BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM QUANG HUY
NHU CẦU SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ Y TẾ THEO YÊU CẦU
CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG
NĂM 2015 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ VĂN HỢI
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội,
Phòng Đào tạo Đại học đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu tại trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y Hà
Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công
cộng, các thầy cô trong Bộ môn Thống kê Y học đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em
trong 4 năm học tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận này.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn TS LÊ
VĂN HỢI - người thầy hướng dẫn đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận của mình.
TLSD
Tỉ lệ sử dụng
CI
Khoảng tin cậy (Confident Interval)
CSSK
Chăm sóc sức khoẻ
BV
Bệnh viện
KCB
Khám chữa bệnh
XN
Xét nghiệm
CSBMTE
Chăm sóc bà mẹ trẻ em
OR
1.2 Một số nghiên cứu về dịch vụ y tế trên thế giới và ở Việt Nam ......... 20
1.2.1. Nghiên cứu ở nước ngoài : ............................................................ 20
1.2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam .............................................................. 21
1.3 Thông tin về Bệnh viện Phổi Trung Ương ......................................... 22
1.3.1 Thông tin chung về bệnh viện ...................................................... 22
1.3.2 Mục tiêu của bệnh viện ................................................................. 23
1.3.2 Sơ lược về quá trình khám chữa bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung
Ương ............................................................................................. 23
1.4 Các văn bản pháp luật liên quan tới chăm sóc sức khỏe .................... 25
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 27
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu......................................................... 27
2.2. Thiết kế nghiên cứu .............................................................................. 27
2.3. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 27
2.3.1.Tiêu chuẩn lựa chọn ....................................................................... 27
2.4.Cỡ mẫu và chọn mẫu ............................................................................. 27
2.5.Biến số và chỉ số .................................................................................... 28
2.6.Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu ..................................................... 31
2.7. Quy trình thu thập số liệu ..................................................................... 32
2.8 Sai số và cách khống chế sai số ............................................................. 32
6
2.9.Quản lý, xử lý và phân tích số liệu ........................................................ 32
2.10.Vấn đề đạo đức nghiên cứu ................................................................. 32
Chương 3. KẾT QUẢNGHIÊN CỨU ......................................................... 33
3.1. Đặc điểm của người bệnh tại tại Bệnh viện Phổi Trung Ương ............ 33
3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học ............................................................... 33
3.2.Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ theo yêu cầu ...................................... 36
3.2.1. Nhu cầu sử dụng dịch vụ lựa chọn bác sĩ chữa bệnh .................... 36
người bệnh lựa chọn bác sĩ ................................................................... 37
Bảng 3.3 Nhu cầu lựa chọn kĩ thuật và sử dụng thuốc, vật tư có chất lượng
cao hơn so với mức thông thường ........................................................ 39
Bảng 3.4 Yêu cầu của người bệnh về tuổi tác, giới tính và trình độ của người
chăm sóc hộ ........................................................................................... 40
Bảng 3.5 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về công việc
hàng ngày .............................................................................................. 41
Bảng 3.6 Yêu cầu của người bệnh đối với người chăm sóc hộ về thời gian
chăm sóc hàng ngày .............................................................................. 41
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về
