Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng hải phòng - Pdf 48

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, doanh nghiệp nào cũng muốn tồn tại lâu dài và có thể phát triển bền
vững. Vì vậy họ cần phải quan tâm tới hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD).
Sản phẩm của doanh nghiệp có đến tay người tiêu dùng và được thị trường chấp
nhận hay không luôn là câu hỏi khó. Vì vậy, nghiên cứu để tìm ra các biện pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD là vấn đề mà các nhà quản lý doanh nghiệp
quan tâm.
Với tình hình kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với muôn vàn khó
khăn. Là một doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt
Nam, Cty CP TMDV Vtxm Hp cũng gặp phải những khó khăn ấy. Do đó, muốn
đứng vững trên thị trường, đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp luôn phải cập nhật thường
xuyên mọi tình hình biến động trong và ngoài công ty để có những biện pháp ứng phó
kịp thời.
Bởi vậy, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng
Hải Phòng” làm đề tài luận văn cao học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả SXKD, các chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả SXKD của một doanh nghiệp, đánh giá thực trạng hiệu quả SXKD của
Cty CP TMDV Vtxm Hp trong 5 năm qua từ 2010 - 2014, từ đó tác giả đề xuất
biện pháp nâng cao hiệu quả SXKD của công ty trong giai đoạn 2015 - 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả SXKD của Cty CP TMDV Vtxm Hp.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tình hình SXKD của Cty CP TMDV
Vtxm Hp giai đoạn 2010 - 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn vận dụng những phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…

1

cung cấp cho nhu cầu thị trường và cuối cùng là thu được lợi nhuận”.
Đặc điểm hoạt động SXKD:
- Một chủ thể điều hành gọi là chủ thể kinh doanh, đó có thể là doanh nghiệp, hộ
gia đình, cá nhân;
- Hoạt động SXKD là liên quan tới thị trường. Mối quan hệ có thể có như với nhà
cung cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào, kênh phân phối môi giới sản phẩm, với
khách hàng – người tiêu dùng; họ có mối quan hệ liên quan với nhau là mối quan
hệ với các đối tác, đối thủ cạnh tranh; ngoài ra còn có mối quan hệ với các bên hữu
quan như chính phủ và các tổ chức tài chính. Những mối quan hệ sẽ có tác dụng
làm cho hoạt động kinh doanh được vận hành một cách liên tục nhằm giúp doanh
nghiệp tồn tại và phát triển;
- SXKD phải có vốn. Mọi hoạt động kinh doanh đều cần có vốn. Chủ thể kinh
doanh dùng vốn để chi trả các yếu tố đầu vào;
- Mục đích chủ yếu của hoạt động SXKD là mục đích vì lợi nhuận.[3,16]
1.1.2. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

3


Ngày nay, mục tiêu kinh tế quan trọng của các doanh nghiệp là SXKD có hiệu quả
và tối đa hoá lợi nhuận. Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt động
SXKD.
“Có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh khả
năng sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được mục tiêu đề ra, nó thể hiện mối
quan hệ giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra, độ chênh lệch hay tỷ lệ giữa
hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Như vậy thì hiệu quả có nghĩa là
lợi nhuận của doanh nghiệp cao và chất lượng của sản phẩm đáp ứng được nhu cầu
của thị trường.”
Ngoài ra khái niệm hiệu quả SXKD được hiểu một cách đơn giản như sau: Hiệu
quả SXKD là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản

