1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
1. BLHS
Bộ luật Hình sự
2. MBTPCMT
Mua bán trái phép chất ma tuý
3. TTTPCMT
Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
4. SDTPCMT
Sử dụng trái phép chất ma tuý
5. TAND
Toà án nhân dân
6. VKS
Viện kiểm sát
2
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUYÊN ĐỀ
Trong nhiều năm trở lại đây, ma tuý và tội phạm ma tuý đã trở thành một
vấn nạn nhức nhối của toàn xã hội. ở Việt Nam, các tội phạm về ma túy ngày
1.2. Phương pháp thu thập thông tin.
Chuyên đề thực tập cuối khoá là một công trình tìm hiểu nghiên cứu thực
tế được xây dựng dựa trên những số liệu cụ thể, xác thực. Mục tiêu của chuyên
đề không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt được tình hình tội phạm và xét xử tội
phạm ở địa phương mà còn phải chỉ ra được nguyên nhân điều kiện phạm tội, và
những ưu khuyết điểm trong quá trình xét xử. Từ đó đưa ra những quan điểm,
giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác phòng chống ma
tuý. Để đạt được điều đó đòi hỏi phải có một hệ thống phương pháp thu thập
thông tin hợp lý và khoa học.
Trong chuyên đề thực tập này em đã sử dụng nhiều phương pháp thu thập
thông tin khác nhau nhằm tìm kiếm được những thông tin xác thực đáng tin cậy
và có giá trị nhất. Có thể kể đến các phương pháp như: nghiên cứu lý thuyết;
điều tra xã hội học; tổng hợp thống kê; so sánh và phân tích.
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết là phương pháp đầu tiên được sử dụng
để xây dựng chuyên đề này. Thông qua việc tham khảo các tài liệu có liên quan
đến tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý như: Bộ luật hình sự và tố tụng hình
4
sự; các văn bản hướng dẫn thi hành; các tạp chí pháp luật; tạp chí Toà án; giáo
trình Luật hình sự và tố tụng hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội
Điều tra xã hội học là phương pháp thu thập các ý kiến, quan điểm hướng
giải quyết cho tình hình tội phạm MBTPCMT đang diễn ra ngày một táo bạo
liều lĩnh. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu dưới cách thức phỏng vấn, toạ
đàm với những người trực tiếp thụ lý, giải quyết các vụ án về ma tuý.
Phương pháp tổng hợp thống kê được sử dụng để thu thập các số liệu có
liên quan đến tội phạm ma tuý trong nhiều năm thông qua một số hồ sơ như: Hồ
sơ các vụ án hình sự các năm, sổ thụ lý án hàng năm, báo cáo tổng kết cuối năm.
Đây là phương pháp để thu được những số liệu thực tiễn chính xác nhất của
công tác xét xử tại địa phương.
Huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình cũng nằm trong tình trạng chung đó. Dưới góc
độ y học, ma tuý là một loại tân dược vô cùng cần thiét, không thể thiếu để điều
trị một số căn bệnh. Xong nhìn nhận dưới góc độ hình sự thì đây là một loại chất
kích thích nguy hiểm, gây nghiện và có thể làm tê liệt hệ thần kinh con người
khi lạm dụng và sử dụng quá liều. Vì vậy việc mua bán chất ma tuý được Nhà
nước quản lý rất chặt chẽ. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi cố
ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, là hành vi tội phạm
được quy định trong Bộ luật Hình sự của nước Việt Nam với những khung hình
phạt đặc biệt nghiêm khắc mà cao nhất là án tử hình. Điều này được thể hiện
một cách cụ thể trong Điều 194 Bộ luật hình sự Việt Nam.