dịch vụ lựa chọn bác sĩ theo yêu cầu .................................................... 42
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về
dịch vụ lựa chọn thời gian thực hiện thủ thuật ..................................... 43
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu về
dịch vụ lựa chọn kĩ thuật với chất lượng cao hơn so với quy định ....... 45
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu
về dịch vụ lựa chọn thuốc với chất lượng cao hơn so với quy định ..... 48
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu
về dịch vụ lựa chọn vật tư tiêu hao có chất lượng cao hơn so với quy
định............................................................................................................................. 49
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa một số đặc điểm của người bệnh với nhu cầu
về dịch vụ người chăm sóc hộ............................................................... 51
8
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Sự phân bố người bệnh theo nhóm tuổi ...................................... 33
Biểu đồ 3.2 Sự phân bố của người bệnh theo giới .......................................... 34
khám 60 - 100 người bệnh/ngày là phổ biến. Báo cáo đã chỉ ra rằng một trong
những nguyên nhân chính gây ra quá tải là do nhu cầu chữa bệnh của người
bệnh ngày càng tăng trong khi số giường bệnh và bác sĩ không tăng hoặc tăng
ít không đáp ứng đủ nhu cầu của người bệnh. Hậu quả của quá tải trong các
cơ sở y tế là không đảm bảo chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh cũng như sự
an toàn của người bệnh đặc biệt với các người bệnh là trẻ em, người già, phụ
nữ có thai. Rất nhiều các trường hợp lây nhiễm chéo, nhiễm trùng bệnh viện
đã xảy ra do sự quá tải này. Không những thế, do số lượng người bệnh quá
đông nên thời gian khám cho từng người bệnh ở khoa khám bệnh không được
đảm bảo. Trước tình trạng này, Bộ Y tế đã đưa ra một số giải pháp chống quá
11
tải bệnh viện, trong đó có việc khuyến khích các cơ sở y tếlàm việc vào ngày
thứ 7, chủ nhật trong tuần và ngoài giờ hành chính[2]. Nhiều bệnh viện đã bố
trí thêm ca trực, làm ngoài giờ để đáp ứng nhu cầu của người bệnh làm ảnh
hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế và chất lượng dịch vụ.
Bệnh viện Phổi Trung Ương là một bệnh viện đầu ngành về chuyên
khoa hô hấp. Theo kết quả báo cáo hoạt động của bệnh viện trong 6 tháng đầu
năm 2013, quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013 là 500 giường.Công
suất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là 108,9%[3]. Các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu sẽ giúp giảm bớt sự quá tải cho bệnh viện,
tăng chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh, đảm bảo quyền và lợi ích cho
người bệnh, mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn hơn trong việc khám
chữa bệnh.Nghiên cứu này nhằm cung cấp những bằng chứng giúp cho Ban Lãnh
đạo và quản lý của Bệnh viện Phổi Trung Ương lập kế hoạch và triển khai cung
cấp các loại hình dịch vụ theo yêu cầu này.Để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
người bệnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu : “ Nhu cầu sử dụng một số dịch vụ
y tế theo yêu cầu của người bệnh tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương năm 2015
chăm sóc sức khỏe cho người dân nhưng nó cũng sẽ có một số điểm khác biệt
so với dịch vụ y tế, vì dịch vụ y tế theo yêu cầu sẽ phục vụ một bộ phận người
bệnh và người nhà có yêu cầu được chăm sóc sức khỏe cao hơn so với bình
thường. Họ muốn được sử dụng trang thiết bị, thuốc men với chất lượng cao,
muốn được khám và chữa bệnh bởi những bác sĩ mà họ được chọn lựa với
thời gian khám được họ lựa chọn … Đây là dẫn chứng của một số dịch vụ y tế
theo yêu cầu phổ biến.
Dịch vụ y tế theo yêu cầu có một số tính chất sau
a, Tính không mất đi:
Sau khi cung ứng dịch vụ thì kĩ năng dịch vụ sẽ không bị mất đi. Ví dụ
như là sau khi thực hiện xong một ca phẫu thuật thành công thì bác sĩ sẽ
13
không bị mất đi khả năng của mình. Đây là một tính chất quan trọng thể hiện
tính lâu dài và liên tục của dịch vụ y tế.
b, Tính vô hình và phi vật chất :
Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta
không thể cầm, nắm sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo
lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng
lượng giống như người bệnh không thể biết trước kết quả khám bệnh trước
khi đi khám bệnh.