C : Là chi phí bỏ ra
Để tính được hiệu quả SXKD của doanh nghiệp ta phải có thông tin về kết quả thu
được và chi phí bỏ ra. Mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả thì kết quả là điều
kiện để tính hiệu quả SXKD, kết quả SXKD của doanh nghiệp có thể là sản lượng,
doanh thu, lợi nhuận. Như vậy kết quả SXKD thường là mục tiêu ban đầu của
doanh nghiệp.
- Phải phân biệt hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội.
“Nếu xét trên phạm vi từng ngành thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế. Hiệu
quả kinh tế là quan hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó. Kết quả thu được trong khái niệm này có thể là sản lượng, doanh thu, lợi
nhuận, … Hiệu quả kinh tế cho biết khả năng khai thác các yếu tố đầu vào trong
quá trình SXKD.
Nếu xét trên phạm vi toàn xã hội có hai phạm trù là hiệu quả chính trị và hiệu quả
xã hội. Chúng thể hiện ảnh hưởng của hoạt động SXKD tới việc xử lý những yêu
cầu và mục tiêu chung của nền kinh tế xã hội. Hai loại hiệu quả này quan trọng
trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững. Hiệu quả chính trị
xã hội phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt trình độ dân trí,
mức sống bình quân, chỉ số hạnh phúc...
Nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia là luôn có sự cân đối
giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị xã hội. Nếu có sự mất cân đối nào thì
sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng”.
- Hiệu quả ngắn hạn với hiệu quả dài hạn.
Các chỉ tiêu hiệu quả SXKD của doanh nghiệp dựa trên các mục tiêu của doanh
nghiệp mà ở đó tính chất hiệu quả hoạt động SXKD ở các giai đoạn là khác nhau.
Nếu dài hạn thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ các hoạt động SXKD
của doanh nghiệp là chỉ tiêu lợi nhuận và các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận. Nếu là

5



6


sống người lao động, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội và đất nước.
[1,16]
1.2.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Với sự hội nhập kinh tế ngày nay, các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự cạnh
tranh gay gắt cả trong và ngoài nước. Nhưng để duy trì được và phát triển yêu cầu
các nhà quản lý kinh tế phải xây dựng cho doanh nghiệp mình một phương pháp
hoạt động đúng đắn, các chiến lược, các phương án SXKD một cách có hiệu quả.
Trong cơ chế hiện nay việc nâng cao hiệu quả SXKD vô cùng quan trọng:
- Nâng cao hiệu quả SXKD là điệu kiện quan trọng để đảm bảo duy trì và phát
triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tồn tại được là bởi sự tiêu thụ sản phẩm trên
thị trường, mà hiệu quả SXKD lại là yếu tố trực tiếp đảm bảo sự duy trì này, hơn
nữa mục tiêu của doanh nghiệp là luôn luôn phát triển một bền vững. Vì vậy việc
nâng cao hiệu quả SXKD là một yếu tố khách quan đối với tất cả các doanh
nghiệp đang và sẽ hoạt động hiện nay. Do yêu cầu đó mà mỗi nhà quản lý kinh tế
muốn tăng thu nhập của doanh nghiệp nhưng với điều kiện vốn và các yếu tố đầu
vào cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ
nhất định. Vậy để tăng lợi nhuận thì các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả
SXKD.
- Nâng cao hiệu quả SXKD là điều kiện để tăng sự cạnh tranh và phát triển trên thị
trường. Muốn tăng khả năng cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải năng động,
sáng tạo tạo nên sự phát triển trong kinh doanh. Với cơ chế thị trường cạnh tranh
ngày nay việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt
hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh cả
về chất lượng, giá cả và các yếu tố khác. Với mục tiêu lâu dài của các doanh
nghiệp là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố hai mặt, nó co thể làm các doanh
nghiệp vượt trội nhưng ngược lại cũng có thể làm cho các doanh nghiệp không duy
trì được trên thị trường. Để có thể duy trì hoạt động và phát triển mạnh mẽ các

Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh quy mô, trình độ trang bị kỹ thuật, trình
độ tổ chức và quản lý SXKD của doanh nghiệp.
Phần lợi nhuận cuối cùng sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào Ngân sách Nhà
nước tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung vào đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị
kỹ thuật, dây chuyền công nghệ, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của người

8


lao động... Điều đó là điều kiện cần thiết cho việc nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp còn tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, văn
hoá, tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp. Phần lợi nhuận để lại doanh
nghiệp, sau khi trích lập các quỹ tái đầu tư phát triển SXKD sẽ phục vụ cho các
hình thức tiêu dùng của doanh nghiệp. Trong đó quỹ tiền thưởng làm tăng thu nhập
của người lao động, nâng cao đời sống vật chất của họ. Quỹ phúc lợi phục vụ cho
việc đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng trong doanh nghiệp như
nhà ăn, nhà trẻ, câu lạc bộ..., tổ chức các phong trào văn hoá văn nghệ, thể dục, thể
thao, vui chơi giả trí, tổ chức các chuyến thăm quan du lịch, nghỉ mát và trợ cấp
cho những người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn.
Đây là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền của tổng giá trị lợi nhuận doanh nghiệp đạt
được trong kỳ kinh doanh.
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí

(1.3)

Trong đó:
* Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ ra để
có thu nhập đó. Theo phạm vi tính ta có:
Lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh = Doanh thu - Chi phí SXKD

doanh nghiệp được nhiều khách hàng chấp nhận, quan hệ của doanh nghiệp sẽ tồn
tại trên phạm vi rộng lớn. Khi điều kiện cạnh tranh trên thị trường trở lên khắc
nghiệt thì chỉ những doanh nghiệp có doanh thu lớn, có nhiều khách hàng mới có
điều kiện tồn tại và phát triển được. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt
như hiện nay, ta có thể thấy rằng mọi yếu tố khác cho quá trình tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp như nhân lực, tài nguyên, công nghệ... đều có thể có được tương
đối dễ dàng duy chỉ có thị trường cho sản phẩm thì luôn là điều khó khăn nhất.
Doanh nghiệp nhất định sẽ phá sản nếu sản phẩm không tiêu thụ được trên thị
trường.
Doanh thu của doanh nghiệp là để thanh toán khoản chi phí đầu vào của quá trình
SXKD, là nguồn thanh toán các khoản nghĩa vụ với Ngân sách, thanh toán các
khoản nợ với người cho vay đồng thời là nguồn tạo ra lợi nhuận. Đó chính là điều
kiện cần thiết để doanh nghiệp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Khi có doanh thu có nghĩa là quá trình luân chuyển vốn kết thúc. Tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp là hoạt động xuất bán sản phẩm cho người mua để nhận
được số tiền về sản phẩm đó. Quá trình tiêu thụ sản phẩm được coi là hoàn thành
khi doanh nghiệp được chấp nhận trả tiền của bên mua hàng.
Tổng doanh thu = Doanh thu thuần + Thu từ hoạt động tài chính + Thu nhập
khác

(1.5)

Doanh thu là tiền thu từ việc bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng
trong một thời gian nhất định. Doanh thu được xác định từ khi khách hàng chấp

10


nhận trả tiền không kể tiền đã nhận được hay chưa. Các sản phẩm dùng để biếu
tặng, đổi vật tư, trả thay lương... đều được tính vào doanh thu của doanh nghiệp


Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật
hóa trong SXKD của một thời kỳ nhất định. Chi phí là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp
quan trọng, là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Chi phí biểu hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn các loại, trình độ tổ chức
sản xuất, quản lý lao động và trình độ kinh doanh của doanh nghiệp.[4,7]
Tổng chi phí = Chi phí SXKD + Chi phí hoạt động tài chính + Chi phí khác
(1.6)
1.3.2. Tỷ suất lợi nhuận theo Vốn
“Lợi nhuận là đại lượng tuyệt đối đánh giá hoạt động SXKD nhưng bản thân nó
mới chỉ biểu hiện một cách đơn giản mối quan hệ so sánh giữa thu và chi, muốn
đưa ra được đánh giá sâu rộng hơn ta phải sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
hay còn gọi là chỉ tiêu doanh lợi.
Tỷ suất lợi nhuận là đại lượng tương đối dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động
SXKD, nó được xác định thông qua sự so sánh giữa chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ
tiêu đặc thù của mọi hoạt động SXKD là doanh thu, vốn và chi phí.”
Từ đó ta có ba chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn được tính toán như sau:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn =

(1.7)
Vốn bình quân trong kỳ

“Vốn kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Đây là chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Thông qua các chỉ tiêu này thấy được một đồng
vốn bỏ vào kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó cho ta thấy được
hiệu quả kinh tế không chỉ đối với lao động vật hoá mà còn cả lao động sống. Nó
còn phản ánh trình độ tổ chức SXKD và quản lý của ngành cũng như của các
doanh nghiệp. Mục tiêu SXKD của ngành cũng như của doanh nghiệp và toàn xã
hội không phải chỉ quan tâm tạo ra nhiều sản phẩm bằng mọi chi phí mà điều quan