II. TÌNH HÌNH MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH
1. Đặc điểm địa bàn huyện Hưng Hà
Huyện Hưng Hà là một huyện đồng bằng, nằm ở rìa phía Tây Bắc của tỉnh
Thái Bình, diện tích tự nhiên là 200,2 km 2. Hưng Hà tiếp giáp với các huyện
Đông Hưng (phía Đông Nam), Vũ Thư (phía Nam), Quỳnh Phụ (phía Đông Bắc)
và hai tỉnh Hưng Yên ở phía Tây Bắc, Hà Nam ở phía Tây Nam. Hưng Hà có ba
mặt giáp sông Hồng ở phía Tây và hai phân lưu của nó là sông Luộc ở phía Bắc
và sông Trà Lý ở phía Nam. Dân số của huyện Hưng Hà là 254.744 người, trong
đó dân số trong độ tuổi lao động khá cao là 108.835 người. Huyện có nhiều làng
nghề nổi tiếng như xã Tôn Hới có nghề dệt chiếu, xã Thai phương có nghề dệt
vải, làng Diệc có nghề dệt vải. Tuy những làng nghề này đã giải quyết được việc
6
làm cho nhiều lao động. Tuy nhiên số lao động trong tình trạng thất nghiệp vẫn
gia tăng. Cùng với đó là đặc điểm vị trí địa lý nên có phát sinh nhiều vi phạm
pháp luật. Huyện có quốc lộ 39 chạy từ thị xã Hưng Yên, qua cầu Triều Dương
bắc qua sông Luộc chạy qua địa bàn huyện rồi chạy sang địa bàn huyện Đông
Tội phạm ma tuý là một điểm nóng trên địa bàn huyện Hưng Hà. Từ năm
2006 tới nay án ma tuý luôn chiếm từ 30% đến 40% tổng số án hình sự được
thụ lý tại Toà án địa phương. Cụ thể:
Năm 2006 chiếm 32,5% tổng án hình sự và 27,8% tổng số bị cáo.
Năm 2007 chiếm 32,6 %tổng án hình sự và 29.0% tổng số bị cáo.
Năm 2008 chiếm 33,1% tổng án hình sự và 30,3% tổng số bị cáo.
Trên thực tế tình trạng người nghiện sử dụng heroin, ma tuý tổng hợp đã
tăng mạnh và dần dần thay thế các loại ma tuý truyền thống. Do vậy vấn đề ma
7
tuý đã trở thành một trong những nguyên nhân chính gây mất trật tự an toàn xã
hội, phá vỡ truyền thống đạo đức xã hội. Từ báo cáo trên (bảng 1) ta thấy tình
hình tội phạm ma tuý trên địa bàn tuy biến động không lớn, song số lượng và
tính chất tội phạm ngày càng nguy hiểm, phức tạp hơn
* Tình hình và đặc điểm tội phạm MBTPCMT trên địa bàn huyện Hưng
Hà.
Huyện Hưng Hà có vị trí địa lý và tình hình kinh tế xã hội khá phức tạp.
Với đặc điểm đó lượng tội phạm ma túy tập trung tại đây là khá lớn. Xét về tội
phạm ma tuý, bên cạnh những đối tượng nghiện hút có hồ sơ quản lý tại Công
an huyện còn một số không nhỏ đối tượng khác thường trú tại các địa phương
lân cận cùng thường xuyên tìm đến địa bàn này để thực hiện hành vi
MBTPCMT. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà trong
ba năm từ 2006 đến 2008 Tòa án đã xét xử 96 vụ án MBTPCMT với tổng số
192 bị cáo. Trung bình 1 năm có 32 vụ và 64 bi cáo bị đưa ra xét xử. Có thể thấy
đối với một huyện nhỏ như Hưng Hà thì tỉ lệ phạm tội như vậy là tương đối lớn.
Bảng 2: Số vụ và số bị cáo bị xét xử về tội MBTPCMT trên địa bàn huyện Hưng
Hà trong 3 năm.
(Nguồn: Báo cáo công tác của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà năm 2006,
Năm
Hà qua các năm và tỉ lệ án MBTPCMT trong cơ cấu án MT nói
chung và án HS
Năm
2006
2007
2008
Vụ án
Tỉ lệ trong án MT
Tỉ lệ trong án HS
MBTPCMT (vụ)
10
11
16
(%)
33.3
39,2
42,1
(%)
4,2
6,3
13,8
(Nguồn: Báo cáo công tác của TAND huyện qua các năm
đang diễn ra rất phức tạp, tinh vi và táo bạo hơn. Nhưng do hiệu quả của công
tác phòng chống chưa thực sự cao dẫn đến lượng tội phạm được khám phá còn
ít, ngoài ra còn liên quan đến thẩm quyền xét xử của các cấp xét xử.
