix là
gì?Mạng quảng cáo trực tuyến mở & miễn phí Mạng quảng cáo trực tuyến mở &
miễn phí
Quảng cáo bao gồm bất kỳ sự truyền thông mà nó phải trả tiền, từ quảng cáo điện
ảnh, quảng cáo phát thanh và quảng cáo Internet thông qua phương tiện truyền
thông in ấn và biển quảng cáo. Quan hệ công chúng (PR – Public Relation) là nơi
mà sự thuyền thông không phải trả tiền trực tiếp, và bao gồm : thông cáo báo chí,
hợp đồng tài trợ, triển lãm, hội nghị, hội thảo, hội chợ thương mại và tổ chức sự
kiện. Quảng cáo truyền miệng (Word-of-mouth) là bất kỳ thông tin không chính
thức được nghe kể lại từ những cá nhân bình thường về sản phẩm, sự hài lòng của
khách hàng. Nhân viên bán hàng thường đóng một vai trò quan trọng trong quảng
cáo truyền miệng và quan hệ công chúng.
 Distribution (Place – Phân phối)
Phân phối là cung cấp sản phẩm tại một địa điểm thuận tiện cho người tiêu dùng.
Chiến lược khác nhau như phân phối chuyên sâu, phân phối có chọn lọc, phân


phối độc quyền và nhượng quyền thương mại có thể được sử dụng bởi các nhà tiếp
thị để bổ sung cho các khía cạnh khác nhau của marketing mix.
Mô hình 7P là một mô hình marketing bổ sung dựa vào mô hình 4P vừa được đề cập, mô
hình này thêm vào 3P là : “Physical evidence”, “People”, và “Process”
 Physical evidence (Bằng chứng vật lý)
Là các yếu tố bên trong cửa hàng : phía trước cửa hàng, trang phục nhân viên mặc,
biển hiệu,…
 People (Con người)
Nhân viên của tổ chức người mà tiếp xúc với khách hàng.
 Process (Quy trình)

trọng nhất. Theo quan điểm hiện đại thì “Marketing là làm việc với thị trường để thực
hiện các cuộc trao đổi với mục đích thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con
người”. Nhu cầu và mong muốn của con người đây chính là về hàng hoá và dịch vụ để


thu được một tiện ích nhất định. Marketing dịch vụ cũng được coi là một phần rất quan
trọng của marketing nói chung bởi vì trong thời đại ngày cũng được coi là một phần rất
quan trọng của marketing nói chung bởi vì trong thời đại ngày nay, marketing dịch vụ và
marketing hàng hoá có xu hướng đồng nhất và bổ trợ lẫn nhau.. Hơn nữa, có rất nhiều
ngành sản xuất kinh doanh lại có đối tượng kinh doanh chính là dịch vụ như: Bưu chính,
Viễn thông, Giao thông vận tải, Du lịch, Y tế.... Chính vì vậy mà việc đưa ra một khái
niệm đúng đắn về marketing dịch vụ để có thể vận dụng trong sản xuất kinh doanh là
điều rất cần thiết. Như vậy, về cơ bản, marketing dịch vụ và marketing hàng hoá đều
nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu và mong muốn của con người, nhưng marketing dịch vụ
sẽ có những đặc thù riêng có so với marketing hàng hoá.
Như đã nêu ở trên, marketing dịch vụ và marketing hàng hoá về cơ bản thường có xu
hướng đồng nhất, tuy nhiên, có những sự khác biệt chính giữa chúng, mà nguyên nhân cơ
bản của sự khác biệt này chính là vì hàng hoá và dịch vụ có những điểm khác biệt. Sự
khác biệt giữa hàng hoá và dịch vụ thể hiện ở 4 điểm sau đây: Tính vô hình, tính không
thể chia tách, tính thiếu ổn định và tính không thể dự trữ:
 Dịch vụ là vô hình: Hầu hết các dịch vụ đều không thể sờ mó hoặc sử dụng trước
khi mua, cho nên khách hàng khó có thể đánh giá được về chất lượng dịch vụ
trước khi sử dụng nó. Dịch vụ cũng không thể được kiểm tra, trưng bày hoặc bao
gói. Về độ rủi ro thì rõ ràng đối với khách hàng, việc mua một dịch vụ sẽ không an
toàn bằng mua một hàng hoá. Đây cũng chính là một cản trở lớn của trao đổi dịch
vụ mà marketing dịch vụ cần chú trọng.
 Dịch vụ là không chia tách được: Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng cùng một
lúc. Hàng hoá có thể được sản xuất và tiêu dùng rất lâu sau đó, còn dịch vụ thì
không thể. Khi dịch vụ ra đời cũng là lúc nó được sử dụng và chấm dứt vòng đời
của mình khi người tiêu dùng ngưng sử dụng nó.