1.3.3. Tỷ suất lợi nhuận theo Chi phí
Ta có công thức sau:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí =

(1.8)
Tổng chi phí

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Để tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì cần hạn chế tối đa chi
phí để thu lợi nhuận nhiều nhất. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp
kinh doanh càng hiệu quả ngược lại là doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và có thể
là không có lãi.[1,3]

13


1.3.4. Tỷ suất lợi nhuận theo Doanh thu
Ta có công thức:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =

(1.9)
Tổng doanh thu

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu có thể mang lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả SXKD của doanh nghiệp càng tốt.
Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi
phí nhưng điều kiện để có hiệu quả là tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ
tăng doanh thu, ngược lại là doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả.[1,3]

Chỉ tiêu năng suất lao động (1.10.1) biểu hiện hiệu quả trong việc sử dụng lực
lượng lao động trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu năng suất lao động (1.10.2) hay mức
sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động sử dụng trong doanh
nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này
càng cao thì chứng tỏ lao động trong doanh nghiệp làm việc năng suất và có hiệu
quả ngược lại thì là làm việc kém hiệu quả.[1,3]
1.4. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1.4.1. Nhóm nhân tố vĩ mô
* Môi trường kinh tế
“Môi trường kinh tế là nhân tố vĩ mô tác động rất lớn tới hiệu quả SXKD của
doanh nghiệp. Các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách đầu tư ưu đãi, chính
sách phát triển sẽ tạo ra sự ưu tiên hoặc kìm hãm sự phát triển của từng ngành từng
lĩnh vực cụ thể do đó có tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của
các doanh nghiệp trong từng ngành, từng lĩnh vực nhất định.
Ngoài việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, các cơ quan quản lí nhà nước
về kinh tế phải làm tốt công tác dự báo để điều tiết đúng đắn các hoạt động đầu tư,
không để ngành hay lĩnh vực kinh tế nào phát triển theo xu hướng cung vượt cầu.
Việc thực hiện tốt sự hạn chế của độc quyền và kiểm soát độc quyền tạo ra môi
trường cạnh tranh bình đẳng, việc tạo ra các chính sách vĩ mô hợp lý như chính
sách thuế phù hợp với trình độ kinh tế, loại hình doanh nghiệp sẽ tác động mạnh
mẽ đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
Môi trường kinh tế có thể tác động đến việc tăng giảm doanh thu của doanh
nghiệp.”
* Môi trường khoa học công nghệ
“Ngày nay, khoa học kỹ thuật công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đối với tất cả các
lĩnh vực (nhất là lĩnh vực kinh tế). Trước thực trạng đó để tránh tụt hậu, một trong
những sự quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là nhanh chóng nắm bắt được và

15


16


một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sự phát triển nhóm doanh nghiệp
khác hoặc ngược lại.
Hệ thống pháp luật hoàn thiện, không thiên vị là một trong những tiền đề ngoài
kinh tế của kinh doanh. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong
nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường này có tác động trực tiếp đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tiến hành các hoạt động kinh doanh mọi doanh
nghiệp có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của pháp luật kinh
doanh trên thị trường trên thị trường quốc tế doanh nghiệp phải nắm chắc luật pháp
của nước sở tại và tiến hành các hoạt động kinh doanh trên cơ sở tôn trọng luật
pháp của nước đó.
Tính công bằng của luật pháp thể hiện trong môi trường kinh doanh dù ở mức độ
nào cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp. Và sẽ chỉ có kết quả và hiệu quả tích cực nếu môi trường kinh
doanh trong đó mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật. Ngược lại nhiều doanh
nghiệp sẽ lao vào con đường làm ăn bất chính trốn lậu thuế, sản xuất hàng giả,
hàng hoá kém chất lượng cũng như gian lận thương mại, vi phạm pháp lệnh môi
trường làm nguy hại tới xã hội... làm cho môi trường kinh doanh không còn lành
mạnh. Trong môi trường này nhiều khi kết quả và hiệu quả kinh doanh không do
các yếu tố nội lực trong doanh nghiệp quyết định.”
1.4.2. Nhóm nhân tố vi mô
* Thị trường
“Thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp.
Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Đối với
thị trường đầu vào là cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như nguyên nhiên
vật liệu, máy móc thiết bị, hàng hóa... nên nó tác động trực tiếp đến giá thành sản

hơn để doanh nghiệp có thể có khả năng cạnh tranh cao về giá cả, chất lượng,
chủng loại, mẫu mã...
Vì vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả SXKD
của các doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự năng động sáng tạo trong kinh doanh, tạo
ra động lực thúc đẩy phát triển của doanh nghiệp. Việc xuất hiện càng nhiều đối

