B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
THU THY
THựC TRạNG TIếP CậN DịCH Vụ Dự PHòNG
LÂY NHIễM HIV CủA NGƯờI LAO ĐộNG Tự DO DI
BIếN ĐộNG
Và MộT Số YếU Tố LIÊN QUAN TạI Hà NộI NĂM
2012
Chuyờn ngnh: Y t cụng cng
Mó s: 60.72.76
LUN VN THC S Y T CễNG CNG
NGI HNG DN KHOA HC
PGS.TS. Trn Nh Nguyờn
H NI 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà
Nội, Phòng Đào tạo Sau Đại học và Phòng Giáo trình và Phòng đọc Thư
viện đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại
trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Y
Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y
tế Công cộng, các thầy cô trong Bộ môn Sức khỏe Nghề Nghiệp đã tận tình
giúp đỡ em trong thời gian học tại trường cũng như trong quá trình hoàn
thành luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn
PGS.TS. Trần Như Nguyên - người thầy hướng dẫn đã dành nhiều thời gian
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận văn của mình.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thành viên nhóm nghiên
DVBCS Dịch vụ cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS
DVBKT Dịch vụ cung cấp và hướng dẫn sử dụng bơm kim
tiêm sạch
DVTVXNTN Dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện
DVTTTĐHV Dịch vụ cung cấp thông tin, giáo dục, truyền
thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS
HIV (Human Immuno-deficiency Virut)
Vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc
phải ở người
NCMT Nghiện chích ma túy
LĐTDBĐ Lao động tự do di biến động
QHTD Quan hệ tình dục
TCMT Tiêm chích ma túy
UNAIDS (United Nations Programme on AIDS)
Chương trình Phối hợp phòng, chống AIDS của
Liên hiệp quốc
WHO (World Health Oganization)
Tổ chức Y tế thế giới
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong suốt chặng đường 30 năm đương đầu với dịch HIV/AIDS trên thế
giới, “người di biến động” nói chung và người “lao động tự do di biến động”
nói riêng luôn được Chương trình Phối hợp phòng, chống AIDS của Liên hiệp
quốc (UNAIDS) cũng như Chương trình Phòng, chống HIV/AIDS của các
quốc gia xác định là một trong những những nhóm người dễ bị tổn thương
nhất đối với dịch bệnh này.
Các nghiên cứu ở nhiều thời điểm, khu vực khác nhau trên thế giới đến
nay dường như đều cho thấy nhiều người trong nhóm dân di cư và di biến
động phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn những người sống
định cư, và khi đã xảy ra nhiễm HIV thì nhìn chung họ sẽ gặp phải nhiều khó
cung cấp những bằng chứng về thực trạng tiếp cận dịch vụ cận các dịch vụ dự
phòng lây nhiễm HIV, cũng như một số yếu tố liên quan đến khả năng này
của LĐTDDBĐ trên địa bàn Hà Nội, thông qua đó góp phần giúp cho các cơ
quan phòng, chống HIV/AIDS ở Hà Nội xây dựng các chương trình, dự án
can thiệp thích hợp để cung cấp được các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS
mà LĐTDDBĐ cần, đồng thời khắc vụ các rào cản để các dịch vụ này đến
được với họ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tiếp cận dịch vụ dự
phòng lây nhiễm HIV của người lao động tự do di biến động và một số yếu
tố liên quan tại Hà Nội năm 2012” này nhằm mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV của người
lao động tự do di biến động tại Hà Nội năm 2012.
2. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ dự phòng lây
nhiễm HIV của người lao động tự do di biến động tại Hà Nội năm 2012.