marketing dịch vụ và marketing hàng hoá đều có những đặc trưng của marketing nói
chung.
1.2 Nội dung marketing du lịch
1.2.1 Nghiên cứu thị trường du lịch
Trước tiên để nghiên cứu những hoạt động toàn bộ trong thị trường du lịch chúng ta cần
tìm hiểu với một số khái niệm cơ bản
a. Du lịch là:
-Theo góc độ “Là khách du lịch”: Du lịch là việc rời khỏi nơi cứ trú thường xuyên.
-Theo góc độ “Là nhà cung ứng du lịch”: Du lịch là cung ứng và tổ chức toàn bộ các hoạt
động để thỏa mãn nhu cầu của du khách mang lại hiệu quả xã hội.
Suy ra du lịch là sự kiết hợp và tương tác giữa 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ
khách du lịch: Khách du lịch, Nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền nơi đến du lịch
và cộng đồng cư dân tại nơi đó.


b. Khách du lịch (Visitors):
Khách du lịch còn gọi là khách viếng. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới ( World Tourism
Organization) năm 1968 đã chấp nhận định nghĩa khách viếng như sau: “ Một khách
viếng là một người từ quốc gia này đi tới một quốc gia khác với một lý đo nào đó, có thể
là kin doanh, thăm viếng hoặc làm một việc gì khác ( ngoại trừ hành nghề hay lãnh
lương). Định nghĩa này được áp dụng cho cả khách du lịch trong nước. Khách viếng được
chia làm hai loại: Du khách và khách tham quan.
 Du khách (Tourists)
Du khách là khách du lịch , còn gọi là khách ở lại qua đêm (Overnight visitors) “Du
khách là khách du lịch lưu trú tại một quốc gia trên 24 giờ đồng hồ và ngủ qua đêm ở đó,
với lý do kin doanh, thăm viếng hay làm một việc gì khác
 Khách tham quan (Excursionists)
Khách tham quan là khách du lịch còn gọi là khách du ngoạn hay là ở trong ngày (Day
visitors).
“Khách tham quan là khách du lịch đến viếng thăm ở một nơi nào đó dưới 24 giờ đồng

Du thực Passenger Người tị
Công
s
nạn
nhân biên
Khách
giới
quá cảnh

Crusie Passengers
Khách tàu thuảy

Crews
Thủy thủ đoàn

Member
of
the
Armed
Forces
Quân
Nhân

Representatio
n
Of
Consulates
Đại diện lãnh
sự quán


Trong một thời gian ngắn lượng cung là tương đối ổn định còn lượng cầu
thay đổi nhanh chóng và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố.


d. Thị trường du lịch:
Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành của thị trường hàng hóa nói chung, là một bộ
phận cấu thành đặc biệt. Nó bao gồm toàn bộ các mối quan hệ và cơ thể kin tế gắn liền
với địa điểm t, thời gian, điều kiện, phạm vi thực hiện hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa
mãn nhu cầu của khách du lịch
Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành đặc biệt: tính chất của sản phẩm là tiêu dùng
và sản xuất sản phẩm mang tính đặc thù .
e. Nội dung nghiên cứu thị trường (đối với khách hàng)
Việc tổng hợp, ghi nhận và phân tích các dự kiến về các vấn đề có liên quan đến
Marketing, sản phẩm và dịch vụ là một cách tổ chức tốt nhất để tìm ra các câu trả lời
khách quan mà các nhà kin doanh du lịch muốn thành công. Nghiên cứu thị trường để trả
lời các câu hỏi:
Ai là khách hàng hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp: thị trường mục tiêu.
Thị trường hiện tại và tiềm năng rộng lớn đến đâu: Quy mô thị trường.
Khách du lịch họ sống ở đâu – nguồn khách.
Khách du lịch mua những sản phẩm gì.
Tại sao họ mua những sản phẩm đó (chất lượng, giá cả).
Sản phẩm có đáp ứng được những điều mà cần đến hay không.
Giá cả dịch vụ, sản phẩm có tương xứng với chất lượng và đồng tiền mà khách bỏ
ra hay không.
8. Tại sao khách du lịch tiềm năng lại không mua sản phẩm và dịch vụ của chúng ta.
9. Các chương trình quảng cáo có đạt hiệu quả không.
10. Doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh như thế nào.
11. Khách du lịch họ nghĩ vì về doanh nghiệp của chúng ta.
1.
2.

