NHU cầu GIẢI TRÍ của THANH NIÊN hà nội HIỆN NAY - Pdf 48

NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA THANH NIÊN HÀ NỘI HIỆN NAY
MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề
Từ xưa đến nay, lao động luôn là hoạt động cần thiết của con người nhằm
tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu sinh tồn của cá nhân và xã hội. Trong
quá trình lao động, con người luôn cần có sự đầu tư thời gian và công sức để có
thể đạt hiệu quả cao nhất. Sự cố gắng đó đôi khi khiến con người rơi vào trạng
thái căng thẳng, mệt mỏi, gây ảnh hưởng không tốt đến kết quả lao động trong
thời gian tiếp theo của họ. Chính vì thế, giải trí đã trở thành nhu cầu của mọi cá
nhân, nhóm xã hội nhằm lấy lại sự thăng bằng sau thời gian lao động cần thiết
của mỗi người. Giải trí giúp các thành viên xã hội xoá tan đi cảm giác mệt mỏi,
tái sản xuất sức lao động của họ, khiến cho quá trình sản xuất, cống hiến của họ
không bị gián đoạn. Nói như vậy để thấy vai trò của giải trí là rất quan trọng
trong đời sống của mỗi cá nhân xã hội.
Sau hơn mười năm đổi mới, nền kinh tế của nước ta đó cú nhiều biến
chuyển mạnh mẽ. Thu nhập bỡnh quõn đầu người tăng, mức sống của các gia
đỡnh được cải thiện, nhu cầu của cá nhân cũng ngày một cao hơn không chỉ là
nhu cầu vật chất, mà cũn là nhu cầu văn hoá tinh thần. Nó đũi hỏi một sự đáp
ứng tốt nhất, kịp thời nhất và có hiệu quả nhất.
Thanh niên là những người chủ tương lai của xã hội. Xã hội hiện đại đòi
hỏi ở họ khả năng tư duy, mong đợi ở họ sự cố gắng không ngừng để chiếm lĩnh
thành công trong học tập và công việc. Nhu cầu giải trí trong thanh niên là vô
cùng lớn, nhất là thanh niên đô thị nói chung, trong đó có thanh niên Hà Nội.

1


Cú thể nói thanh niên Hà Nội hiện nay đang hàng ngày hàng giờ tiếp cận
với những phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, với Internet và rất nhiều
loại hỡnh giải trớ mà chỉ mới cỏch đây một vài năm cũn khỏ hiếm hoi. Tớnh đa

trình thực nghiệm, kết quả những đề tài nghiên cứu liên quan, số liệu thống kê…
liên quan đến thực trạng và sự biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội
phục vụ cho đề tài.
2. Phương phỏp quan sỏt: được chúng tôi sử dụng để tìm hiểu và đánh giá
thực trạng và sự biến đổi nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội trong thời gian
vừa qua.
3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 6 đối
tượng là đoàn viên thanh niên Hà Nội nhằm tìm hiểu ý kiến của họ về cách thức
giải trí của họ, cũng như nhận định của họ về sự biến đổi nhu cầu giải trí của
thanh niên trong thời gian vừa qua.

NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA THANH
NIấN
1. Nhu cầu:
Theo từ điển tóm tắt Xó hội học (tiếng Nga) “Nhu cầu là đũi hỏi điều gỡ
đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người,
của nhóm xó hội hoặc toàn xó hội núi chung, là nguồn thụi thỳc nội tại của hoạt
động” [ ]

3


Khỏi niệm trờn cho thấy nhu cầu mang tính sinh học, nhằm đáp ứng
những đũi hỏi của sự phỏt triển sinh học của con người, song mặt khác nhu cầu
cũng mang tính xó hội thể hiện ở chỗ dự là của riờng cỏ nhõn nhưng nhu cầu chỉ
có thể được đáp ứng nhờ nền sản xuất xó hội. Nhu cầu của con người là giống
nhau nhưng ở mỗi thời đại, mỗi xó hội lại đáp ứng chúng theo các cách khác
nhau. Nhu cầu cũn được đáp ứng trong khuôn khổ của phong tục tập quán cộng
đồng và bị quy định bởi văn hoá cộng đồng.

