Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu cho trường cao đẳng kinh tế công nghiệp hà nội - Pdf 47

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các quốc gia trên thế giới, việc đổi mới hay cải cách giáo dục luôn
luôn là yêu cầu thường xuyên, bức thiết nếu không muốn bị tụt hậu trong cuộc chạy
đua cho sự phát triển đang diễn ra ngày càng gay gắt. Lịch sử đã chứng minh rằng:
Không có một sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia nào mà lại tách rời ra khỏi sự
tiến bộ và thành đạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục. Ở đâu coi nhẹ giáo dục
hoặc không có đủ tri thức và khả năng để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì ở
đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn sự phá sản.
Việt Nam mặc dù vẫn là một nước đang phát triển, nhưng chúng ta không thể
không tính đến tìm một lối đi tiến nhanh vào nền kinh tế tri thức theo cách của
mình, và để đào tạo được nguồn nhân lực tri thức này, điều quan trọng đặt ra vẫn là
hệ thống giáo dục phải đảm bảo tốt nhất.
Tuy nhiên, với sự bùng nổ quy mô đào tạo cũng như sự gia tăng nhanh chóng
về số lượng của các cơ sở giáo dục nên dẫn đến việc quản lý và sự chu cấp về tài
chính gây nhiều khó khăn cho Chính phủ. Hoàn thiện cơ chế tăng cường giao quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc hệ
thống giáo dục sẽ là nền tảng cho sự nghiệp phát triển của ngành giáo dục cũng như
sự phát triển chung của đất nước.
Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội là trường công lập trực thuộc
Bộ Công Thương, tiền thân là trường Trung cấp nghiệp vụ Bộ Công Nghiệp Nặng
được thành lập năm 1961 và được nâng cấp thành trường Cao đẳng Kinh tế Công
nghiệp Hà Nội theo quyết định số : 1206/QĐ-BGDĐT năm 2006 của Bộ trưởng Bộ
Giáo Dục và Đào tạo. Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành Nhà trường luôn
giữ vững nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo cán bộ nghiệp vụ kinh tế; và công chức ngành
công nghiệp nay là ngành công thương. Kể từ khi thành lập, trường đã không ngừng
phấn đấu nhằm đa dạng hoá và mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng và uy
tín của nhà trường, cho đến nay Nhà trường đã đào tạo được hơn 100 nghìn lượt


trách nhiệm về tài chính cho trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội
5. Phương pháp nghiên cứu


3

Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, trong đó sử dụng những phương
pháp sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu liên quan, phân tích thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp sử dụng đồ thị, bảng biểu
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa lý luận cơ bản về cơ chế tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại
học, cao đẳng nói riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở trường
Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội. Là tài liệu tham khảo cho trường Cao đẳng
kinh tế công nghiệp Hà Nội và các trường khác thuộc Bộ công thương
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Tổng quan về hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
trong đơn vị sự nghiệp có thu.
1.1. Tổng quan lý thuyết về hiệu quả cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
trong đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và các trường đại học, cao đẳng nói riêng
1.2. Thực trạng hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính trong các trường đại học, cao đẳng công lập ở Việt Nam và một số nước trên
thế giới
1.3. Các công trình, luận văn, luận án đã công bố có liên quan đến đề tài
Chương 2: Phân tích hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
tài chính với trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội giai đoạn 2010-2012
2.1. Giới thiệu chung về trường Cao đẳng kinh tế công nghiệp Hà Nội

và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập (hay còn
gọi là đơn vị sự nghiệp có thu) được khái niệm như sau:
Đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị do Nhà nước có thẩm quyền quyết
định thành lập nhằm thực hiện cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục,
môi trường, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm.
b. Vai trò của đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế:
Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế và có vị
trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân. Hiện nay cả nước có khoảng
25.631 đơn vị sự nghiệp, trong đó có 845 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt
động, 10.431 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động và 14.355
đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động. Trong thời gian qua,
các đơn vị sự nghiệp công ở Trung ương và Địa phương đã có nhiều đóng góp cho
sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thể hiện:
- Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao... có
chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
- Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và cung cấp
nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng, khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân


6

dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ, cung ứng các sản
phẩm văn hóa và nghệ thuật... phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công đều
có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình
lớn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước đã góp
phần tăng cường nguồn lực cùng với NSNN đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa
nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ chương xã hội hóa hoạt