- Chiếm lĩnh được thị trường
- Nguồn khách lớn, công suất cao và ổn định
- Sản phẩm độc đáo, mang tính độc quyền
- Chất lượng sản phẩm cao và uy tín đối với khách
Giải pháp:
-

-

-

Tăng giá, giảm chi phí trong điều kiện cho phép. Một chiến lược chung của
marketing có thể có nhiều mục tiêu, sắp xếp theo trình tự. Mục tiêu marketing
phải đạt được các yêu cầu.
Cụ thể thị trường mục tiêu: Đề ra cho từng thị trường mục tiêu cụ thể một
chiến lược marketing. Điều đó hết sức quan trọng, để ta có giải pháp, tập trung
nỗ lực marketing để phân bố chi phí marketing.
Phải có định hướng kết quả: Kết quả mong muốn
Phải có tính định hướng: Mục tiêu thể hiện bằng con số cụ thể: đo lường được
kết quả, đánh giá thành công hay không thành công và độ sai lệch ở marketing
ở mức độ nào.

1.2.2.2 Xác định vị thế, phân tích, dự báo khả năng của doanh nghiệp du lịch.
a. Xác định vị thế:
- Là việc xây dựng và phát triển 1 đơn vị marketing hỗn hợp để chiếm được 1 vị trí
cụ thể trong tâm lý khách hàng thuộc thị trường mục tiêu.


Yếu tố cần thiết để xác định vị thế có hiệu quả. Xác iểu biết định vị thế sau khi đã
chọn được thị trường mục tiêu, những thông tin sau đây là cần thiết.

o Khách du lịch chắc chắn: khách du lịch đã ký hợp đồng với doanh nghiệp
(độ tin cậy cao)
o Khách du lịch từng tiêu dùng dịch vụ, hàng hóa của doanh nghiệp.
o Khách du lịch chưa từng tiêu dùng dịch vụ, hoàng hóa của doanh nghiệp.
Khai thác triệt để hai loại khách ở dạng đầu: Làm thế nào để khách du lịch đến và
tiêu dùng nhiều tiền nhất và sử dụng nhiều dịch vụ, hàng hóa khách nhau đáo ứng
nhu cầu của khách đưa ra chiến lược đẩy và cũng chính là chiến lược kéo giữ chân
khách du lịch.
Nghiên cứu các chi tiêu khác gắn liền với khách: Độ tuổi, giới tính, mức độ chi
tiêu, để xác định độ thuần nhất hay không thuần nhất của khách du lịch để có
chiến lược phân biệt hay chiến lược duy nhất.


Tóm lại, trong vận dụng các chiến lược này, chúng ta phải chú ý tới tính độc dáo, hấp
dẫn của sản phẩm, trong kênh phân phối đặc biệt, vận dụng linh hoạt các chiến lược
kéo và chiến lược đẩy.
1.2.3 Xây dựng chiến lược marketing.
Marketing mix của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố: Chính sách sản phẩm và quan
hệ đối tác, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến, chính sách con
người và chất lượng dịc vụ, chính sách tạo sản phẩm trọn gói.
a. Chiến lược sản phẩm:
Theo Philip Kotler: Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý
mua, sử dụng hay tiêu dung, có thể thỏa mãn được một mong muốn hay nhu cầu.
Chính sách sản phẩm được hiều là tổng thể những quy tắc chỉ huy việc tạo ra và tung
sản phẩm vào thị trường để thỏa mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách
hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo việc kinh doanh có
hiệu quả.
Các quyết định trong chính sách sản phẩm:



thêm những sản phẩm mới vào chủng loại sản phẩm hiện có của mình để kéo dài chủng
loại sản phẩm bằng cách trên cơ sở các sản phẩm hiện có thêm vào cho nó các dịch vụ,
các phần bổ sung để tạo ra sự khác biệt có thể dễ dàng nhận biết để thu hút khách hàng.