6
Các yếu tố liên quan đến tiếp cận
Dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS của LĐTDDBĐ
Tiếp cận dịch vụ dự
phòng lây nhiễm HIV
của LĐTDDBĐ thấp
Thiếu dịch
vụ/dịch vụ
chưa với
tới/không
có dịch vụ
phù hợp
Môi trường
xã hội
Không biết lợi ich của dịch
vụ; Không biết dịch vụ ở đâu
- Không có tài liệu
để thực
hiên
- Thiếu
hiểu biết
- Sợ tốn
tiền
- Thiếu
nguồn lực
thiết lập
/mở rộng
dịch vụ
-Thiếu kiến
thức
- Tự cho
rằng mình
không có
nguy cơ
nhiêm bệnh
Thiếu phương
tiện đi lại
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Những vấn đề chung
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Người di biến động:
+ Người di biến động là những người thường xuyên sống xa gia đình,
thay đổi chỗ ở và nơi làm việc [6].
+ Người di biến động là những người di chuyển từ nơi này đến nơi khác
một cách tạm thời theo thời vụ, hoặc lâu dài vĩnh viễn, do tự nguyện hoặc bị
thường trú tại Hà Nội, đăng ký tạm trú từ 1 đến 3 tháng hoặc không đăng ký).
- Các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS: Bao gồm các dịch vụ dự phòng lây
nhiễm HIV/AIDS và dịch vụ về chăm sóc và điều trị HIV/AIDS.
- Dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS: Bao gồm cung cấp thông tin, giáo
dục truyền thông thay đổi hành vi; can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm
HIV (cung cấp và hướng dẫn sử dụng BCS; cung cấp và hướng dẫn sử dụng
bơm kim tiêm sạch; điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay
thế Methadone, tiếp cận cộng đồng); tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện…
- Dịch vụ về chăm sóc, hỗ trợ và điều trị nhiễm HIV/AIDS: Bao gồm điều trị,
chăm sóc dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS tại nhà và tại cộng đồng; chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại
bệnh viện khi ốm đau; điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội; điều trị bằng
thuốc kháng vi rút (ARV); hướng dẫn tiếp cận các dịch vụ y tế và dịch vụ xã
hội có liên quan…
9
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung vào các dịch vụ về
dự phòng lây nhiễm HIV, bao gồm:
- Dịch vụ về thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi phòng,
chống HIV/AIDS;
- Dịch vụ về can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV (cung
cấp và hướng dẫn sử dụng BCS; cung cấp và hướng dẫn sử dụng
BKT sạch;)
- Dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện;
1.1.2. Tình hình dịch HIV/AIDS
1.1.2.1. Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới
Đã hơn 30 năm, nhưng dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục lây lan trên toàn
thế giới. Theo Báo cáo Cập nhật dịch HIV/AIDS toàn cầu (do UNAIDS và
WHO tổng hợp từ hơn 180 quốc gia, vùng lãnh thổ và công bố ngày
23/11/2011) thì trong năm 2010 toàn thế giới có khoảng 2,7 triệu mới nhiễm
HIV (dao động từ 2,4 đến 2,9 triệu), đưa số người nhiễm HIV/AIDS đang
xã/phường, hơn 98% số huyện/quận và 100% số tỉnh/thành phố ở nước ta đã
có người nhiễm HIV/AIDS được báo cáo. Điều đáng lưu ý trong tình hình
dịch HIV/AIDS ở hiện nay ở Việt Nam đó là nhiễm HIV qua đường quan hệ
tình dục có xu hướng tăng và điều này có thể dẫn đến sự gia tăng nhiễm HIV
trong các nhóm người di biến động. Phân tích số người nhiễm HIV được báo
cáo năm 2011 của Cục Phòng, chống HIV/AIDS cho thấy: so sánh với cùng
kỳ năm 2010 thì tỷ lệ nhiễm HIV lây truyền qua đường đường tình dục tăng
khoảng 9,5%, đặc biệt ở khu vực phía nam sự lây truyền HIV qua quan hệ
tình dục chiếm tỷ lệ khá cao (24%), tập trung ở một số tỉnh như Kiên Giang,
An Giang, Hồ Chí Minh, Đồng Tháp[ 5].