Về đặc điểm nhân thân của tội phạm:
MBTPCMT trên địa bàn huyện Hưng Hà thông qua những tài liệu thực tế
cho thấy: phần lớn các đối tượng bị bắt về tội MBTPCMT đều ở độ tuổi từ 30
tuổi trở lên. Cụ thể năm 2008 có 18/27 bị cáo ở độ tuổi này. Các đối tượng trẻ
tuổi chiếm tỉ lệ thấp hơn. Do hoạt động MBTPCMT là những hành vi nguy
hiểm đỏi hỏi sự khôn ngoan, tinh vi và kinh nghiệm. Các đối tượng tham gia
mua bán thường là những tên tội phạm cáo già. Những đối tượng bán ma tuý trẻ
tuổi thường là do bị dụ dỗ, lợi dụng chứ không phải là chủ mưu hay cầm đầu.
Các đối tượng tham gia hoạt động MBTPCMT tại địa bàn thành phố Thái
Bình phần lớn có nhân thân xấu như là đối tượng có tiền án, tiền sự hoặc đối
tượng nghiện. Báo cáo tổng kết cuối năm của TAND huyện Hưng Hà cho biết:
Năm 2008 có 23/27 bị cáo bị truy tố về tội MBTPCMT nghiện hút bằng 85,2%
tổng số bị cáo. Một điểm đáng lo ngại là số bị cáo là phụ nữ ngày càng chiếm
cao trong án MBTPCMT. Cụ thể:
10
Bảng 4: Số đối tượng nam giới và số đối tượng nữ giới phạm tội MBTPCMT
Năm
2006
2007
2008
Số người
phạm tội
21
22,2
Tổng số
67
54
80,6
13
19,4
(Nguồn: Bảng thống kê các vụ án hình sự qua các năm 2006, 2007, 2008)
Qua số liệu thống kê cho thấy tỉ lệ nữ giới phạm tội thường thấp hơn nam
giới. Tuy nhiên trong những năm gần đây, số lượng nữ phạm tội có xu hướng
tăng lên. Năm 2006 chiếm 14,3% tổng số bị cáo, đến năm 2007 là 21% và năm
2008 tăng lên cao nhất với 22,2% tổng số bị cáo. Số liệu trên cho thấy một tình
trạng báo động nhức nhối trước sự suy đồi đạo đức nghiêm trọng trong xã hội.
3. Nguyên nhân, điều kiện phạm tội và giải pháp phòng chống tội phạm
MBTPCMT trên địa bàn huyện Hưng Hà.
3.1. Nguyên nhân, điều kiện phạm tội.
Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tội phạm MBTPCMT diễn ra ngày càng
nhiều không chỉ ở riêng huyện Hưng Hà mà trong cả nước đó chính là khoản
siêu lợi nhuận thu được từ hoạt động này. Loá mắt trước những đồng tiền bất
chính bọn tội phạm đã bất chấp mọi hậu quả để thực hiện những hành vi phạm
pháp của mình. Bên cạnh đó do điều kiện kinh tế khó khăn rất nhiều đối tượng
bị hoàn cảnh đưa đẩy vào con đường phạm tội, bị lợi dụng ép buộc phải thực
hiện hành vi buôn bán ma tuý trái phép.
Huyện Hưng Hà là một trong những huyện có tốc độ phát triển kinh tế
chưa mạnh, công ăn việc làm tạo ra còn ít, trong vài năm gần đây lại chịu ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế. Chính điều này đã dẫn tới tình trạng thất nghiệp
gia tăng. Số lượng đối tượng nghiện xuất hiện ngày một nhiều đã trở thành tiền
đề cho tội phạm MBTPCMT phát triển.
biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho lao động tránh
tình trạng “nhàn cư vi bất thiện” trong lực lượng lao động trẻ. Có thể nói rằng
12
đây là biện pháp để giải quyết gần như tận gốc tình hình nghiện hút tại địa
phương. Nếu hạn chế và dần dần triệt tiêu được hiện tượng sử dụng trái phép
chất ma tuý tại địa phương thì tội phạm MBTPCMT sẽ không còn thị trường để
tồn tại và phát triển.