Quyết định về nhãn hiệu: Khi hoạch định chiến lược marketing cho từng loại sản
phẩm, doanh nghiệp phải lựa chọn nhãn hiệu cho sản phẩm, nỳ chính là tên, thuật ngữ, ký
hiệu, biểu tượng hay kiểu dáng hoặc sự kết hợp các yếu tố đó nhằm xác định nhận hàng
hỳa hay dịch vụ của mỗi người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với
những thứ của đối thủ cạnh tranh.
b. Chiến lược giá:
Giá là một trong những yếu tố linh hoạt nhất trong marketing mix, do giá có thể thay đổi
nhanh chóng trong khi các yếu tố khác như sản phẩm, kênh phân phối… không phải dễ
dàng gì thay đổi được.
Các chiến lược điều chỉnh giá:






Chiết giá: Giành cho những khách hành quen thuộc hoặc cho những khách
hàng thanh toán nhanh:
Chiết giá theo số lượng
Chiết giá tiền mặt
Chiết giá cho kênh phân phối
Chiết giá theo mùa
Chiết giá quảng cáo
- Thặng giá (Theo mùa, đối tượng khách và theo tiêu dùng cụ thể của khách
trogn chương trình). Thặng giá nhằm mục đích khai thác tối đa thị trường cũng
như nhằm tăng uy tín của chương trình du lịch. Trong du lịch, giá trị của

Căn cứ vào các loại hình trung gian sẵn sàng, các điểm mạnh điểm yếu của
các loại hình này.
Căn cứ vào đặc tính cạnh tranh: Đối với môi trường cạnh tranh hiện nay thì
cần phải thiết kế để đảm bảo mức độ đảm bảo dịch vụ cao nhất với điều
kiện chi phí thấp nhất trong việc thiết lập các kênh cho các thị trường mục
tiêu.
Đặc điểm của doanh nghiệp: Sức mạnh về tài chính, danh mục dịch vụ,
những kênh trong quá khứ và chính sách marketing hiện tại của doanh
nghiệp.
Các đặc tính của môi trường: những điều kiện kinh tế, những quy tắc của
pháp luật và những hạn chế của các yếu tố môi trường.

Kênh phân phối
Kênh marketing là tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau liên quan đến quá trình tạo ra
sản phẩm hay dịch vụ hiện có để sử dụng hay tiêu dùng .
Quyết định về quản lý kênh phân phối:
-

Tuyển chọn các thành viên của kênh: Tựy theo năng lực và danh tiếng của các nhà
sản xuất thì việc lựa chọn các trung gian đủ tiêu chuẩn sẽ khác nhau


-

Động viên và đánh giá các thanh viên của kênh: Để người trung gian hoàn thành
tốt công việc cần phải kích thích, động viên họ
Sửa đổi kênh phân phối: Một kênh phân phối tốt đòi hỏi định kỳ phải sửa đổi cho
phù hợp với những điều kiện mới trên thị trường
Giải quyết các mâu thuẫn trong kênh: mâu thuẫn trong kênh có thể phát sinh do:
xung khắc về mục đích, vai trò và quyền hạn không rõ ràng, sự khác biệt về nhận

e. Chiến lược con người và chất lượng dịch vụ

Nhân tố con người giữ một vị trí rất quan trọng trong marketing dịch vụ. Có thể nói rằng
thành công của marketing của một doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào việc tuyển
dụng, đào tạo, huấn luyện, tạo động lực và quản lý con người trong doanh nghiệp


Chất lượng dịch vụ có thể định nghĩa là: một dịch vụ có chất lượng tốt là dịch vụ trong
một tình huống nhất định thỏa mãn khách hàng.
f. Chiến lược tạo sản phẩm trọn gói và lập chương trình dịch vụ:
Sản phẩm trọn gói là sự kết hợp các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ ngoại vi có liên quan
thành một chào hàng dịch vụ tổng thể, với mức giá trọn gói.
Lập chương trình du lịch là một kỹ thuật liên quan chặt chẽ tới việc tạo sản phẩm trọn
gói. Lập chương trình du lịch đòi hỏi sự triển khai các hoạt động, các sự kiện đặc điểm để
gia tăng sự tiêu dùng của khách hàng, hoặc làm tăng thêm sự hấp dẫn cho các sản phẩm
trọn gói
1.2.4 Tổ chức bộ phận marketing
Với bất cứ doanh ghiệp nào thì tổ chức của nó cũng gồm có 4 bộ phận:
-

Bộ phận “sản xuất” ( sản xuất ra sản phẩm)
Bộ phận bán và marketing ( tìm hiểu nhu cầu,thiết lập sản phẩm và khuyến khích
bán).
Bộ phận tài chính kế toán ( tổ chức công tác hoạch toán kế toán, thống kê quá trình
sản xuất kinh doanh).
Bộ phận hỗ trợ (kin doanh cổ phiếu và tải sản, những bộ phận hỗ trợ khác).