11
Sự lây truyền HIV qua quan hệ tình dục tăng đã góp phần quan trọng
vào việc làm gia tăng số phụ nữ nhiễm HIV. Cũng theo báo cáo của Bộ Y tế,
nữ giới hiện chiếm 31% tổng số người nhiễm HIV, tăng từ mức 15% vào đầu
những năm 2000, do đó tỷ trọng người nhiễm HIV là nữ giới ngày càng
nhiều. Một điều đáng lưu ý nữa là, số người nhiễm HIV được báo cáo trong
năm 2011 vẫn tập trung trong nhóm 20-39 tuổi, trong đó nhóm 20-29 tuổi
chiếm 38% (giảm khoảng 3% so với cùng kỳ năm 2010), nhóm 30-39 tuổi
chiếm 43% (tăng gần 2% so với năm 2010). Còn lại các nhóm tuổi khác
chiếm một tỷ lệ nhỏ (khoảng 16%) và có sự chênh lệch rất nhỏ so với cùng kỳ
năm 2010 [5].
Phân tích số người nhiễm HIV được báo cáo năm 2011 cho thấy nhóm
nghiện chích ma túy (NCMT) vẫn chiếm chủ yếu với tỷ lệ 43,1% (cao hơn
gần 5% so với cùng kỳ năm 2010), tiếp đến là nhóm đối tượng tình dục khác
giới chiếm 21% (tăng khoảng 8% so với cùng kỳ 2010). Các nhóm đối tượng
còn lại có sự thay đổi không đáng kể. Điều này rất đáng lưu ý khi nghiên cứu
về nhu cầu và khả năng tiếp cận dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm người
di biến động [ 5].
1.1.2.3. Tình hình HIV/AIDS trong nhóm di biến động
Trên thế giới: Nhóm di biến động từ lâu đã được coi là mắt xích
thì có đến trên 70% là người có tiền sử lao động xa nhà. Đây là một trong những
đặc thù riêng về hình thái lây nhiễm HIV/AIDS của Thái Bình [30].
Xã Chính Lý, huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam có dân số là 11.090 người
và 2780 hộ dân. Nghề chính là nông nghiệp. Khi hết thời vụ người dân di làm
thuê khắp nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn (khoảng 2000-2500 người). Sự
tác động của nhóm dân di biến động và ảnh hưởng của các tệ nạn xã hội làm
13
cho tình hình dịch HIV/AIDS ngày một gia tăng. Theo số liệu giám sát của
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Hà Nam, tính đến này 15/10 /2008
tích lũy các trường hợp nhiễm HIV của xã Chính Lý là 84, lũy tích bệnh nhân
AIDS là 47, lũy tích tử vong do AIDS là 23. Riêng trong 2 năm (2006-2007
đã phát hiện mới 47 người nhiễm HIV trên địa bàn xã. Đây là con số hết sức
báo động tại 1 xã thuần nông [27].
Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình hiện có khoảng 60%
thanh niên đi làm ăn xa, còn lại làm nghề tự do trên thành phố. Tính đến cuối
tháng 6/2009, toàn Xã có 238 người nhiễm HIV/AIDS, trên tổng số hơn một
vạn dân. Trong số này đã 71 người tử vong do AIDS [22].
1.2. Khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS trong
nhóm di biến động.
1.2.1. Trên thế giới
Tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay, khi vẫn chưa có thuốc đặc
hiệu và vắc xin phòng ngừa HIV/AIDS, thì dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS hiện
nay vẫn được coi là vấn đề then chốt được đặt lên hàng đầu. Tùy theo đặc
điểm, tình hình dịch HIV/AIDS, quan điểm và điều kiện điều kiện thực tế của
mỗi nước mà việc triển khai các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS tại
mỗi nước khác nhau. Tuy nhiên dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS tập
trung vào một số chương trình: TTTĐHV; tiếp cận cộng đồng, chương trình
bơm kim tiêm, bao cao su, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
thuốc thay thế.