gian rỗi cấp đời người.
Thời gian rỗi đối với các cấp độ khác nhau cho phép con người thực hiện
những hoạt động giải trí khác nhau. Vỡ thế khi nghiờn cứu về nhu cầu giải trớ
khụng thể khụng nghiên cứu theo các cấp độ thời gian rỗi này.
3. Giải trớ.
Theo từ điển xó hội học “Giải trớ là một dạng hoạt động của con người,
đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và
mỹ học” và “giải trí không phải là nhu cầu của từng cỏ nhõn, mà cũn là nhu cầu
của đời sống cộng đồng” []
Giải trí không đối lập và tách rời với lao động cũng như lao động, giải trí
là một bộ phận cấu thành của hoạt động sống của con người. Nó là dạng hoạt
động hoàn toàn tự do mà cá nhân có toàn quyền lựa chọn theo sở thớch, trong
khuụn khổ hệ thống chuẩn mực xó hội. Nú đồng thời cùng là hoạt động không
vụ lợi, nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt sự thư gión, thanh
thản trong tõm hồn, và cao hơn nữa là đạt tới những rung cảm thẩm mỹ của cá
nhân như thưởng thức nghệ thuật , chơi các trũ chơi, sinh hoạt tôn giáo… là hoạt
động giải trí và thời gian rỗi dành cho giải trí được gọi là thời gian rỗi.

5


4. Nhu cầu giải trớ.
Giải trí là nhu cầu của con người vỡ nú đáp ứng những đũi hỏi bức thiết
của cỏ nhõn, nếu thiếu nú thỡ sự phỏt triển của cỏ nhõn khụng thể đầy đủ và
toàn diện. Sau thời gian lao động mệt mỏi và căng thẳng, các hoạt động giải trí
trở nên vô cùng cần thiết cho việc tái sản xuất sức lao động của con người. Nhu
cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí.
Giải trí là hoạt động thẩm mỹ diễn ra trong thời gian nhàn rỗi, mà thời
gian rỗi có những cấp độ khác nhau cho nên hoạt động giải trí cũng được phân
theo những cấp độ tương ứng như giải trí cấp ngày, giải trí cấp tuần, giải trí cấp

trong việc tỏi sản xuất sức lao động của con người. Mỗi cá nhân, nhóm xó hội
lại cú nhu cầu giải trớ ở mức độ khác nhau, do quỹ thời gian rỗi, sở thích của cá
nhân, nhóm… đó quy định. Theo các nhà văn hoá học, thời gian nhàn rỗi được
chia làm nhiều cấp độ, trong đó, 3 cấp độ thường được nhắc đến nhất là thời
gian nhàn rỗi cấp ngày, cấp tuần và cấp năm. Dưới đây chúng ta sẽ cùng xem xét
nhu cầu và hoạt động giải trí của thanh niên Hà Nội theo 3 cấp độ thời gian nhàn
rỗi này.
a. Hoạt động giải trớ trong thời gian nhàn rỗi cấp ngày của thanh niờn Hà
Nội.
“Giải trí đối với trẻ em là sự lớn lên, là sự vươn tới cuộc sống. Cũn đối
với người lớn, đó là sáng tạo, là sự đổi mới cuộc sống” [ ]. Như vậy giải trí
không đơn thuần chỉ là giải toả căng thẳng, lấy lại sự cõn bằng cho trớ nóo, mà
giải trớ thực sự là sự đổi mới cuộc sống diễn ra đều đặn hàng ngày của con
người, đặc biệt đối với đối tượng thanh niên, lứa tuổi đang có những biến đổi
lớn về tâm - sinh lý, về nhõn cỏch thỡ giải trớ đối với họ càng cần thiết hơn bao
giờ hết.
7