đảm bảo quản lý thống nhất và có hiệu quả hoạt động của các đơn vị này, người ta
tiến hành phân loại đơn vị sự nghiệp có thu như sau:
a. Theo đối tượng quản lý:
Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc cơ quan hành chính Nhà nước như các
Cục, Bộ, cơ quan ngang bộ: Những đơn vị này hoạt động theo các quy định của Nhà
nước và của Cục, Bộ chủ quản, nên có tính linh hoạt và chủ động khá cao.
Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một doanh nghiệp Nhà nước; là những
đơn vị thực hiện những chức năng, nhiệm vụ mà doanh nghiệp này giao cho. Tính
linh hoạt của đơn vị sự nghiệp này không cao vì không chỉ phụ thuộc vào quy định
của Chính phủ mà còn phải tuân theo các quy chế hoạt động của doanh nghiệp.
Đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc một tổ chức do Nhà nước cấp giấy phép
hoạt động.
b. Theo phạm vi hoạt động:
Đơn vị sự nghiệp có thu ở Trung ương: các đơn vị này là các cơ quan trực
thuộc Cục, Bộ, cơ quan ngang Bộ, chịu sự quản lý trực tiếp của các Bộ cơ quan chủ
quản.
Đơn vị sự nghiệp có thu ở địa phương: các đơn vị này chịu sự quản lý trực
tiếp của chính quyền địa phương (các Ủy ban nhân dân)
Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu dựa trên căn cứ xác định mức kinh phí Nhà
nước cấp để đảm bảo cho hoạt động thường xuyên hàng năm của đơn vị ổn định
trong 3 năm của thời kỳ phân loại


8

Mức tự đảm bảo chi

Tổng số nguồn thu sự nghiệp

phí hoạt động thường =

tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành;


9

- Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp đại học;
- Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có
bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ. Trong
trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài theo quy
định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trường đại học, cao đẳng công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
b. Mục tiêu của giáo dục đại học, cao đẳng
- Mục tiêu của giáo dục đại học, cao đẳng là đào tạo người học có phẩm chất
chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành
nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ
năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên
ngành được đào tạo.
- Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và
có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải
quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo
- Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao
về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải
quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo.
- Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và
thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những

Dân chủ hóa trong các trường đại học, cao đẳng nhằm phát huy tối đa năng
lực sáng tạo của tập thể Nhà trường và cá nhân vào việc tổ chức, quản lý giảng dạy
và giáo dục và sự phát triển trường đại học. Dân chủ hóa trường đại học sẽ biến tất
cả các thành viên trong Nhà trường thành những chủ thể của quá trình giáo dục,
biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình quản lý thành quá
trình tự quản lý. Dân chủ hóa trường đại học sẽ giải phóng cả thầy lẫn trò và người
quản lý khỏi sự ràng buộc, không ép bởi một thể chế đơn điệu cứng nhắc, mở ra
chân trời rộng lớn cho người lao động sáng tạo. Mạnh dạn phân cấp cho từng bộ


11

phận trong hệ thống tổ chức Nhà trường. Phát huy tính tự chủ của từng tập thể, từng
cá nhân, thực hiện trách nhiệm đi đôi với quyền lợi, khen thưởng đi đôi với kỷ luật,
bổ nhiệm đi đôi với bãi nhiệm, đó là những yếu tố then chốt trong quản lý nhằm
khai thác hết năng suất của mọi thành viên và mọi tập thể Nhà trường.
Nhân văn hóa trong trường đại học, cao đẳng là một yếu tố quan trọng của
chiến lược con người mà rất nhiều nước trên thế giới hiện rất quan tâm. Tư tưởng
chủ đạo của quá trình giáo dục và đào tạo là sự phát triển của người học. Yếu tố
then chốt trong tư tưởng đó là tôn trọng nhân cách, phẩm giá người học, tôn trọng
cá tính, những nhu cầu và hứng thú cá nhân của người học. Nhân văn hóa trong
trường đại học đảm bảo tôn trọng và kế thừa những di sản văn hóa quý báu của dân
tộc và thế giới. Nhân văn hóa trong trường đại học đòi hỏi phải giáo dục thẩm mỹ,
giáo dục thể chất, chăm lo sức khỏe đời sống vật chất và tinh thần của người dạy và
người học trong trường.
Một vấn đề đặc biệt quan tâm nữa trong hoạt động đào tạo của trường đại
học là chăm lo đội ngũ giảng viên – lực lượng tri thức, những người vun đắp cho
các thế hệ tương lai của đất nước. Trong điều kiện khoa học, kỹ thuật phát triển
nhanh chóng, muốn hiện đại hóa giáo dục và đào tạo trước hết phải hiện đại hóa
thầy giáo, cô giáo, đặc biệt là đội ngũ thầy cô giáo các trường đại học, cao đẳng,