c, Tính không thể phân chia:
Qúa trình tiêu thụ và sản xuất ra dịch vụ diễn ra đồng thời. Trong dịch
vụ y tế, phải luôn có sự đồng hành giữa người bệnh và người cung cấp dịch
vụ. Hai nhóm này phải gắn bó tạo thành một khối thống nhất. Người cung
cấp phải luôn lắng nghe ý kiến của người bệnh để có thể hoàn thiện dịch vụ
của mình. Người bệnh và gia đình phải tôn trọng và tuyệt đối tuân thủ những
yêu cầu của người cung cấp dịch vụ vì dịch vụ y tế là một loại hình dịch vụ
bệnh viện hay trạm xá đến mấy quả đồi, nhiều người đã không đến bệnh
viện hay trạm xá mà lại tin tưởng các thầy cúng dẫn để chữa bệnh mang lại
những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người bệnh. Các thí dụ trên cho
thấy hoàn cảnh tạo ra dịch vụ y tế đóng vai trò thiết yếu đến chất lượng dịch
vụ.
e, Dịch vụ không thể lưu giữ được:
Cũng giống như các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế không thể lưu giữ
được. Chúng ta không thể mua các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh rồi để
dành lúc nào cần thì dùng. Đặc điểm này không phải là vấn đề quá lớn nếu
nhu cầu là ổn định và có thể dự báo trước như là vào mùa nóng thì các bệnh
truyền nhiễm như sốt rét, sốt siêu vi trùng … tăng đột biến nên nhu cầu về
thuốc và dịch vụ y tế liên quan đến các bệnh này sẽ tăng rõ rệt. Nhưng thực
tiễn nhu cầu dịch vụ y tế thường không ổn định, luôn dao động nên nhà cung
ứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ
sở vật chất kỹ thuật. Do vậy nhà cung cấp dịch vụ y tế cần phải nghiên cứu
15
thật cẩn thận nhu cầu về dịch vụ để cân đối được vấn đề sử dụng các nguồn
lực sao cho hợp lí, tránh lãng phí.
f, Dịch vụ y tế cần đến hàm lượng chất xám rất lớn:
Đây là lợi thế cũng như trở ngại lớn nhất cho những người làm trong
ngành y tế. Do là một công việc đặc thù liên quan đến sức khỏe con người
nên việc tuyển chọn nhân lực rất khắt khe. Không chỉ phải có năng lực
chuyên môn, những người làm nghề y cần có lòng thương người như Bác Hồ
đã có lời tuyên dương với ngành y: “Lương y như từ mẫu“. Ngành Y là
ngành rất vinh quang nhưng đi kèm với nó là trách nhiệm. Trách nhiệm với
sức khỏe người bệnh, trách nhiệm với xã hội, hơn thế nữa là trách nhiệm với
lương tâm của người thầy thuốc. Tuy nhiên để thu hút những cá nhân ưu tú
1.1.3 Nguồn gốc, phân loại và lợi ích của các dịch vụ y tế theo yêu cầu :
Trong những năm qua do có chính sách mở cửa và cải cách đến từ
ngành y tế, nền y tế Việt Nam ngày càng phát triển. Sau đây là một số biến
đổi rõ nét.