Tính đến thời điểm năm 2005, các loại hỡnh giải trớ giành cho thanh niờn
ngày càng trở nờn phong phỳ, đa dạng hơn, đặc biệt là thanh niên ở thủ đô Hà
Nội. Bên cạnh các loại hỡnh giải trớ cũ cũn xuất hiện khỏ nhiều những loại hỡnh
mới (như chat trên mạng Internet, chơi games, đánh tennis, chơi bowling, hát
karaoke, hoặc “nấu cháo điện thoại”…). Nếu như vào thời kỳ trước đổi mới năm
1986, các loại hỡnh vui chơi giải trí chỉ có được thông qua các trang báo (số
lượng đầu báo cũng rất hạn chế), qua cỏc dịp lễ hội, qua việc gặp mặt bạn bố…
thỡ đến khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, báo chí, truyền hỡnh, phỏt
thanh… đó trở nờn ngày càng phổ biến hơn, các kênh truyền hỡnh khụng ngừng
cú những cải tiến lớn nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công chúng. Năm 2000,
Internet trở thành phổ biến khi bùng nổ các điểm dịch vụ trên toàn quốc. Đến

Hà Nội 2000

8


Xem Ti vi
Tiếp bạn
Nghe nhạc
Chơi thể thao

50
48
-

2
3
-

33.93
14.09
29.37
26.79

1
5
2
3

Bảng trên cho thấy nếu như năm 1996 thứ tự ưu tiên của các loại hình
giải trí là đọc sách báo, sau đó là xem T.V, rồi đến tiếp bạn bè, thì đến năm

Nếu như trong nghiên cứu năm 1996, số liệu về những người ưa thích
nghe nhạc còn chưa xuất hiện thì đến năm 2000 nó đã vượt lên xếp vị trí số 2.
Giải thích hiện tượng trên có thể thấy nó có mối quan hệ mật thiết với sự có mặt
ngày càng phổ biến của thị trường đầu máy CD, VCD, DVD… và thị trường
băng đĩa ca nhạc. Qua quan sát có thể thấy nếu như vào năm 1996, số lượng các
gia đình sử dụng dàn máy nghe đĩa còn khá hiếm hoi, thì đến năm 2000, con số
đã tăng nhanh đáng kể theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, dàn máy nghe
đĩa đã trở thành phương tiện giải trí khá thông dụng trong hầu hết các gia đình ở
Hà Nội. Băng đĩa nhạc được sản xuất ồ ạt, bao gồm cả nhạc trong nước và nhạc
quốc tế. Nếu như ở thời điểm năm 1996, việc mua một đĩa VCD ưng ý là vô
cùng khó khăn, thì đến năm 2000, thị trường băng đĩa nhạc Trung Quốc có thể
đáp ứng mọi yêu cầu của người mua với mức giá khá rẻ (khoảng 9.000 đ 20.000đ/đĩa). Hơn thế nữa, sự có mặt của chương trình “MTV ca khúc quốc tế”
phát trên truyền hình cũng góp phần phổ biến, “quảng cáo” cho nhạc trẻ quốc
tế, làm xuất hiện và gia tăng nhu cầu giải trí bằng hình thức nghe nhạc trong
tầng lớp thanh niên thủ đô. Các kênh truyền thanh của đài tiếng nói Việt Nam
cũng xuất hiện nhiều chương trình ca nhạc hấp dẫn với những người dẫn
chương trình thu hút được nhiều cảm tình của thanh niên, như chương trình
“MTV most wanted”, hay chương trình “Ca khúc Việt Nam chọn lọc”… cũng là
những nhân tố không nhỏ trong việc làm cho nhu cầu nghe nhạc của thanh niên
gia tăng đáng kể trong thời gian 1996 - 2000.

