VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI– 2014
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số : 60 38 40
động viên, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và ủng hộ tôi
trong suốt thời gian qua.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thị Thanh
MỤC LỤC
Chương 1....................................................................................................................
NHẬN THỨC CHUNG VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN TÀNG
TRỮ,VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT
CHẤT MA TÚY........................................................................................................
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt các chất ma túy........................................
1.2. Ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy......................................................................
1.3. Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy....................................
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2
Viện kiểm sát nhân dân
VAHS
TAND
Vụ án hình sự
Tòa án nhân dân
TAQS
Tòa án quân sự
TANDTC
TTHS
Tòa án nhân dân tối cao
Tố tụng hình sự
XXST
Xét xử sơ thẩm
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cải cách tư pháp là một trong những nội dung, nhiệm vụ quan trọng của quá
trình đổi mới ở nước ta hiện nay đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp
Cải cách tư pháp trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói chung
và các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma
túy nói riêng là một hoạt động quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp của Tòa án
nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Trong những năm qua, hoạt động
này đã thu được những kết quả đáng kể nên về cơ bản, ngành Tòa án đã thực hiện tốt
chủ trương của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan, hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự không phải không có những
hạn chế bất cập nhất định. Mặt khác thực tiễn thi hành BLTTHS tại Tòa án thành phố
Cẩm Phả cho thấy vẫn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp bách
phải nghiên cứu thủ tục tố tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự các vụ án tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy về cả phương diện lý
luận và thực tiễn.
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp và thực trạng tổ
chức, tiến hành phiên toà hình sự là một trong những vấn đề cần được quan tâm,
nâng cao hiệu quả công tác. Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
từ thực tiễn thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh” để làm luận văn Thạc sĩ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Toà án nhân dân là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước ở nước ta.
Do đó, có rất nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đã quan tâm, nghiên cứu về vấn đề
này. Đối với vấn đề về thủ tục tố tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm hiện nay cũng đã
có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học. Đó là những công trình dù trực
tiếp hay gián tiếp cũng đề cập đến XXST hình sự ở những khía cạnh khác nhau. Các
công trình nghiên cứu này phần lớn đã tập trung làm rõ được nhiều vấn đề lý luận và
pháp lý liên quan như:
- Tôn Thất Cẩm Đoàn, Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự - Lý luận và
Mục đích của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về xét xử
sơ thẩm hình sự vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các
chất ma túy từ thực tiễn thành phố Cẩm Phả, từ đó phân tích đánh giá thực trạng hoạt
động xét xử sơ thẩm hình sự các vụ án sự tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt các chất ma túy từ thực tiễn thành phố Cẩm Phả. Luận văn đề xuất
các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm
hình sự vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
6
Để đạt được mục đích trên Luận văn cần có nhiệm vụ:
+ Xây dựng khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự tàng trữ vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy. Làm rõ
các yếu tố tác động đến hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng chuẩn bị xét xử và thực trạng phiên tòa xét xử
sơ thẩm hình sự vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
ma túy trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Phân tích đánh giá những
kết quả đạt được, hạn chế trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh
Quảng Ninh. Rút ra nguyên nhân của những hạn chế yếu kém.
+ Nêu lên những yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử sơ
thẩm vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên
địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề về thực trạng xét xử sơ thẩm vụ án
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy từ thực tiễn
thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đề tài nghiên cứu dưới góc độ tố tụng hình sự và thống kê hoạt động xét xử sơ
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy từ thực tiễn thành phố Cẩm Phả, tỉnh
Quảng Ninh.
- Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm
vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy từ thực
tiễn thành phố cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh.
8
Chương 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN TÀNG TRỮ,VẬN
CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA
TÚY
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy
1.1.1. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
Xét xử là một hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước do Tòa án thực
hiện, nhằm giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính
theo qui định của pháp luật.
Theo Hiến pháp Việt Nam, việc xét xử chỉ do Tòa án thực hiện: Tòa án nhân
dân tối cao và các Tòa án khác do luật quy định là những cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam [36]. Mặt khác, Điều 9 BLTTHS 2003 quy
định: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, xét xử sơ thẩm được hiểu là: “Xét xử một vụ án
với tư cách là Tòa án ở cấp xét xử thấp nhất” [39, tr. 838].