Thứ hai: Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền vận động giáo dục
pháp luật sâu rộng trong nhân dân, chú trọng biện pháp giáo dục trực tiếp đến
đối tượng trong diện quản lý về ma tuý để ngăn chặn kịp thời các vi phạm công
tác tuyên truyền phải có tác dụng làm chuyển biến nhận thức hành động của các
ban ngành đoàn thể và nhân dân để họ tự giác mạnh dạn tố giác phát hiện, đấu
tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn ma tuý.
Cần xiết chặt hơn nữa các hoạt động tuần tra, kiểm tra, rà soát nắm bắt
tình hình tội phạm tại địa phương. Để từ đó có biện pháp ngăn chặn xử lý kịp
thời các tổ chức đoàn thể xã hội cần có sự phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện
các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, tìm hiểu pháp luật cho người dân tại địa
phương và các vùng lân cận.
Tại các trường học cần đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật phù hợp
nhằm trang bị những kiến thực cần thiết cho lứa tuổi học sinh. Hơn nữa cần phải
có sự liên kết chặt chẽ trong việc quản lý, giáo dục giữa gia đình, nhà trường và
xã hội. Đặc biệt về phía địa phương có người mắc nghiện cũng như các trung
tâm cai nghiện cần tăng cường các biện pháp cai nghiện tập trung và tại gia
đình, cộng đồng để giảm thiểu số lượng người nghiện. Sau khi cai nghiện trở về,
địa phương và chính quyền cần có biện pháp giúp đỡ, giải quyết việc làm, đưa
họ tái hoá nhập cộng đồng.
Trong hoạt động áp dụng pháp luật, cần phải linh hoạt, mềm dẻo, nhằm
tạo điều kiện giúp đỡ người phạm tội nhận thức được hành vi sai trái của mình
Số vụ đã được giải quyết
Số vụ còn lại
Tỉ lệ án đã xử (%)
2006
10
1
9
0
90%
2007
11
0
10
1
95%
2008
16
0
16
0
100%
Bảng số liệu trên cho thấy rằng, công tác giải quyết án đã thụ lý tại Toà án
nhân dân huyện Hưng Hà luôn được thực hiện tốt, nhanh gọn và triệt để.
Hàng năm án MBTPCMT được xét xử xong chiếm tỉ lệ rất cao (từ 90%
trở lên). Lượng án tồn đọng là rất thấp. Có điều này là do sự chỉ đạo chặt chẽ
của các cấp lãnh đạo và sự làm việc tích cực của đội ngũ cán bộ toà án.
bị cáo
21
19
27
trở xuống
7
6
8
đến 7 năm
14
11
17
đến 15 năm
0
2
2
Bảng 5: Một số hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo trong các vụ án
MBTPCMT trên địa bàn năm 2006, 2007, 2008.
Từ bảng số liệu trên cho thấy hình phạt đã tuyên đối với các bị cáo phạm
tội MBTPCMT khá nghiêm khắc, 100% số bị cáo phạm tội MBTPCMT bị phạt
tù giam và không có án dưới khung. Số bị cáo bị xử từ 3 năm đến 7 năm chiến tỉ
lệ từ cao nhất hàng năm. Năm 2006 chiếm tỉ lệ 66,7%, năm 2007 là 57,9% và
năm 2008 là 63%. Điều này thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật đối với loại
tội phạm này đã được thực hiện một cách triệt để. Số bị cáo bị xét xử từ 3 năm
trở xuống chiếm tỉ lệ thứ hai trung bình khoảng 30%. Thấp nhất là số bị cáo bị
xét xử từ 7 năm đến 15 năm. Về thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ
đấu tranh rất cao.
