1
Mở đầu
Lịch sử kinh tế là một môn khoa học nghiên cứu sự phát triển tổng hợp
nền kinh tế của một nước hoặc một số nước trong một giai đoạn lịch sử nào
đó. Khoa học lịch sử kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức lý luận và
trong công tác thực tiễn. Việc nghiên cứu lịch sử kinh tế của các nước trên thế
giới (của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa), hay lịch
sử kinh tế Việt Nam đều sẽ làm giàu thêm kiến thức, làm sâu sắc thêm lý luận
và sẽ làm sáng tỏ thêm thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. Đối với
những cán bộ và sinh viên kinh tế, môn lịch sử kinh tế có vị trí quan trọng
trong cơ cấu kiến thức, nó là môn kinh tế cơ sở, trang bị kiến thức kinh tế
chung tổng hợp để người học tiếp thu kinh tế chuyên ngành tốt hơn. Với ý
nghĩa đó, nghiên cứu cuộc cách mạng công nghiệp nước Anh trong lịch sử là
vấn đề có giá trị cực kỳ to lớn, là bài học kinh nghiệm quý báu đối với công
cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
Nội dung
Cũng như nhiều nước khác ở Châu Âu, vào những năm đầu của thế kỷ
XVI sự ra đời chủ nghĩa tư bản ở Anh cũng chịu ảnh hưởng của phân công lao
động và sự ra đời của thành thị phong kiến; của những cuộc thám hiểm; của
sự tích luỹ nguyên thuỷ tư bản… Nhiều nông phẩm trước kia nước Anh chưa
hề biết, như thuốc lá, ca cao, cà phê, chè…đã được nhập ngày càng nhiều.
Phương pháp thương nghiệp quốc tế thay đổi, nước Anh đã thành lập các tổ
chức thương nghiệp độc quyền, chuyên bán một thứ hàng ở một thị trường
nhất định như công ty châu Phi, công ty Đông ấn. Các thành phố ở Anh dần
trở thành trung tâm buôn bán quốc tế. Quá trình tích luỹ nguyên thuỷ ở Anh
diễn ra sớm, tàn khốc với nhiều biện pháp điển hình như tước đoạt ruộng đất
của nông dân bằng bạo lực, buôn bán nô lệ, cướp biển, xâm chiếm thuộc địa,
2
phát hành công trái, thực hiện chế độ bảo hộ công nghiệp, độc quyền ngoại
Bên cạnh đó, sự phát triển của CNTB trong nông nghiệp cũng là tiền đề cho
cách mạng công nghiệp Anh. Năm 1801, Anh ra đạo luật về rào đất, cho phép chủ
đất thả cửa cướp ruộng đất của nông dân. Nguồn vốn lấy từ các nước thuộc địa đã
thúc đẩy cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp. Nông nghiệp Anh cung cấp ngày
càng nhiều lông cừu cho nghề dệt len dạ. Sự tác động giữa công nghiệp và nông
nghiệp đã thúc đẩy quá trình cách mạng công nghiệp Anh mạnh mẽ hơn.
Những tiền đề về chính trị: cách mạng tư sản ở Anh tiến hành một cách
triệt để, chế độ phong kiến dần tan dã trong quá trình rào đất và tước đoạt tư
liệu sản xuất. Giai cấp tư sản Anh nắm chính quyền có nhiều chính sách phục
vụ cho cách mạng công nghiệp, như các đạo luật về ruộng đất, những luật bảo
vệ quyền lợi giai cấp tư sản, luật khuyến khích nông nghiệp, luật cấm lao
động kỹ thuật ra nươc ngoài… Những chính sách đó đã chuẩn bị tiền đề cho
cuộc cách mạng công nghiệp Anh.
Diễn biến cuộc cách mạng công nghiệp Anh
Cuộc cách mạng công nghiệp Anh thực sự diễn ra mạnh mẽ cùng với sự
phát triển của các nhà máy công nghiệp và những năm 60 của thế kỷ XVIII,
nhưng những dấu hiệu đầu tiên của cuộc cách mạng là:
Trong lĩnh vực dệt, năm 1733 trong công nghiệp dệt xuất hiện chiếc thoi
bay chạy bằng dây và sức đẩy của bàn đạp thay thế việc đưa bằng tay. Cho
đến năm 1760, thoi bay được áp dụng phổ biến, làm năng suất dệt tăng gấp 7
lần và gây ra mâu thuẫn trong ngành dệt: dệt nhanh dùng nhiều sợi nhưng sợi
không cung cấp kịp.
Tám năm sau (1768) có nhà sáng chế Giêm Hacgivơ chế tạo máy kéo sợi,
làm số lượng sợi được sản xuất ra nhiều. Song chất lượng sợi chưa đảm bảo. Đến
1779 Xaman Crômốp đã đóng chiếc máy sợi mới, với sản lượng cao và chất
4
lượng sợi vừa bền, vừa mịn. Lúcc này, sản phẩm sợi của Anh cạnh tranh với sợi
ấn Độ. Từ đó làm cho khối lượng sợi tăng lên nhanh chóng khiến cho các thợ dệt
khánh thành nối từ Stockton với Darlington, với chiều dài 27 km, sau đó là
nhiều tuyến đường sắt khác đã góp phần thúc đẩy nhịp độ phát triển nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói lấy sự xuất hiện đường sắt đầu tiên làm sự
kiện kết thúc cách mạng công nghiệp Anh.