-

Trách nhiệm với người học, với xã hội:
Là trách nhiệm đảm bảo chất lượng cam kết, trách nhiệm sử dụng hiệu quả,

minh bạch kinh phí đóng góp của người học và xã hội cầu người học. Khi người
học và người sử dụng lao động đều có quyền tự do lựa chọn, các trường không thể
đào tạo không đáp ứng nhu cầu của xã hội, không thể thu mức học phí không tương
xứng với chất lượng đào tạo người học mong đợi.
-

Trách nhiệm với Nhà nước:
Là trách nhiệm đảm bảo mọi hoạt động của Nhà trường, theo sứ mạng đã

công bố, trong khuôn khổ của pháp luật, trách nhiệm sử dụng kinh phí đầu tư của
Nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát
của các cơ quan quản lý Nhà nước.
-

Trách nhiệm đối với chính đơn vị của mình


13

Là trách nhiệm phát triển đơn vị một cách bền vững, giữ vững và nâng cao
uy tín của đơn vị vì quyền lợi của tập thể của đội ngũ cán bộ viên chức.

1.1.3.2. Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
Xây dựng và áp dụng cơ chế tài chính mới nhằm quản lý hiệu quả, phát triển

Thứ nhất, đảm bảo nguồn tài chính giúp các trường đại học thực hiện đổi
mới đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cho Nhà trường, từ đó góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo.
Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng và có chất lượng là nhân tố quan trọng
quyết định chất lượng đào tạo của một trường đại học. Nếu các trường đại học đảm
bảo nguồn tài chính để trang trải tiền lương tối thiểu cho giáo viên và điều kiện làm
việc, cơ sở vật chất và cơ hội học tập, thăng tiến về mặt chuyên môn thì khi đó
giảng viên mới toàn tâm, toàn ý cho công tác giảng dạy nghiên cứu, từ đó góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo.
Thứ hai, đảm bảo nguồn tài chính trong các trường đại học góp phần phát
triển kinh tế xã hội của đất nước
Cơ chế tài chính không những tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục đào tạo trong
các trường đại học phát triển, mà còn có ý nghĩa đảm bảo cho lĩnh vực này hoạt động
đúng hướng, đúng mục tiêu ý đồ của nhà cầm quyền. Nói cách khác, cơ chế tài chính là
biện pháp vĩ mô để nhà nước điều tiết hoạt động giáo dục đào tạo.
Thứ ba, đảm bảo nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, tạo cơ hội cho sinh
viên từng bước tiếp cận thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà
trường
Nhờ có nguồn tài chính cho KH&CN, đội ngũ giáo viên có điều kiện tham
gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Do đó, qua tham gia nghiên cứu khoa học,
đội ngũ giáo viên trong trường đại học có điều kiện rèn luyện trong cả môi trường
nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sản xuất kinh doanh. Tạo động lực để các nhà
khoa học không ngừng sáng tạo trong nghiên cứu, nâng cao năng lực nghiên cứu và
chất lượng đào tạo của đội ngũ giáo viên Nhà Trường.
- Thông qua tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sinh viên tìm hiểu sâu hơn
những kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập, từng bước ứng dụng vào thực
tiễn, từ đó chất lượng đào tạo được nâng cao.


15



16

+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước theo quy định của pháp luật.

Ngân sách nhà nước cấp
Nguồn thu
Thu từ hoạt động sự nghiệp

Hình 1.1: Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp có thu
* Nội dung chi của đơn vị sự nghiệp có thu
- Chi thường xuyên:
+ Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao;
+ Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí;
+ Chi cho các hoạt động dịch vụ
- Chi không thường xuyên, gồm:
+ Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
+ Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
+ Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố
định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
+ Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;

Chi thường xuyên
Nguồn chi
Chi không thường xuyên
Hình 1.2: Nguồn chi của đơn vị sự nghiệp có thu



b) Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:


18

- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định tại điểm b khoản
2 Điều 18 Nghị định này;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền
lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm.
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm, bằng hoặc nhỏ hơn một
lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập
tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập,
Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó; đối
với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền
lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm.