Một công ty lữ hành được tổ chức như sau:
GIÁM ĐỐC



KD
VC

KD
KHÁ
CH

CHI NHÁNH
ĐẠI DIỆN

Sơ đồ 2. Mô hình tổ chức của công ty du lịch
-

Bộ phận tổng hợp: đảm bảo cho các hoạt động của công ty diễn ra một cách bình
thường. Trong nhóm bộ phận tải chính kế toán là bộ phận quan trọng nhất với


-

-

nhiệm vụ theo dõi, kiểm soát toàn bộ tình hình tài chính, thu chi, lỗ lãi của công
ty.
Bộ phận du lịch: Đây là bộ phận đặc trưng của công ty du lịch. Thiếu bất kỳ thành
phần nào trong nó thì công ty không thể trở thành một công ty lữ hành du lịch.
o Bộ phận thị thường: có chức năng nghiên cứu thị thị trường, cũng như nhu
cẩu khách nhằm xây dựng chương trình, chào bán, khai thác nguồn khách,
tính giá chương trình nhằm đảm bảo thực hiện những mục tiêu chiến lược
ủa công ty. Để thực hiện được nhiệm vụ này phòng thị trường phải phát

người thiếu kinh nghiệm thì công ty có thể gặp thất bại.
Nếu thực hiện đúng, các chiến lược marketing sẽ tạo ra hiệu quả thu hút các khách
hàng tiềm năng đã sẵn sàng và có thể mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ của doanh
nghiệp. Mục tiêu chính của chiến lược marketing này là thu hút khách hàng mới và
cung cấp các dịch vụ mới cho số khách hàng cũ để họ hài lòng hơn.
Chiến lược thứ 2: Tăng số lượng giao dịch trung bình
Các nhà quản lý và các chủ doanh nghiệp dành đa số thời gian của mình để điều hành
doanh nghiệp và tìm kiếm khách hàng mới. Họ thường rất quan tâm tới số khách hàng
mà họ thường gặp. Số khách quen này thường được phép tiến hành toàn bộ các giao
dịch mà không bao giờ bị hỏi liệu có mua thêm sản phẩm hay dịch vụ không?
Với những khách hàng mới, không nên hài lòng với số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ
tối thiểu mà họ đã mua, nên đưa ra những lý do thuyết phục họ mua thêm. Nếu khách
hàng không tìm thấy lý do để buộc phải mua thêm sản phẩm hay dịch vụ của một
doanh nghiệp, họ sẽ tìm ra lý do để chuyển sang mua của doanh nghiệp khác. Chào
mời khách hàng một cách có hệ thống những sản phẩm và dịch vụ bổ sung có giá trị ở
cùng một điểm bán hàng có thể giúp doanh nghiệp tăng số lượng giao dịch trung bình
của mình.
Chiến lược thứ ba: Tăng số lần mua hàng thường xuyên của khách quen
Khi đã thiết lập được hoạt động kinh doanh thì nhiều doanh nghiệp không chú ý chăm
sóc khách quen. Nếu không có những chiến lược hoặc quy trình marketing để thường
xuyên tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của số khách hàng quen
thì số lần mua hàng của họ sẽ không tăng. Cần thường xuyên thực hiện các chiến lược
thông tin và chăm sóc đối với các khách hàng mới và cũ thông qua điện thoại hoặc
thư từ để thúc đẩy họ thường xuyên mua sản phẩm của công ty. Đây cũng là một
trong những bước để chủ doanh nghiệp phát triển doanh nghiệp của mình.


CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY DU LỊCH ĐẤT VIỆT
2.1 Khái quát về Công ty du lịch Đất Việt
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của công ty.