10


Loại hình giải trí thứ 3 được ưa thích là hoạt động thể thao. Điều này
được nhiều bạn trẻ lý giải nguyên nhân chủ yếu là do thanh niên Hà Nội đã thực
sự coi thể thao là một loại hình giải trí, thư giãn, khoảng thời gian từ năm 2000
hầu như đã đánh dấu sự hình thành một phong trào tập luyện thể thao trong
thanh niên. Một nguyên nhân khác có thể thấy là họ coi chơi thể thao là một
hình thức tập luyện để có một sức khoẻ dẻo dai hơn.

và hoạt động giải trí trong thời gian rỗi của thanh niên Hà Nội đến thời điểm
năm 2000. Theo nghiên cứu mới đây của tác giả Đinh Triết, trong thời gian rỗi
cấp ngày, những hỡnh thức giải trí phổ biến nhất của thanh niên Hà Nội là (theo
thứ tự) là xem ti vi, nghe nhạc, chơi các môn thể thao phổ thông hoặc đọc sách
báo. Tỷ lệ thấp hơn một chút là đi chơi với bạn bè. Nhỡn chung hoạt động giải
trí được thanh niên Hà Nội ưa thích nhất là “xem ti vi”. Và hai chương trỡnh họ
thường xem nhất là chương trỡnh giải trớ và phim. Bờn cạnh ti vi là đầu đĩa và
với hàng ngàn cửa hàng bán và cho thuê băng đĩa ở Hà Nội thỡ nhu cầu xem
băng đĩa của người dân Hà Nội được thỏa món một cỏch dễ dàng2.
Đối với việc nghe nhạc như một loại hỡnh giải trớ của thanh niờn, những
thể loại õm nhạc càng phổ thụng (pop/rock) hoặc càng đơn giản và sôi động
(nhạc trẻ) càng có tỷ lệ thanh niên ưa thích cao 3 vỡ chỳng phự hợp đặc điểm
tâm lý lứa tuổi của họ. Nhạc cổ điển - thể loại âm nhạc bác học - hầu như chưa
đạt được sự quan tâm của thanh niên Hà Nội, bởi nó cần một tri thức âm nhạc
tương đối cao mà mặt bằng dân trí Việt Nam chưa thể có được. Nhạc truyền
thống dân tộc chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn trong sự ưa thích của thanh niờn cú
lẽ vỡ tiết tấu chậm rói và những ca từ được thả âm nhấn nhá của nó không bắt
kịp nhịp sống nhanh vội, gấp gáp và có phần “đơn giản hóa” của thanh niên hiện
2

Đinh Triết 1999 “Chính sách và cơ chế tài chính đối với hoạt động điện ảnh”, Văn hóa nghệ thuật, (2), tr.14
Đoàn Minh Châu (1998), Nõng cao hiểu biết về văn hóa truyền thống để xây dựng bản lĩnh văn hóa cho thanh
niên Hà Nội trong bối cảnh giao lưu - hội nhập quốc tế hiện nay, Báo cáo đề tài NCKH cấp thành phố
3

12


nay. Trong khi đó, nhạc cách mạng được một bộ phận đáng kể thanh niên Hà
Nội ưa thích và thường nghe như những ca khúc giải trí. Điều này gợi ý rằng,


về việc tiêu thụ những sản phẩm nghe nhỡn tại chỗ và cỏc hoạt động thể thao.
Những hoạt động khác như thưởng thức nghệ thuật tại các thiết chế văn hóa (nhà
hát, rạp chiếu phim…), sáng tạo nghệ thuật không chuyên (câu lạc bộ sở thích)
ít được thực hiện hơn.
b. Hoạt động giải trớ trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần của thanh niờn Hà
Nội
Mặc dù mỗi ngày con người đều có khoảng thời gian nhất định tái sản
xuất sức lao động song các hoạt động giải trí cấp ngày là những hỡnh thức quen
thuộc (mà do điều kiện thời gian rỗi cấp ngày hạn chế khó thay đổi được), do đó
nó dường như đó tạo ra những nhàm chỏn, giảm hiệu quả giải trớ. Điều này đũi
hỏi một sự thay đổi để gây hưng phấn thực sự cho trí nóo, giỳp nú đủ sức đón
nhận một kỳ làm việc dài ngày tiếp theo. Đó chính là chức năng của giải trớ cấp
tuần.
Theo kết quả điều tra của tác giả Phan Thanh Tá, hoạt động giải trí của
thanh niên trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần cũng có những biến đổi khá mạnh
mẽ trong thời gian 1996-2000.
b. Bảng 2 : Hoạt động giải trí trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần5.