Giáo trình luật TTHS, trường đại học Luật Hà Nội: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
liên quan; là cơ sở quan trọng để xác định thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố
tụng khác. Theo quy định của BLTTHS thẩm quyền xét xử của vụ án được phân định
theo sự việc, đối tượng và lãnh thổ.
- Thẩm quyền xét xử vụ án theo sự việc: Thẩm quyền xét xử vụ án tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là sự phân định thẩm
quyền xét xử giữa các cấp Tòa án, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội
phạm. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử
giữa hai cấp Tòa án đó là: Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực.
Theo khoản 1 Điều 170 BLTTHS, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự
khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng.
Nếu điều luật có nhiều khoản thì TAND cấp huyện và Tòa án nhân dân quân sự
khu vực có thẩm quyền xét xử các trường hợp phạm tội thuộc tội phạm ít nghiêm
trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. TAND cấp huyện và
TAQS khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm cùng một lần một người phạm nhiều
tội, nếu các tội đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án này. Trong trường
hợp một người đang chấp hành hình phạt theo bản án của bất cứ Tòa án cấp nào mà
lại bị truy tố về tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực
thì các Tòa án đó cũng có thẩm quyền xét xử, trừ trường hợp người bị kết án đã bị
10
tuyên hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà chưa được giảm thời hạn chấp hành
hình phạt. [52]
Khoản 2 Điều 170 BLTTHS, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp
quân khu có thẩm quyền xét xử về những tội không thuộc thẩm quyền của TAND
cấp huyện và TAQS khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền cấp dưới mà mình
lấy lên để xét xử.
- Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ: Theo Điều 171, 172 BLTTHS thì thẩm
định của pháp luật. Khi VKS chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án, người nhận hồ sơ phải
đối chiếu bản kê tài liệu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kiểm tra việc giao
nhận bản cáo trạng cho bị can [19].
TAND thành phố Cẩm Phả nhận hồ sơ vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy vào sổ thụ lý và đóng dấu ( hoặc ghi )
ngày nhận hồ sơ vào bìa hồ sơ nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ so với
bản kê tài liệu và bản cáo trạng đã được giao cho bị can. Chỉ từ khi thụ lý vụ án hình
sự, Tòa án mới được tiến hành các công việc theo thẩm quyền để giải quyết một vụ
án hình sự trên.
Thông thường Tòa án thụ lý vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến nhưng cũng
có trường hợp thụ lý vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
các chất ma túy để xét xử sơ thẩm do Tòa án khác chuyển đến vì lý do thẩm quyền.
Đây là trường hợp chuyển vụ án theo quy định tại Điều 174 BLTTHS và ngày Tòa
án nhận hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển sang là ngày bắt đầu tính thời hạn chuẩn bị
xét xử [44].
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án: Sau khi vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy được thụ lý, Chánh án Tòa án phân công
Thẩm Phán, Thư ký và HTND cụ thể. Thẩm phán được phân công xét xử vụ án trước
khi mở phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, tiếp nhận giải quyết khiếu nại, yêu
cầu của người tham gia tố tụng và tiến hành những việc cần thiết cho việc mở phiên
tòa.
Trong thời hạn 07 ngày trước khi mở phiên tòa Thẩm phán được phân công
làm chủ tọa phiên tòa phải có trách nhiệm gửi giấy mời Hội thẩm đến trụ sở Tòa án
để nghiên cứu hồ sơ và trao đổi các vấn đề cần thiết về nghiệp vụ xét xử đối với vụ
án đó [43]. Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa
có thể đưa ra các quyết định: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ vụ án; tạm đình
chỉ vụ án; đưa ra xét xử; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không
phải là biện pháp tạm giam. Cũng trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán
được phân công chủ tọa phiên tòa đề nghị Chánh án ra quyết định áp dụng, thay đổi
nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất
nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đồng thời Tòa án phải mở phiên
tòa trong thời hạn 15 ngày sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thời hạn 15 ngày không đủ để Tòa án mở
phiên tòa. Vì vậy Điều 176 BLTTHS có quy định thêm “Trong trường hợp có lý do
chính đáng thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày”.
13
Đối với thời hạn chuẩn bị xét xử trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn:
Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là một dạng đặc biệt của thủ tục tố tụng nhằm
đơn giản hoá, giảm bớt một số nguyên tắc, trình tự trong tố tụng hình sự tạo điều
kiện xử lý vụ án nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác và đảm
bảo các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự.