1.2. Thực trạng hiệu quả việc áp dụng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về tài chính trong các trường đại học, cao đẳng công lập ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình triển khai thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam
Triển khai nghị định 43/2006/NĐ-CP, các Bộ và cơ quan Trung ương đã giao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 741 đơn vị trực thuộc; trong đó
có 208 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động; 461 đơn vị sự nghiệp tự đảm
bảo một phần chi phí hoạt động và 72 đơn vị do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí
hoạt động.
Các địa phương đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho
24.890 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, trong đó: 637 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi
phí hoạt động; 9.970 đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và

Trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ, thủ trưởng các đơn vị được tự quyết định
mức chi quản lý, chi nghiệp vụ một cách linh hoạt theo quy định của nhà nước tùy
theo nội dung và hiệu quả công việc trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng.
Đặc biệt đối với các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động được tự chủ
trong chi tiêu, không phụ thuộc vào các định mức quy định của nhà nước.
Như vậy, thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính các đơn vị sự nghiệp có thu
của thành phố Hà Nội đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên mọi lĩnh vực Giáo
dục và Đào tạo, Dạy nghề, Y tế, Văn hóa – Thông tin, Thể dục thể thao và lĩnh vực


20

khác. Số thu sự nghiệp, số kinh phí tiết kiệm trong năm, thu nhập bình quân đầu
người đều tăng trong khi tổ chức biên chế được tinh gọn.
Một số kết quả đạt được
Các ĐVSNCT khi được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
đã phát huy được quyền tự chủ, chủ động khai thác các nguồn thu sự nghiệp, mở
rộng và đa dạng hóa các loại hình cung ứng dịch vụ, chủ động sử dụng các nguồn
kinh phí theo yêu cầu hoạt động của đơn vị, đảm bảo chi tiêu có hiệu quả, tiết kiệm
trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng.
Thu nhập của cán bộ viên chức được nâng lên. Ngoài việc đảm bảo tiền
lương cơ bản theo ngạch bậc do Nhà nước quy định, các đơn vị đều đã có nguồn để
tăng thu nhập cho người lao động tuy còn ở mức độ khác nhau tùy theo khả năng
thu và tiết kiệm chi của đơn vị. Từng bước giải quyết khó khăn về đời sống cho
người lao động và khuyến khích người lao động nâng cao tinh thần trách nhiệm,
gắn bó với công việc.
Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý, nghiệp vụ cao hơn mức
chi Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng.
Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần khẳng định việc giao quyền tự
chủ tài chính cho ĐVSNCT là một cơ chế đúng đắn, phù hợp với yêu cầu cải cách

không chính xác: do các đơn vị sự nghiệp lập dự toán không sát và cơ quan chủ
quản chưa thẩm tra, đánh giá đầy đủ, nên đã xác định sai loại hình đơn vị sự nghiệp
để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.
Đơn vị đã tự chủ toàn bộ chi phí hoạt động, nhưng cơ quan chủ quản vẫn cho
phép áp dụng cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí
hoạt động thường xuyên. Việc đơn vị xác định không đúng loại hình tự chủ dẫn đến
NSNN hàng năm vẫn phải cấp bù kinh phí hoạt động thường xuyên (Ví dụ có đơn
vị từ năm 2009 đến năm 2011, tỷ lệ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên
năm 2009 là 144%, năm 2010 là 166%, năm 2011 là 146%, nhưng vẫn được NSNN
cấp bổ sung kinh phí: năm 2009 là 431 triệu đồng, năm 2010 là 200 triệu đồng...).
Thứ tư, quản lý các hoạt động dịch vụ còn nhiều sai sót, thiếu hướng dẫn:
Hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp cũng đã đóng góp một phần đáng kể


22

nguồn thu cho đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên... song việc quản lý
hoạt động dịch vụ tại các đơn vị cũng còn nhiều tồn tại như: chưa hướng dẫn giá thu
dịch vụ, phân phối việc liên kết với các tổ chức cá nhân có máy móc thiết bị (tại các
bệnh viện thuộc Bộ Y tế) hạch toán thiếu, không kịp thời doanh thu, chi phí dẫn tới
thực hiện nghĩa vụ với NSNN không đầy đủ, thiếu thuế GTGT, thiếu thuế TNDN...
Thứ năm, việc xác định quỹ tiền lương và thu nhập tăng thêm: một số đơn
vị, vừa đồng thời thực hiện các dự án, nhiệm vụ Nhà nước giao, vừa thực hiện hoạt
động kinh doanh dịch vụ, nên không thể tách bạch rõ về quỹ tiền lương, chi phí
quản lý, các khoản chi phí chung... Nhiều đơn vị đã không xây dựng đơn giá tiền
lương, thực hiện hạch toán quĩ tiền lương của hoạt động dịch vụ mà thường ký các
hợp đồng thuê khoán chuyên môn, trả tiền công theo các hợp đồng vụ việc; Như
vậy thực chất đã ẩn cả thu nhập tăng thêm, thậm chí là các khoản chi phúc lợi, lễ
tết... vào trong chi phí trước thuế TNDN, đã dẫn tới giảm số thuế TNDN phải nộp
NSNN và không thể hạch toán được chênh lệch thu-chi, không có nguồn để trích