* Về nhược điểm:
Bên cạnh những điểm tốt đã đạt được, công tác xét xử tội phạm
MBTPCMT vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Cụ thể là:
- Công tác đấu tranh với tội phạm ma tuý trong quá trình xét hỏi chưa cao.
Các bị cáo vẫn quanh co, chối tội dẫn đến việc kết án chưa đúng với thực tế
phạm tội.
16
- Tham vấn tranh luận tại phiên toà chưa hoàn toàn đầy đủ, vai trò của hội
thẩm nhân dân còn chưa cao. Việc đánh giá chứng cứ còn thiếu khách quan dẫn
đến những vấn đề thiếu thoả đáng trong bản án.
4. Một số giải pháp kiến nghị.
* Về trình độ chuyên môn của cán bộ toà án.
- Tăng cường việc đào tạo, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng về chuyên môn
nghiệp vụ và năng lực làm việc cho đội ngũ thẩm phán, thư ký và hội thẩm. Ví
dụ bằng việc tăng cường các đợt tập huấn về chuyên môn cho cán bộ toà án; tạo
điều kiện để họ được học hỏi và tìm hiểu thêm những kiến thức chuyên ngành;
phối hợp chặt chẽ với các trung tâm đào tạo chức danh tư pháp, tổ chức các lớp
học nâng cao về nghiệp vụ và kỹ năng xét xử cho cán bộ.
- Công tác tuyển chọn đội ngũ cán bộ cũng cần được đặc biệt chú trọng và
thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, nhất là trong quy trình bổ nhiệm thẩm
phán. Đây là khâu then chốt để xây dựng một đội ngũ những người có trình độ
đại học chính quy, có kiến thức chuyên môn vững vàng, đủ khả năng giải quyết
mọi vấn đề phát sinh.
* Về công tác chuẩn bị xét xử.
- Phân công cụ thể cho từng thẩm phán và thư ký. Nên có phòng thư ký
chuyên trách làm nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ vụ án và giao hồ sơ án cho thẩm
phán, đồng thời phân công mỗi TP kèm theo một thư ký để tạo điều kiện thuận
chống tội phạm MBTPCMT tại địa bàn mình quản lí nói riêng và trên cả nước
nói chung.Với phương châm : “Không ngừng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo
đức cách mạng cho đội ngũ các bộ, tích cực khắc phục những thiếu sót khuyết
điểm, nâng cao chất lượng xét xử, phối hợp với các ngành hữu quan đẩy mạnh
công cuộc phòng chống tội phạm”. TAND huyện Hưng hà luôn cố gắng phấn
đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đã đề ra. Vì thế công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung và tội phạm MBTPCMT nói riêng của Tòa án trong
những năm trở lại đây đã đạt được những thành tích đáng kể. Tuy nhiên bên
cạnh đó vẫn còn những thiếu sót cần phải được klhắc phục để hiệu quả của công
tác này ngày càng cao hơn đáp ứng được sự tin tưởng của nhân dân và Nhà nước
đối với ngành Toà án.
Trên đây là toàn bộ nội dung chuyên đề thực tập của em. Mặc dù có nhiều
cố gắng xong không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Cuối cùng
em xin chân thành cảm ơn các thầy cô cùng toàn thể ban lãnh đạo Tòa án nhân
dân huyện Hưng Hà đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu tham khảo:
1. Tạp chí toà án số 7/2005
2. Tạp chí điều tra hình sự
3. Giáo trình Luật Hình sự (Đại học Luật Hà Nội)
- Văn bản pháp luật:
1. Bộ luật hình sự
2. Bộ luật tố tụng hình sự
-Tư liệu thực tiễn:
1. Báo điện tử, http://dantri.com.vn
2. Báo điện tử vietnam.net
Hà............................................................................................................12
3. Nhận xét đánh giá về công tác xét xử của TAND huyện Hưng Hà.
.................................................................................................................15
4. Một số giải pháp kiến nghị................................................................16
PHẦN III: KẾT LUẬN.................................................................................18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................19
21