+ Phân hóa trong thu nhập, khiến nhu cầu về dịch vụ y tế cũng phân
hóa. Thu nhập bình quân tăng, khiến yêu cầu về chất lượng dịch vụ y tế, đặc
biệt là chất lượng của cơ sở vật chất nâng cao. Người bệnh mong muốn không
chỉ thầy thuốc giỏi mà họ còn muốn được sử dụng những trang thiết bị, các
tiện nghi khác như điều hòa nhiệt đồ, ti vi, tủ lạnh …
+ Bệnh viện công lập chuyển từ không thu viện phí sang thu một phần
hoặc thu đủ viện phí rồi một số nơi có khuynh hướng tiến đến tự chủ hoàn
toàn về kinh tế để đảm bảo nguồn ngân sách ổn định cho bệnh viện. Do không
còn là dịch vụ miễn phí nên yêu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ y tế
cũng tăng lên, người bệnh chấp nhân trả tiền viện phí nên họ có quyền được
hưởng dịch vụ có chất lượng tốt nhất. Việc tự chủ về kinh tế giúp giảm lệ
thuộc vào ngân sách cùa nhà nước nhưng cũng là thử thách rất lớn cho các
bệnh viện. Bệnh nhân là người sử dụng các dịch vụ y tế, họ có quyền lựa chọn
và sử dụng dịch vụ ở những nơi mà họ cho là có chất lượng tốt nhất, phù hợp
với hoàn cảnh cũng như điều kiện kinh tế của họ. Nếu các bệnh viện không
17
thường xuyên nâng cao tay nghề bác sĩ cũng như nâng cấp cơ sở vật chất thì
có thể xảy ra hiện tượng mất cân bằng thu-chi trong bệnh viện .
+ Cơ sở y tế tư nhân ngày càng phát triển, các bệnh viện tư xuất hiện
càng nhiều. Các bệnh viện tư với lợi thế về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ
tốt đã thu hút được rất nhiều bác sĩ có tay nghề cao. Hơn thế nữa, khi dân số
tăng lên nên nhu cầu về dịch vụ y tế ngày càng lớn mà các cơ sở y tế của nhà
nước không phát triển đáp ứng đủ nhu cầu này dẫn đến thực trạng quá tải cho
tàn tật và phụ nữ có thai. Nhu cầu của người bệnh quá lớn nên bệnh viện
phải bố trí thêm ca trực, làm ngoài giờ ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân
viên y tế. Không những thế, việc đứng xếp hàng quá lâu của người bệnh hay
làm việc dưới áp lực cao của bác sĩ khiến cho cả người bệnh và bác sĩ đều
mệt mỏi và căng thẳng.
Ngày nay, nước ta đang hòa nhập và mở cửa với thế giới, ngành y tế
cũng không ngoại lệ. Bệnh viện tư xuất hiện càng nhiều, một số người
bệnhcòn lựa chọn ra nước ngoài để khám chữa bệnh. Người bệnh càng ngày
càng có nhiều sự lựa chọn để sử dụng các dịch vụ y tế. Tiêu chí để lựa chon của
người bệnh không chỉ là năng lực điều trị của bác sĩ mà còn ở trang thiết bị, cơ
sở vật chất của cơ sở y tế. Nhu cầu này đặc biệt rõ rệt ở các người bệnh-những
người phải ở tại bệnh viện lâu dài. Dịch vụ chữa bệnh theo yêu cầu sẽ giải quyết
một phần cho nhu cầu này.
Dịch vụ chữa bệnh theo yều cầu bao gồm dịch vụ lựa chọn bác sĩ, lựa
chọn thời gian chữa bệnh và làm các thủ thuật, lựa chon kĩ thuật công nghệ
cao , lựa chọn thuốc và vật tư tiêu hao chất lượng cao.
a. Dịch vụ lựa chọn bác sĩ :
Dịch vụ này như tên gọi mang đến cho người bệnh nhiều sự lựa chọn
về bac sĩ sẽ điều trị cho họ. Người bệnh hoàn toàn có thể dựa trên học vị hay
sự giới thiệu của người quen để lựa chọn bác sĩ mà họ tin tưởng. Dịch vụ
này thể hiện sự dân chủ và khách quan trong quá trình khám chữa bệnh với
phương châm lấy người bệnh làm trung tâm. Đây là dịch vụ đã được áp
19
dụng vào thực tế tại rất nhiều bệnh viện lớn và đã được nhiều kết quả mang
tính khả quan.
b. Dịch vụ lựa chọn thời gian chữa bệnh và tiến hành thủ thuật:
Trong thời buổi kinh tế thị trường, thời gian là vàng bạc. Trên thực tế,
gian để trông nom, chăm sóc người ốm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thời
gian, công việc, sức khỏe của người nhà người bệnh. Dịch vụ người chăm
sóc hộ đối với người bệnh sẽ giúp giải quyết một phần vấn đề này. Dịch vụ
này sẽ cung cấp cho người nhà người bệnh nhiều sự lựa chọn về nguồn gốc
người chăm sóc, tuổi của người chăm sóc, trình độ của người chăm sóc.