Hình thức hoạt động giải trí
Xem phim, ca nhạc
Tham quan, du lịch
Đi chơi với bạn bè
Dạo chơi
Làm những việc ưa thích
Chơi thể thao

Tỷ lệ và thứ tự tham gia
Năm 1996
Năm 2000


14


thứ 2 thuộc về tham quan, du lịch, thứ 3 là đi chơi với bạn bè, dạo chơi xếp vị
trí thứ 4; thì đến năm 2000, trật tự ưa thích đã có nhiều khác biệt, sắp xếp lần
lượt theo: 1/ Đi chơi với bạn bè, 2/ Tham quan, du lịch, 3/ Làm những việc ưa
thích, 4/ Chơi thể thao, 5/ Xem phim, ca nhạc, và thứ 6 là dạo chơi.
Cũng sử dụng nguồn số liệu nêu trên, tác giả Đinh Thị Vân Chi cho biết
trong hai ngày cuối tuần, thanh niên Hà Nội thường giải trí ngoài trời như đi
chơi với bạn bè, dó ngoại, làm những việc ưa thích hoặc chơi thể thao.
Thứ nhất, “đi chơi với bạn bè” thực chất là giải trí với nhóm sở thích. Đây
là môi trường xó hội húa rất tự nhiờn và hiệu quả, thụng qua tương tác liên cá
nhân. Hỡnh thức “đi chơi với bạn bè” bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như đi
uống cà phê, đi giải khát, ăn kem, ăn quà… của các nhóm có cùng sở thích, đặc
biệt là học sinh PTTH. Tại các thiết chế văn hoá như rạp hát, các hoạt động như
đi xem phim, ca nhạc, sân khấu chưa thực sự được thanh niên Hà Nội ưa thích.
Điều này có thể lý giải do sự bựng nổ của cỏc phương tiện truyền thông và đầu
đĩa tỏ ra phù hợp hơn với thị hiếu và khả năng thụ hưởng sản phẩm văn hoá của
thanh niên. Tuy nhiên số liệu điều tra của ngành điện ảnh gần đây cho thấy: số
người thích xem phim không hề giảm, thậm chí sở thích đối với các loại phim có
thay đổi theo chiều hướng chúng ta mong đợi 6. Nhưng nhu cầu thưởng thức
nghệ thuật tại các thiết chế văn hóa không tồn tại biệt lập mà thường đan xen với
các nhu cầu khác (giao tiếp với bạn bè, trưng diện các trang phục mới…). Do
vậy nếu các rạp không cùng lúc thỏa món những nhu cầu đó thỡ thanh niên sẽ
chọn địa điểm khác (hỡnh thức khỏc) để thưởng thức nghệ thuật. Bên cạnh xem
phim là thưởng thức âm nhạc (nghe nhạc, xem biểu diễn ca nhạc, hát
karaoke…). Trong đó hát karaoke và hát tại các quán cà-phê - nhạc không đơn
thuần là một hỡnh thức giải trớ mà cũn là một phương tiện thử nghiệm khả năng
6

thức các loại hình nghệ thuật này. Theo một ý kiến phỏng vấn sâu: “Các rạp
chiếu phim như rạp Dân chủ, trung tâm chiếu phim Quốc gia… giờ đây đa số
chiếu các phim của nước ngoài nên đôi khi mong muốn được thưởng thức một
16