Dù ở bất kỳ quốc gia nào, di biến động dân cư là một yếu tố có tiềm
nhân khi xa nhà. Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ của nhóm làm dịch vụ ở các
nhà hàng (16%) và nhóm buôn bán rong (14%). Nhóm đang tìm việc có tỷ lệ
bán máu và sử dụng ma túy cao hơn (tương ứng với 12% và 9%). Dân di cư ở
15
Trung Quốc cũng có hành vi tình dục nguy cơ cao và sử dụng đồ uống có cồn.
Một khảo sát cắt ngang trong 2.153 người di cư trẻ từ nông thôn ra thành thị ở
Bắc Kinh và Nam Khê năm 2002 cho thấy một phần ba số người được phỏng
vấn trả lời có say rượu ít nhất một lần trong tháng trước đó. Những người say
rượu có tỷ lệ cao hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân, có nhiều bạn tình,
mua dâm, và thậm chí còn bán dâm so với những người không say rượu [16].
Một nghiên cứu tương tự ở Hồng Kông năm 2001 trong 2.010 lao động nữ di
cư cho thấy kiến thức chung về HIV/AIDS và các con đường lây nhiễm còn
chưa đầy đủ. Khoảng 54% những người được hỏi cho rằng phụ nữ có nguy cơ
tổn thương với HIV lớn hơn, 9% số phụ nữ đã bị cưỡng bức tình dục hiểu
rằng họ có nguy cơ lây nhiễm HIV, 70% số người được hỏi cho biết đã từng
bị bị phân biệt đối xử (70%) [4].
Tại Campuchia, nghiên cứu của Nshgaya K (2002) dựa trên phỏng vấn sâu
20 lao động nữ ở một doanh nghiệp may chưa lập gia đình cho thấy số này có
quan hệ tình dục với nhiều bạn tình qua môi giới hoặc làm quen trực tiếp. Nghiên
cứu chỉ ra rằng địa vị kinh tế-xã hội thấp (học vấn thấp, tiền công lao động thấp)
cũng như trách nhiệm hỗ trợ cho gia đình là những nhân tố quyết định dẫn đến
hành vi bán dâm. Nghiên cứu này còn cho thấy phụ nữ bán dâm tại các tụ điểm
mại dâm bị bạo hành, phải uống rượu và sử dụng ma tuý (cả dotự nguyện hoặc
không tự nguyện), và tất cả đều chịu mức trả công rẻ mạt. Trong xã hội
Campuchia, người phụ nữ luôn phải phục tùng cha mẹ và người chồng nên bạn
tình của họ trở thành ‘người yêu’ chứ không còn là ‘khách hàng’ (người mua
dâm). Điều này dẫn đến việc không dùng BCS[ 20].
Tại Thái Lan, một nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi (KAB) thực hiện
năm 2000 trong nhóm 725 lao động nhà máy từ Miến Điện sang làm việc tại tỉnh
Tak cho thấy họ không hiểu biết nhiều về HIV. Chỉ có 41% đối tượng trả lời
17
khai tại Việt Nam bao gồm TTTĐHV; tiếp cận cộng đồng, chương trình bơm
kim tiêm, bao cao su, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế Methadone; tư vấn, xét nghiệm HIV tự nguyện. Trong khuôn khổ đề
tài này vấn đề về điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
Methadone sẽ không được chúng tôi đề cập đến.
Nhận định chung về việc tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm
HIV/AIDS tại Việt Nam trong thời gian qua, theo Báo cáo của Ủy ban quốc
gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy mại dâm (2010) Đánh
giá về Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm
nhìn 2020, trong thời gian qua, mặc dù có nhiều tiến bộ trong việc mở rộng
các dịch vụ dự phòng, song vẫn cần duy trì các nỗ lực này để đảm bảo độ bao
phủ đầy đủ các dịch vụ cho các nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Việc dự
phòng lây truyền HIV qua đường tình dục trong nhóm nam tình dục đồng
giới, dự phòng lây lan sang những bạn tình chính của những người nhiễm
HIV, những người tiêm chích ma túy và những phụ nữ tiêm chích ma túy vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu về độ bao phủ của chương trình để đảm bảo hiệu
quả dự phòng lây nhiễm HIV. Ngoài ra, việc tiếp cận được các dịch vụ dự
phòng lây nhiễm HIV/AIDS ngoài cộng đồng xã hội vẫn còn hạn chế[ 35 ].