18


thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sẽ càng gặp khó
khăn.”
* Người môi giới
“Là những người trung gian bao gồm cả ở quá trình đầu vào và quá trình đầu ra.
Người môi giới có mối quan hệ với doanh nghiệp như đối tác, giúp doanh nghiệp
có được nguồn đầu vào chất lượng, liên tục và giúp tiêu thụ sản phẩm đầu ra của
doanh nghiệp một cách nhanh hơn, chia sẻ bớt rủi ro. Người môi giới trung gian tốt
cũng là yếu tố giúp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn, nâng cao hiệu
quả SXKD của doanh nghiệp.”

19


CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI XI
MĂNG HẢI PHÒNG
2.1. Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng Hải Phòng
2.1.1. Giới thiệu
- Tên đầy đủ tiếng Việt: Công ty cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải Xi măng
Hải Phòng.
- Tên đầy đủ tiếng Anh: Hai Phong Cement Transport and Trading joinstock

* Giai đoạn trước tháng 12/1993
Đơn vị là Liên đội vận tải trực thuộc Công ty Cung ứng Vật tư thiết bị số 3 - Bộ
Xây dựng.
- Tổng số cán bộ công nhân viên của Liên đội vận tải:

135 người

Cơ cấu của Liên đội vận tải gồm có
+ Lãnh đạo liên đội:

3 người

+ Văn phòng:

12 người

+ Bảo vệ:

7 người

+ Đội Vận tải bộ:

46 người

+ Đội Vận tải thuỷ:

61 người

+ Đội sửa chữa phương tiện:


420 người

Cơ cấu tổ chức xí nghiệp gồm có
+ Ban Giám đốc:

3 người

+Phòng Kế hoạch:

4 người

+ Phòng Kế toán tài chính:

6 người

+ Phòng Kỹ thuật - Vật tư:

5 người

+ Phòng Tổ chức-Hành chính:

7 người

+ Bộ phận Bảo vệ:

13 người

+ Đội Vận tải ô tô số 1:

33 người


* Giai đoạn từ tháng ngày 01/3/2004 đến nay
- Thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước của Đảng và
Chính phủ, theo Quyết định số 1753/QĐ-BXD ngày 29/12 /2003 của Bộ trưởng Bộ
Xây dựng về việc cổ phần hoá Xí nghiệp Vận tải thuỷ trực thuộc Công ty Xi măng
Hải Phòng thành Cty CP TMDV Vtxm Hptrực thuộc Tổng công ty Xi măng Việt
Nam.
Công ty cổ phần chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/3/2004.
- Tổng số cán bộ công nhân viên:
Trong đó trình độ Thạc sỹ:

130 người
02 người

Đại học:

20 người

Cao đẳng:

3 người

Trung cấp:

4 người

Công nhân kỹ thuật:

99 người



Bộ phận kinh doanh xi măng:

17 người

Đội vận tải bộ:

18 người

+ Phân xưởng Vận tải thuỷ:

41 người

- Năng lực phương tiện thuỷ
+ Ca nô đầu kéo: 10 chiếc (loại 135 CV÷150 CV)
+ Sà lan: 25 chiếc (loại 200 tấn÷250 tấn) = 5.600 tấn phương tiện
+ Cẩu Pônton: 02 chiếc

23


- Năng lực phương tiện bộ
+ Xe ô tô vận tải: 14 xe
+ Xe cẩu: 01 xe
+ Xe gạt: 02 xe
+ Xe xúc: 02 xe
- Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của Công ty
+ Vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất xi măng;
+ Vận chuyển xi măng đi tiêu thụ bằng phương tiện thuỷ, bộ;
+ Sửa chữa phương vận tải thuỷ, bộ;


HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phân

Tổ chức

Kinh tế

Kế toán

kinh

xưởng

lao động

kỹ thuật


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status