bộ phim trong nước cũng cảm thấy quá khó khăn”. Một ý kiến khác cho rằng:
“Bây giờ các chương trình phát trên T.V theo dõi còn không “xuể”, nói gì đến
việc đi xem ở rạp?”. Hơn nữa, thị trường băng đĩa ngày nay cũng đáp ứng khá
đầy đủ nhu cầu mua đĩa phim, ca nhạc của bạn trẻ, thể loại lại vô cùng phong
phú. Một bạn nói: “Đi đến rạp xem phim thà mua đĩa về nhà xem còn hơn, vừa
không phải ra ngoài, vừa không mất tiền mua vé, mà lại có thể xem được nhiều
lần”. Quả thật, thanh niên Hà Nội ngày nay tỏ ra ưa thích việc tiếp cận phim
ảnh tại nhà hơn là tại các địa điểm khác. Một lý do khác là họ có thể xem phim
trực tiếp trên mạng Internet, mà Internet hiện đang có một sức lôi cuốn lớn đối
với các bạn trẻ thủ đô. Hơn thế, thanh niên Hà Nội hiện nay còn bị cuốn hút bởi
các loại hình giải trí khác, như chơi bowling, hoặc tổ chức các đợt đi thăm quan
tập thể…., vì thế họ có thể “bỏ quên” việc xem phim ở rạp.
Ngoài ra, trong thời gian rỗi cấp tuần, thanh niờn Hà Nội cũn tham gia
cỏc hoạt động thể thao thông thường. So với cấp ngày thời gian và địa điểm
hoạt động thể thao cấp tuần không có gỡ khỏc, điều khác biệt duy nhất là vào
cuối tuần các hoạt động này ít bị hạn chế về thời gian và thường đông người
tham gia hơn. Hình thức dạo chơi tỏ ra kém hấp dẫn, biểu hiện qua thứ bậc xếp
hạng cuối cùng của nó.
Như vậy, bảng số liệu về việc sử dụng thời gian rỗi cấp tuần trong hoạt
động vui chơi giải trí đã cho thấy ưu thế rõ ràng đã thuộc về các hoạt động tập
thể, mà điển hình là việc đi chơi với bạn bè, đi tham quan, du lịch, những hoạt
động ngoài trời, đến với thiên nhiên. Đây là điểm khác biệt cơ bản nếu so với
khuôn mẫu giải trí cấp ngày. Ở cấp tuần thanh niên Hà Nội thể hiện rừ hơn sự
năng động vốn là đặc tính của tuổi trẻ. Giải trí cấp tuần dù diễn ra với tần suất

Đối với hoạt động này (khác với các hoạt động cấp ngày và tuần) ta thấy có vai
trũ tổ chức của các cơ quan tập thể, chứ không chỉ gia đỡnh và nhúm sở thớch.
18


Mỗi năm cơ quan đều có khoản kinh phí tổ chức đi nghỉ tập thể cho nhân viên.
Hoạt động này đó thành “truyền thống” như một tiêu chí đánh giá sự chăm lo
cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân viờn7.
Nhỡn chung, cỏc hoạt động giải trí cấp năm diễn ra không thực sự sôi nổi
như đối với thời gian nhàn rỗi cấp ngày và cấp tuần. Các hoạt động hầu hết
mang tính tập thể cao, hoạt động cá nhân diễn ra không thực sự phổ biến.
d. Sự biến đổi nhu cầu giải trớ của thanh niờn Hà Nội theo thời gian
Lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi nhanh nhạy với cái mới, họ năng động và
mang nhiều nhiệt huyết với cuộc sống. Đối với hoạt động giải trí, có thể nói
thanh niên với cá tính sôi nổi của mỡnh thực sự là tầng lớp đi đầu trong việc đưa
những hoạt động giải trí trở thành phổ biến hơn trong đời sống xó hội. Trong
thời gian vừa qua, chỳng ta đó chứng kiến nhiều sự đổi thay trong các loại hỡnh
dịch vụ giải trớ. Sự cú mặt của chỳng chớnh là lý do quan trọng khiến cho nhu
cầu giải trí của thanh niên biến đổi theo. Thêm vào đó, những thành tựu kinh tế xó hội của nước nhà đó khiến cho điều kiện vật chất được cải thiện, tạo tiền đề
quan trọng để thanh niên ngày nay có thể thụ hưởng các hoạt động giải trí mà
trước đây có phần cũn xa lạ đối với thế hệ thanh niên đi trước. Tuy nhiên, có thể
nhận thấy thời gian gần đây, những biến đổi loại hỡnh giải trớ của thanh niờn cú
phần chững lại, sự vận động vẫn đang diễn ra, song mức độ và quy mô biến đổi
có phần suy giảm hơn so với khoảng thời gian 1996-2000. Thực tế cho thấy các
dịch vụ giải trí dường như cũng đó đạt tới “ngưỡng”. Như một ý kiến phỏng vấn
sâu cho biết: “Mấy năm gần đây tôi không thấy có loại hỡnh giải trớ gỡ mới mẻ
cả. Chỉ thấy số đầu sách nhiều hơn, Internet phổ biến hơn, games online cũng
phong phú hơn (...) Thời gian trước đây sự biến đổi cách giải trí diễn ra rừ ràng
hơn. Chẳng hạn tôi đọc tin trên mạng thay vỡ đọc trên báo. Cũn bõy giờ thỡ tụi
cú nhiều việc trờn mạng hơn là chỉ ngồi để đọc tin như trước đây”. Một cách đại