Không những thế, bạn có thể lựa chọn thời gian của người chăm sóc, có thể
chăm sóc bán thời gian hoặc cả ngày, cách ngày hoặc cả tuần. Những người
chăm sóc hộ sẽ giúp chăm sóc người bệnh những công việc hàng ngày như
ăn uống, tắm rửa, vệ sinh sạch sẽ, giúp đỡ người bệnh đi lại.
1.2 Một số nghiên cứu về dịch vụ y tế trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu ở nước ngoài :
- Shipman C. & Dale J. (1996) nghiên cứu về sự đánh giá của bác sỹ
đối với nhu cầu khám chữa bệnh ngoài giờ theo các nhu cầu về thể chất, tâm
sinh lý và xã hội ở một vùng của Vương quốc Anh. 66% các yêu cầu khám
bệnh ngoài giờ có liên quan đến các yêu cầu về thể chất, tâm sinh lý và xã
hội và 10.7% các trường hợp là không xác định được mối liên quan. [6]
- Salisbury (2002) xem xét các nghiên cứu nhu cầu về dịch vụ khám
bệnh ngoài giờ của bác sỹ ở nước Anh cho thấy tất cả các dịch vụ ngoài giờ
đều tính thêm chi phí gia tăng ( night visit fees), mức tăng tùy thuộc vào từng
khu vực, trình độ của bác sĩ. [7]
- Kajal & Guibo (2003) tiến hành nghiên cứu phân tích nhu cầu dịch vụ
chăm sóc sức khỏe ngoại viện của các cựu chiến binh được hỗ trợ bởi
Medicare phát hiện rằng số tiền chênh lệch sau khi được Medicare hỗ trợ và
khoảng cách từ nhà đến bệnh viện làm giảm khả năng lựa chọn dịch vụ chăm
sóc ngoại viện. Một số yếu tố khác như thu nhập, tình trạng bảo hiểm, phương
tiện đi lại, công việc, sức khỏe và tình trạng các chẩn đoán cũng ảnh hưởng
đến quyết định lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngoại viện. [8]
21
22
74,0%. Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh giá nhân viên y tế có thái độ quan
tâm chu đáo khi cung cấp dịch vụ khám thai chiếm 73,8%, khi cung cấp dịch
vụ CSBMTE trong và sau sinh chiếm 68,5%, khi cung cấp dịch vụ tiêm chủng
chiếm 73,5%. Phần lớn người sử dụng dịch vụ đánh giá chất lượng của 5 dịch
vụ cung cấp bởi trạm y tế ở mức khá và tốt. Có rất ít người đánh giá chất
lượng dịch vụ ở mức kém hoặc trung bình. Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ đánh
giá chất lượng dịch vụ ở mức tốt đối với dịch vụ KCB chiếm 65,0%, đối với
dịch vụ khám thai chiếm 70,8%, đối với dịch vụ CSSKBMTE trong và sau
sinh chiếm 57,3%, đối với dịch vụ tiêm chủng chiếm 72,6%. [12]
-Bùi Thùy Dương (2010) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu
chăm sóc sức khỏe ngoài giờ và tại nhà của người bệnh và người nhà người
bệnh tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010 cho thấy người bệnh và người
nhà người bệnh đều có nhu cầu cao sử dụng dịch vụ CSSK ngoài giờ và tại
nhà (53.3% - 90.3%), nhất là dịch vụ khám vào ngày thứ 7 và chủ nhật.[13]
1.3 Thông tin về Bệnh viện Phổi Trung Ương
1.3.1 Thông tin chung về bệnh viện
Bệnh viện Phổi Trung ương tiền thân là Viện Chống Lao Trung Ương,
được thành lập ngày 26/4/1957 theo Nghị định số 273/TTg của Thủ tướng
Chính phủ. Đây là một trong những viện nghiên cứu được thành lập sớm nhất
của ngành Y tế. Viện có nhiệm vụ nghiên cứu về bệnh lao, chữa cho người
bệnh lao tại Viện và điều trị ngoại trú, tổ chức an dưỡng cho người bệnh lao,
phát hiện bệnh lao trong cộng đồng, giáo dục ý thức về phòng lao và đào tạo
cán bộ chuyên khoa.