Địa chỉ
Tổng

198 Phan Văn Trị, P.10, Quận Gò Vấp, TP.HCM
giám Đặng Minh Hiệp

đốc
Chi nhánh

Chi nhánh Hà Nội: 12 Ngách 1/1 An Dương Vương, Tây Hồ, Hà Nội ĐT:(04)37586674
Email: [email protected]


Chi nhánh Đà Nẵng: 108 CMT8, Quận Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng ĐT:(0511)3708783
Email: [email protected]
Điện thoại

ĐT: (08) 3989 7562 - 3894 1794

Wedsite

Email:[email protected];
Wedsite:www.datviettour.com.vn
ngũ 50 người

Đội

Nhân viên

Logo


Danh hiệu “THƯƠNG HIỆU
VIỆT YÊU THÍCH” năm 2004,
2005, 2006, 2007 do báo SGGP
tổ chức.

-

Năm 2012 vinh dự nhận được
giải thưởng “5 doanh nghiệp lữ
hành nội địa vừa và nhỏ kinh
doanh hiệu quả nhất”.

- Phương châm hoạt động: “Mang đến sự hài lòng tối đa cho khách hàng”


- Tiêu chí kinh doanh:
+ Bảo đảm thực hiện đúng cam kết
+ Bảo đảm cung cấp những sản phẩm đã được chon lọc
+ Bảo đảm giá cả hợp lí
+ Bảo đảm phong cách phục vụ nhiệt tình và chu đáo
b. Quá trình hình thành và phát triển
Được thành lập từ năm 1999, đến nay Công ty CP ĐT - TM – DV – DL Đất Việt với hơn
15 năm thành lập và phát triển. Chức năng của công ty chuyên kinh doanh du lịch: tour
trong và ngoài nước, cung cấp hướng dẫn viên nội địa, hướng dẫn viên tiếng Anh, Hoa,
Đức,…cho các đối tác; khách sạn (đặt phòng hội nghị, cơ sở lưu trú cho khách hàng); đại
lí vé máy bay, tàu hỏa…
Công ty luôn thực hiện nghiêm túc các quy chế phân phối tiền lương, khen thưởng, quy
chế khoán. Bên cạnh đó đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Với nhiều cách thức, công ty
đã tuyển dụng những nhân viên có năng lực, chuyên môn cao từ nhiều nơi khác nhau.

ưu nhất, mọi khó khăn sai lầm trong kinh doanh phải được khắc phục kịp thời. Các
phòng ban phải có sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện các mục tiêu đặt ra.
Phương pháp quản lý theo phương pháp trực tuyến. Cơ cấu nhân sự của công ty

bao gồm: 2 phòng quản lí(giám đốc và phó giám đốc) và 5 phòng ban: phòng nhân
sự, phòng kế toán, phòng kinh doanh(chia thành 3 phòng nhỏ), phòng điều hành,
phòng marketing. Bộ máy tổ chức có sự liên kết chặt chẽ với nhau.


- Giám đốc: Là người trực tiếp quản lý và lãnh đạo công ty, trực tiếp quyết định vấn
đề tài chính và thực hiên các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật
Doanh Nghiệp và Điều lệ công ty. Ngoài ra, Giám đốc còn có chức năng đề ra các
chương trình và chiến lược kinh doanh.
- Phó giám đốc là người thực hiện theo sự phân công ủy quyền của giám đốc và hỗ
trợ giám đốc trong việc điều hành công ty. Tổ chức hoạt động quản trị nguồn nhân lực
doanh nghiệp, có chức năng phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định,
tuyển chọn, phát triển, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân lực
thông qua doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng của doanh
nghiệp. Góp phần động viên thúc đẩy nhân viên , tạo điều kiện cho họ bộc lộ, thăng
hoa và cống hiến tài năng cho doanh nghiệp.
+ Ban Giam đốc có quyền hạn cao nhất phụ trách điều hành mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty theo định hướng chiến lược đã được thông qua.
- Phòng nhân sự và tổ chức kế hoạch: Quản lí nhân sự cho toàn công ty, phân bổ nhân
sự, tuyển chọn nhân viên cho các phòng ban khi có yêu cầu
- Phòng kế toán: Thực hiện các nghiệp vụ kế toán tài chính, báo cáo thống kê, quyết
toán tài chính, báo cáo thuế. Theo dõi tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Thực
hiện các quy chế, nội quy khen thưởng, kỉ luật, chế độ tiền lương…
- Phòng kinh doanh:
+ Phòng kinh doanh nội địa (chia làm 2 phòng: Sales 1 và Sales 2)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status