- Những quyết định của Tòa án trong hoạt động chuẩn bị xét xử:
Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo để ngăn chặn những hành vi nguy hiểm
cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có
những hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Do
vậy, ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án. Tòa án phải quyết định áp dụng biện pháp
ngăn chặn; thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng nếu thấy biện
pháp ngăn chặn đang được áp dụng không cần thiết nữa; tiếp tục duy trì biện pháp
ngăn chặn đang được áp dụng đối với bị can, bị cáo nếu thấy cần thiết.
Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp
dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để đảm bảo. Đối với bị can đang tạm giam: Thời hạn tạm giam tính
từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án, trong trường hợp khi nhận hồ sơ vụ án thời hạn tạm giam
còn lại không quá 5 ngày hoặc thời hạn tạm giam tính từ ngày tiếp theo của lệnh tạm
giam trước đó.
Sau khi nhận hồ sơ vụ án mà bị can, bị cáo có biểu hiện không có năng lực trách
nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 BLHS thì Tòa án trưng cầu giám định pháp
y. Nếu kết luận của Hội đồng giám định pháp y xác định bị can, bị cáo bị bệnh tâm
thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác thì Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.
Căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Thẩm phán báo cáo Chánh án
ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp bị can, bị cáo bỏ trốn thì Tòa án yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã.
Nếu thời hạn chuẩn bị xét xử hết mà việc truy nã bị can vẫn chưa có kết quả thì
Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.
Theo quy định tại Điều 180 BLTTHS Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án
khi người bị hại yêu cầu khởi tố vụ án tự nguyện rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở
phiên tòa sơ thẩm.
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ xác
định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến độ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình
chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội
15
phạm được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết; trừ trường
hợp tái thẩm đối với người khác.
Thẩm phán cũng ra quyết định đình chỉ khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố
trước khi mở phiên tòa. Theo Điều 181 BLTTHS thì VKS rút quyết định truy tố khi
xét thấy có một trong những căn cứ tại Điều 107 BLTTHS ( Căn cứ không khởi tố vụ
án ); có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can quy định tại Điều 19 BLHS
( Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ) và Điều 25 BLHS ( Miễn trách nhiệm
hình sự ) hoặc khoản 2 Điều 69 BLHS ( Người chưa thành niên phạm tội có thể được
miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm
trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan,
Kiểm sát viên...Trong những trường hợp có lý do phải thay đổi hoặc không trưng cầu
giám định trong khi bắt buộc phải trưng cầu giám định; Có việc bức cung hay dùng
nhục hình đối với bị can...
Trong trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu
và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì VKS ra quyết định đình
chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết.
- Việc giao các quyết định của Tòa án và triệu tập những người cần xét hỏi
đến phiên tòa: Điều 182 BLTTHS quy định Tòa án phải giao quyết định đưa vụ án ra
xét xử cho bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ chậm nhất là 10
ngày trước khi mở phiên tòa. Việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử trước khi mở
phiên tòa đảm bảo trong thời hạn 10 ngày tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện các
quyền bào chữa và có thể đề xuất với Tòa án những vấn đề cần giải quyết như: Triệu
tập thêm người làm chứng; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng...
Tòa án phải giao quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án cho bị can, bị
cáo, người bào chữa, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo. Đối
với những người tham gia tố tụng khác Tòa án không phải gửi quyết định mà chỉ cần
gửi giấy báo về các quyết định trên cho họ. Việc giao các quyết định này để cho họ
biết vụ án đã bị tạm đình chỉ hoặc đình chỉ, nếu không đồng ý thì họ có thể kháng
cáo.
Đối với các quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
Tòa án phải gửi ngay cho bị can, bị cáo và trại tạm giam nơi bị can, bị cáo đang bị
tạm giam thực hiện. Đồng thời với việc gửi các quyết định cho bị can, bị cáo người
đại diện hợp pháp và người bào chữa của họ thì Tòa án cũng phải gửi cho Viện kiểm
sát cùng cấp để thực hiện chức năng giám sát trong thời hạn luật định
Song song với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử khi căn cứ vào quyết
định thì Thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa, Thẩm phán phải
17
có ý nghĩa rất quan trọng, vì đó là bảo đảm cho việc xét xử khách quan; bảo đảm
quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khác, tạo ra sự tin
18
tưởng, tâm phục khẩu phục từ phía người tham dự phiên tòa đối với hoạt động xét xử
của Tòa án.