Từ khi thành lập tới nay Viện đã có 3 lần đổi tên phù hợp với chức
năng nhiệm vụ theo từng giai đoạn. Năm 1985, Viện được đổi tên thành Viện
Lao và Bệnh Phổi đảm nhận nhiệm vụ rộng hơn, là Viện chuyên khoa đầu
ngành về Lao và Bệnh Phổi.
cao mặc dù số người bệnh điều trị nội trú nhiều, công suất sử dụng giường bệnh
ở mức cao. Đặc biệt là ở một số khoa tình trạng quá tải cũng thường xuyên
xảy ra tại khu vực điều trị như: khoa Lao, Bệnh Màng phổi, khoa Ung bướu
24
với tỉ lệ quá tải từ 130 – 150%.Quy mô giường bệnh của bệnh viện năm 2013
là 500 giường, công suất sử dụng giường bệnh 6 tháng đầu năm 2013 là
108,9% tăng 2,1% so với 6 tháng đầu năm 2012. So sánh với số liệu của 6
tháng đầu năm 2012 cho thấy hoạt động khám bệnh nói chung của bệnh viện khá
tốt với số lần khám bệnh tăng 2,5%, Số người khám bệnh tăng 4,5%, Số xét
nghiệm theo dõi chức năng hô hấp giảm 6,6 %, Số XN Sinh hóa giảm 1,4%, Số
XN chụp phim thường quy giảm 5,1%, Số XN Siêu âm giảm 6,0%.. Nguyên
nhân của vấn đề này có thể là do nhu cầu khám chữa bệnh của người dân
ngày càng cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ ở tuyến trên dễ dàng hơn (do
giao thông được cải thiện, mức thu nhập tăng, số người có thu nhập cao tăng
lên), ngoài ra mức viện phí giữa bệnh viện các tuyến chênh nhau không nhiều
nên người dân dồn vào các tuyến trên [14] .
Hoạt động khám bệnh là một chuỗi các công việc diễn ra tại khoa
Khám bệnh và có liên quan đến nhiều đơn vị trong bệnh viện như bộ phận thu
viện phí, các phòng XN và bộ phận đón tiếp người bệnh nhập viện. Khoa
khám bệnh có nhiệm vụ tiếp nhận người bệnh, khám bệnh, làm các thủ tục
nhập viện, điều trị ngoại trú. Đây là nơi đầu tiên người bệnh tiếp cận với bệnh
viện, cũng là nơi có ảnh hưởng nhiều nhất đến tâm lý của người bệnh, góp
phần quan trọng tác động đến chất lượng điều trị, chăm sóc, chẩn đoán đúng,
sát bệnh. Nếu chỉ định xét nghiệm đúng sẽ tiết kiệm chi phí cho người bệnh.
Nếu khám bệnh đúng thì sẽ tiết kiệm thời gian cho người bệnh. Về nhân lực
phục vụ cho hoạt động khám bệnh, trong 6 tháng đầu năm 2013, bệnh viện
vẫn duy trì 06 phòng khám chuyên khoa với 05 bác sĩ, 14 điều dưỡng. Bộ