Báo cáo của Nguyễn Trương Nam (2010) về kết quả nghiên cứu khảo
sát ban đầu Dự án phòng, chống HIV sau xây dựng đường cao tốc
PhnomPenh – Thành phố Hồ Chí Minh - Hành lang kinh tế phía Nam với
tổng số 1.105 người Việt đã được phỏng vấn, trong đó bao gồm 381 người
đang sống trong cộng đồng dân cư tại 5 xã can thiệp, 361 công nhân nhà máy
tại khu công nghiệp Trảng Bàng, 189 tài xế xe ôm tại thị trấn Bavet
(Campuchia) và Mộc Bài (Tây Ninh, Việt Nam), và với 174 casino rolling
staff (những người phục vụ trong các sòng bạc) tại thị trấn Bavet. Bàn luận về
nguy cơ lây nhiễm HIV, các phát hiện chỉ ra hầu hết đối tượng trả lời phỏng
18
vấn không thấy bản thân mình có nguy cơ. Chỉ có một phần tài xế xe ôm,
thức về phòng, chống HIV/AIDS không cao 86,5% biết đúng về nguyên nhân
gây bệnh do mẹ truyền sang con 64,4%, qua đường quan hệ tình dục không sử
dụng BCS 64,4%. Hơn 90% không tiếp cận thông tin về HIV/AIDS ở “nơi
đến” là do công việc. Do đi làm xa nhà thường đẩy người dân di biến động
vào tình cảnh dễ phát sinh hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS. Mức độ
di chuyển cao của người dân di biến động cũng là nhân tố khiến họ không tiếp
nhận được các nguồn thông tin về HIV/AIDS ở cả nơi đi và nơi đến [27]. Như
vậy, những người dân di biến động ở đây có nhu cầu được tiếp cận thông tin,
hướng dẫn và cung cấp các phương tiện giúp họ có quan hệ tình dục và tiêm
chích an toàn (BCS, BKT).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thiềng và Cộng sự (2007) kiến thức về
HIV/AIDS của người di cư sử dụng kết quả điều tra di cư Việt Nam (2004) do
Tổng cục Thống kê tiến hành tại 11 tỉnh thành phố, đại diện cho 5 khu vực
cho thấy: Biết tên bệnh và nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS của người di cư
tương đối cao, nhưng những kiến thức về cách phòng tránh HIV/AIDS chỉ đạt
loại trung bình khá, chỉ có khoảng 50% người di cư đạt điểm từ khá trở lên. Ở
mọi độ tuổi, mọi vùng, người di cư đều thường có hiểu biết thấp hơn người
không di cư. Tây Nguyên là vùng có hiểu biết về vấn đề này kém nhất. Còn ở
thành phố Hồ Chí Minh; khu công nghiệp Đông Nam Bộ và Hà Nội hiểu biết
của người di cư về vấn đề này có khá hơn nhưng vẫn ở mức “chưa cao”. Điều
này cho thấy nhu cầu lớn về tiếp cận thông tin, giáo dục, truyền thông về
HIV/AIDS không chỉ ở các vùng sâu,vùng xa mà ngay cả ở các thành phố
lớn. Hiểu biết về HIV/AIDS trong cộng đồng người di cư cũng có sự phân
biệt khá rõ rệt. Những đối tượng thuộc diện chưa đăng kí hộ khẩu, KT3 và
20
KT4 thường có hiểu biết thấp hơn đối tượng khác. Người di cư mới đến có
hiểu biết kém hơn người di cư trên 5 năm. Hiểu biết kém nhất về vấn đề này
là người di cư từ 1- 4 năm. Có lẽ là họ đã ít quan hệ và chưa thực sự hoà đồng
với nơi đến. Vì vậy, việc tiếp cận các dịch vụ truyền thông của họ gặp khó
khăn. Nguồn thông tin để người di cư có kiến thức về bệnh nhiễm trùng lây
+ Mục đích tiếp cận: thực hiện hành vi tiêm chích ma túy an toàn
+ Bằng chứng về nhu cầu: có tiêm chích ma túy; còn dùng chung BKT;
không biết hoặc không mua được BKT
- Dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện:
+ Mục đích tiếp cận: nhận biết hành vi nguy cơ; thực hiện giảm nguy cơ.