Theo quy định hiện hành, dự án khi lập và phê duyệt dự toán, đơn giá tiền
lương không tính chi phí khấu hao TSCĐ, máy móc thiết bị vì các máy móc, trang
thiết bị là do NSNN đã đầu tư và trang bị cho các đơn vị. Tuy nhiên, trong xu thế
cải cách tài chính công hiện nay, NSNN sẽ giảm dần, tiến tới không cấp kinh phí
mua sắm trang thiết bị, tài sản cho các đơn vị này, vì vậy việc không tính chi phí
khấu hao máy móc, thiết bị, tài sản vào đơn giá thì về lâu dài các đơn vị sẽ không có
nguồn để tiếp tục tái đầu tư phát triển các hoạt động sự nghiệp.
* Lĩnh vực Thông tin và Truyền thông:
Các cơ quan có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn về việc thu lệ
phí cấp giấy phép nhập khẩu đối với loại thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện, nên
đơn vị đã không thực hiện thu phí cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị này chưa có quy
định về việc quản lý thu, chi đối với hoạt động duy trì, khai thác hệ thống trung
chuyển lưu lượng Internet quốc gia.
Tỷ lệ phí, lệ phí do cơ quan có thẩm quyền ban hành, cho phép đơn vị được
để lại số thu lớn hơn nhu cầu chi thực tế của đơn vị, là không hợp lý và công bằng.
Ví dụ có đơn vị tỷ lệ phí, lệ phí được để lại cao (90%), thực tế chi phí hoạt động
hàng năm thấp; cụ thể: năm 2006 số chi hoạt động chỉ bằng 18,66% số thu, năm


24

2007 là 30,68%; năm 2008 là 32,63% và năm 2009 là 34,12%... do được để lại
nhiều, nên đơn vị đã chi tiền lương tăng thêm rất cao.
Một số nguyên nhân:
- Công tác tuyên truyền, triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở một
số Bộ, ngành, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức, vì vậy một bộ phận cán bộ
chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ dẫn đến chưa thực hiện đúng tinh thần Nghị định số
43/2006/NĐ-CP.
- Cơ chế quản lý và phương thức hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công lập chưa được đổi mới đồng bộ dẫn đến chất lượng và hiệu quả

chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo 54 đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về tài chính tổ chức xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo quy định để
quản lý và sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên, công khai trong đơn vị. Kết
quả thực hiện đến nay đã có 54/54 đơn vị đã xây dựng, ban hành quy chế chi tiêu
nội bộ.
Một số kết quả đạt được:
Thực hiện giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính cho 54 đơn vị
trực thuộc Bộ, kết quả đạt được rất thuận lợi về quản lý và sử dụng so với cơ chế
trước đây, cụ thể là:
Thủ tục hành chính giảm thiểu đáng kể các thủ tục xác nhận và phê duyệt chi
tiêu cụ thể của Bộ với đơn vị, góp phần cải cách hành chính trong quản lý, không
còn tình trạng chờ đợi cấp trên phê duyệt, các đơn vị phải chịu trách nhiệm về quyết
định nội dung, chi tiêu cụ thể, tự đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao năng lực trong
công tác quản lý.
Nhiều đơn vị đã có nhiều đổi mới trong hoạt động để mở rộng nguồn thu, cải
thiện thu nhập, tăng thu nhập cho người lao động, trích lập các quỹ khen thưởng,
phúc lợi chăm lo cho người lao động.
Nhiều đơn vị đã tự chủ động cân đối tài chính cho hoạt động, nhưng chi tiêu
rất tiết kiệm so với chế độ cho phép, đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí
hoạt động thường xuyên, được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người
lao động không quá 3 tháng lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định.
Nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị trực thuộc Bộ, tăng hơn so với các năm
trước do Nhà nước có sự điều chỉnh về mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh, điều này
đã phần nào giảm bớt khó khăn về kinh phí cho các trường trong điều kiện hơn 10



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status