Đặc điểm cuộc cách mạng công nghiệp Anh
Thứ nhất, cách mạng công nghiệp Anh bắt đầu từ công nghiệp nhẹ (ngành
dệt) sau đó mới đến ngành công nghiệp nặng như luyện kim, cơ khí. Tuy nhiên,
ngành dệt luôn đóng vai trò trụ cột trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp.
Thứ hai, cách mạng công nghiệp Anh diễn ra theo trình tự từ thấp tới cao, từ
thủ công lên nửa cơ khí và cơ khí hoá hoàn toàn một quá trình sản xuất; từ các
máy công cụ đến các máy động lực, đỉnh cao nhất là chế tạo máy hơi nước.
Thứ ba, cách mạng công nghiệp Anh căn bản hoàn thành vào năm 1825,
khi hệ thống công xưởng dựa trên kỹ thuật cơ khí của chủ ngnhĩa tư bản đã
hình thành và thể hiện ưu thế hơn hẳn so với sản xuất thủ công nghiệp và
công trường thủ công.
Thứ tư, đây là quá trình tước đoạt, bần cùng hoá nhân dân lao động trong
nước và các nước thuộc địa.
Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Việt Nam không hoàn toàn diễn lại cuộc cách mạng công nghiệp như các
nước khác trên thế giới. Chúng ta xây dựng kinh tế trên cơ sở thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước. Sự nghiệp CNH, HĐH được
tiến hành sau nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó trang thiết bị
của chúng ta đã bị lạc hậu hàng trăm năm so với các nước tiên tiến trên thế giới
(cuộc cách mạng công nghiệp Anh tiến hành từ 1733 đến 1825). Đó là một khó
khăn và thiệt thòi lớn, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra cho chúng ta những
6
thuận lợi nhất định, thể hiện trước hết ở chỗ thông qua những kinh nghiệm
thành công và không thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới,
sang sử dụng phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học, công
nghệ, tạo ra năng xuất lao động cao.
Đại hội X (2006) đã xác định: Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến,
chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất
quan trọng, công nghiệp quốc phòng, góp phần xây dựng nền tảng cho một
nước công nghiệp và nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Như vậy, vấn đề quan trọng của CNH, HĐH là phải tiến hành cách mạng
khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tự trang bị.
Trong mấy chục năm gần đây, thế giới đã diễn ra những biến đổi cực kỳ
to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Nội
dung của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ II không chỉ dừng lại ở
tính chất hiện đại của các yếu tố tư liệu sản xuất mà còn ở kỹ thuật công nghệ
hiện đại, phương pháp sản xuất tiên tiến. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải
nhanh chóng tiếp thu những thành tựu KH-CN hiện đại hiện nay, trên cơ sở kế
thừa và học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến đi trước.
Nghiên cứu cuộc cách mạng công nghiệp Anh, cuộc cách mạng công
nghiệp đầu tiên trên thế giới là việc làm hết sức cần thiết cho mỗi bước đi
trong quá trình CNH, HĐH của ta. Trong điều kiện hiện nay, chúng ta phải
biết khai thác và phát huy thế mạnh của đất nước. Cần phải đầu tư vào nông
nghiệp, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, phát triển mạnh ngành
nghề dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn, áp dụng nhiều phương
pháp công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề
của lao động nông thôn, tạo thêm công ăn việc làm để tăng thêm thu nhập cho
8
nông dân. Từng bước đưa nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam
thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành
bón, hoá chất, xi măng, khai thác boxít và sản phẩm của alumin, bột giấy…
Kết luận
Sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Nó nhằm tới
những mục tiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng, nó đổi mới hàng loạt
những vấn đề trong cả lý luận và thực tiễn; cả kinh tế và chính trị - xã hội. Do
đó, việc nghiên cứu ứng dụng những thành tựu KH- CN hiện đại cùng với kế
thừa những bài học kinh nghiệm của các nước đi trước là vấn đề có tính
nguyên tắc đối Việt Nam. Cuộc cách mạng công nghiệp Anh diễn ra cách đây
gần 200 năm, song kinh nghiệm để lại vẫn còn nhiều giá trị thực tiễn đối với
các nước đi sau, trong đó có Việt Nam. Biết kế thừa có chọn lọc và vận dụng
sáng tạo cho phù hợp với điều kiện cụ thể đất nước, sẽ bảo đảm cho quá trình
thực hiện CNH, HĐH đáp ứng được mục tiêu biến đổi nước ta thành nước
công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý; quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với phát triển của sản xuất; nguồn lực con người
được phát huy; mức sống vật chất tinh thần được nâng cao; quốc phòng, an
ninh vững chắc; “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”