CÁC HÌNH THỨC GIẢI TRÍ

Đọc sách, báo
Đi chơi với bạn
Đi quán uống nước, nói chuyện
Đi mua sắm
Xem phim (Rạp,TV,băng đĩa)
Xem các nghệ thuật khác
Chơi thể thao
Xem các chương trình TV khác
Chơi các trò chơi điện tử
Vào internet để tìm thông tin
Chat trên internet

MỨC ĐỘ LỰA CHỌN (*)
MĐ1 MĐ2 MĐ3 MĐ4

42,5
56,4
39,4
4,3
64,0
25,1
28,2
61,2
24,3
25,4
19,6

16,6

18,6
48,6
39,2
42,1

XẾP

(*)

BẬC

5
3
5
11
1
4
7
2
10
7
9

MĐ1:Thường xuyên; MĐ2: Đôi khi; MĐ3: Ít khi; MĐ4: Không bao giờ

Các số liệu ở bảng 3.5. cho thấy sinh viên lựa chọn điện ảnh để giải trí là
rất cao: 88,6% (cả ba lựa chọn thường xuyên, đôi khi và ít khi). Trong đó thường
xuyên là 64,0%. Sinh viên cũng thích sử dụng các loại hình văn hoá nghe nhìn:
vô tuyến truyền hình, trò chơi điện tử, internet... để giải trí. Các lựa chọn hình
thức giải trí với truyền hình của họ là 81,4% (thường xuyên, đôi khi và ít khi), xếp

Giải trí tập thể: Các tụ điểm giải trí mở ra những hỡnh thức phong phú và
đổi mới theo thời gian: từ cà phê tranh, cà phê nhạc, tới câu cá, đua thuyền, vui
chơi có thưởng…các thiết chế giải trí nhà nước (nhà văn hóa, câu lạc bộ) mở
nhiều lớp năng khiếu, CLB thể thao, CLB văn nghệ…
21


Bên cạnh đó, do nhu cầu phát triển và do sự mở cửa, giao lưu với bên
ngoài mà nhiều hoạt động giải trí mới đó du nhập vào Việt Nam và trở thành
quen thuộc với thanh niờn Hà Nội: tennis, bowling…Thậm chớ, điều kiện kinh
tế phát triển cũng làm xuất hiện những hỡnh thức giải trớ mà trước đây chưa
mấy người hỡnh dung tới: khụng ớt thanh niờn Hà Nội coi “đi dạo siêu thị”
trong thời gian rỗi là một thú giải trí của mỡnh.
Trờn thực tế, tất cả những trỡnh bày trờn đây đều phản ánh thực trạng
cũng như sự biến đổi nhu cầu và hoạt động giải trí của thanh niên Hà Nội từ
năm 1996 đến nay. Cho dù không có các kết quả nghiên cứu cụ thể, chúng ta
cũng không thể phủ nhận một thực tế là, nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội
đang hàng ngày, hàng giờ vận hành và chuyển biến theo những xu hướng hiện
đại, năng động và sáng tạo hơn. Dường như họ đó cú ý thức hơn trong việc sử
dụng quỹ thời gian nhàn rỗi có phần cũn eo hẹp của mỡnh vào những hoạt động
thiết thực, để một mặt đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin của mỡnh, mặt khỏc,
đáp ứng nhu cầu giải trí vốn là điều không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày
của mỗi thành viên xó hội. Kết quả khảo sỏt trong phạm vi thời gian nhàn rỗi
cấp ngày và cấp tuần đó cho thấy phần nào khuynh hướng đó. Việc họ tỡm đến
với TV, Internet trong thời gian nhàn rỗi cấp ngày, tỡm đến với nhóm bạn bè
trong thời gian nhàn rỗi cấp tuần đó cho thấy dường như đối với họ, nhu cầu giải
trí cá nhân và nhu cầu giải trí tập thể, cộng đồng có sự đan cài. Đối với đa số
thanh niên Hà Nội, chúng ta có thể nhận thấy đây là một định hướng giải trớ hợp
lý và tiện ớch.
Túm lại cú thể nhận thấy rừ một số xu hướng biến đổi nhu cầu giải trí của