+ Bằng chứng về nhu cầu: rất ít tiếp cận dịch vụ này; thiếu thông tin về
DVTVXNTN HIV và STIs miễn phí.
1.3. Một số yếu tố liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ dự phòng lây
nhiễm HIV/AIDS của người di biến động
1.3.1. Trên thế giới
Tình trạng di dân đang gia tăng ngày càng nhanh. Những năm
đầu thế kỷ 21, cứ 35 người trên thế giới lại có một người là dân di cư [14].
Cho dù người dân di chuyển vì lý do gì thì khi ra đi, họ cũng bị
xa rời mạng lưới an sinh xã hội ở “đầu đi”. Người dân di cư và di biến động
thường đến địa phương mới (đầu đến) mà không có gia đình đi theo, luôn
sống trong tình trạng bị o ép về nhiều mặt, phải đương đầu với nỗi cô đơn,
nhưng lại hoàn toàn tự chủ về thời gian và tiền bạc kiếm được, vì vậy họ cũng
dễ bị sa vào các hành vi nguy cơ làm lây nhiễm HIV, cho nên họ rất cần được
tiếp cận các dịch vụ liên quan đến HIV/AIDS. Tuy nhiên, nhìn chung, như đã
22
trình bày ở trên, họ lại thường khó tiếp cận với các dịch vụ này, bởi có nhiều
yếu tố tác động khác nhau.
23
Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc thiếu các dịch vụ xã hội thân thiện,
đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe dành cho người di cư là một
trong những yếu tố làm tăng tính dễ tổn thương của nhóm dân cư này. Bên
cạnh đó, những khó khăn và rào cản trong giao tiếp (văn hóa, ngôn ngữ )
cũng đã cản trở họ tiếp cận các thông tin về sức khoẻ, dịch vụ và hàng hoá
(chẳng hạn như BCS, bơm kim tiêm), cả trong quá trình di chuyển cũng như
tại điểm đến.
người lao động di biến động tại các khu đô thị, thành phố lớn đã bắt đầu được
quan tâm nhiều hơn, thông qua hoạt động của các tuyên truyền viên sức khỏe
tại nơi làm việc. Tuy nhiên, những nỗ lực này chỉ tiếp cận được một lượng
thiểu số người lao động và chủ yếu là những lao động làm việc trong các
doanh nghiệp. Mặt khác, các hoạt động truyền thông như vậy cũng mới chỉ
dừng lại ở mức phổ biến thông tin chứ chưa thật sự làm thay đổi hành vi của
nhóm đối tượng này. Các chuyên gia cũng nhận thấy rằng những cố gắng dự
phòng lây nhiễm HIV tập trung vào nhóm dân nhập cư là một thách thức đáng
kể vì khó có thể xác định được nơi cư trú của họ. Trong khi, những thông điệp
dự phòng được tuyên truyền một cách chung chung thường không được họ
quan tâm, hưởng ứng. Cách tiếp cận cung cấp thông tin trực tiếp tại nơi làm
việc mà các cơ quan chức năng vẫn thực hiện hiện nay chỉ hướng được tới
những lao động sản xuất ổn định, làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp. Còn
đối với lao động di cư tự do thì khi họ chuyển đi một nơi khác, chương trình
giáo dục tại nơi làm việc không còn tác động đối với họ nữa [2].
Việc thiếu các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV hoặc độ bao phủ của
các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
tiếp cận các dịch vụ này của người di biến động. Báo cáo công tác phòng,