Về sự có mặt của người tham gia tố tụng đã được Bộ luật tố tụng hình sự nước
ta quy định tương đối mềm dẻo linh hoạt từ Điều 187 BLTTHS đến Điều 193
BLTTHS. Riêng đối với sự có mặt của bị cáo được quy định chặt chẽ, nội dung
những quy định này hướng tới đảm bảo sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa
- Thủ tục bắt đầu phiên toà: Thủ tục bắt đầu phiên tòa chính là phần mở đầu
mà thực tiễn xét xử thường gọi là “Phần thủ tục” bao gồm nhiều việc phải tiến hành
cho đến khi chuyển sang phần xét hỏi tại phiên tòa.
Thủ tục bắt đầu phiên toà được quy định từ Điều 201 đến Điều 205 BLTTHS năm
2003. Đây là một thủ tục có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xét xử một vụ án
hình sự. Một phiên toà diễn ra đúng quy định của pháp luật, chiếm được lòng tin của
nhân dân đòi hỏi phải có sự chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên
toà. Theo quy định tại Điều 201 BLTTHS, khi bắt đầu phiên tòa, chủ tọa phiên tòa
đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Việc chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án
ra xét xử là bắt buộc và đây là hình thức khai mạc phiên tòa.
Sau khi phần thủ tục đã thực hiện xong, không có ai có ý kiến gì khác thì chủ tọa phiên
tòa sẽ tuyên bố kết thúc phần thủ tục bắt đầu và chuyển sang phần xét hỏi.
- Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự: Xét hỏi tại phiên toà là một phần (một
giai đoạn) của quá trình xét xử một vụ án hình sự, trong đó Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải kiểm tra các
chứng cứ, kết luận điều tra, bản cáo trạng một cách công khai về những tình tiết của
vụ án. Trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người
bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải trực tiếp xét hỏi bị cáo, người bị
phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Trong những vụ án mà bị cáo không nhận tội, lời khai của những người được
triệu tập đến phiên tòa mâu thuẫn với lời khai trong giai đoạn điều tra thì với trách
nhiệm thực hành quyền công tố tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải chủ động xét hỏi để
bảo vệ bản cáo trạng. Những người tham gia tố tụng khác không có quyền xét hỏi
nhưng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi về những tình tiết mà minh thấy
cần làm sáng tỏ. Trong trường hợp này nếu được chủ tọa cho phép thì những người
này có thể trực tiếp đặt câu hỏi đối với người được hỏi.
Tuy nhiên việc xét hỏi tại phiên tòa là cuộc điều tra công khai chính thức các
bị cáo là người bị buộc tội nên trong thực tiễn việc xét hỏi bao giờ cũng được bắt đầu
từ bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm: Thủ tục tranh luận tại phiên tòa
hình sự vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
là một thủ tục cần thiết trong hoạt động xét xử của Toà án, là cơ sở để Toà án giải
20
quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, chính xác. Mục đích của hoạt động
tranh luận là tìm ra chân lý khách quan của vụ án, do đó đòi hỏi phải có sự tham gia
tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, tức là phải tồn tại song song hai chức
năng buộc tội và chức năng bào chữa.
Xét hỏi có thể được xem là nền tảng của việc tranh tụng. Bởi vì, thông qua xét
hỏi mới có cơ sở để xác định đầy đủ các tình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án. Từ
đó, các chủ thể của bên buộc tội và bên gỡ tội có cơ sở để bảo vệ quan điểm lập luận
của mình. Việc xét hỏi đúng trọng tâm cụ thể và chi tiết bao nhiêu càng củng cố cho
lập luận của các chủ thể vững chắc bấy nhiêu. Quan điểm của các chủ thể tranh luận
chỉ có sức thuyết phục khi nó được đặt nền móng bởi các chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án được xét hỏi, thẩm định tại phiên tòa và sẽ thiếu tính thuyết phục nếu các chứng
cứ đưa ra dựa trên “án tại hồ sơ” mà không được thẩm định công khai tại phiên tòa.