23


Các địa điểm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa (Nhà hát, rạp chiếu
phim…): từ chỗ có 14 rạp (trước năm 90), Hà Nội hiện cũn 9 rạp duy trỡ được
các buổi chiếu phim, số cũn lại đó bị đóng cửa, bị chuyển hướng hoạt động hoặc
bị chuyển chủ sở hữu. Hà Nội hiện có 12 nhà hát nhưng hoạt động thường xuyên
chỉ đôi ba chiếc. Nghĩa là phấn lớn các nhà hát đều ở tỡnh trạng hoạt động
không ổn định, phụ thuộc nguồn kinh phí dựng vở mới. Khi có vở mới, thời gian
công diễn lại phụ thuộc vào lượng khán giả. Cũn thanh niờn tham gia sinh hoạt
tại cỏc nhà văn hóa của quận, huyện cũng rất ít. Thanh niên không đũi hỏi
những sinh hoạt cầu kỳ, phức tạp hoặc tốn kộm mà chỉ cần những gỡ sụi nổi,
mới lạ và hấp dẫn. Nhưng những yếu tố này ít hoạt động nào của nhà văn hóa
đáp ứng được. Nói khác đi (trừ một số ít nhà văn hóa hoạt động hiệu quả) hệ
thống nhà văn hóa của Hà Nội hiện nay là sự lóng phớ về đầu tư trong khi hiệu
quả hoạt động thấp, chưa thực hiện được chức năng xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở cho cư dân.
Các điểm vui chơi giải trí công cộng khác: Trừ công viên nước Hồ Tây,
các công viên tại Hà Nội đều quá cũ với một vài khu giải trí quy mô nhỏ, công
nghệ và kỹ thuật lạc hậu. Hơn thế, sự xuống cấp của chúng đó vượt quá mức độ
đầu tư, bảo trỡ tối thiểu, khiến chỳng chỉ cũn là nơi các bậc cha mẹ đưa con em
tới chơi những trũ chơi đơn giản vào dịp cuối tuần. Cũn việc đáp ứng nhu cầu
giải trí cho thanh niên ở những nơi này là không khả thi. Ngay sự thư gión ở đây
không phải lúc nào cũng có thể vỡ những hiện tượng tiêu cực thường xảy ra ở
đó. Thậm chí có công viên đó bị biến thành tụ điểm tệ nạn xó hội, khiến cho
cụm từ “vào cụng viờn” đó bị hiểu theo nghĩa xấu làm cho nhiều thanh niờn
ngần ngại.
Hệ thống thư viện và phương tiện thông tin đại chúng: Các thư viện lớn
như thư viện Quốc gia, thư viện Khoa học xó hội…chủ yếu phục vụ nhu cầu
nghiờn cứu và học tập của giới trớ thức. Chỉ cú thư viện Hà Nội phục vụ nhu

Sông Hà (1999), “Sinh viên nội trú: Khao khát một sân chơi”, Tiền phong, 147

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status