I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI TH VIT
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN Về
CHế ĐịNH PHạM TộI NHIềU LầN TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 -2016)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI TH VIT
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN Về
CHế ĐịNH PHạM TộI NHIềU LầN TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 -2016)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TSKH Lấ VN CM
H NI - 2017
1.2.1. Khái niệm tình tiết phạm tội nhiều lần ............................................... 10
1.2.2. Các đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần ....................... 13
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
1.3.3.
1.3.4.
1.4.
1.5.
Phân biệt phạm tội nhiều lần với một số tình tiết khác có liên
quan trong pháp luật hình sự Việt Nam ........................................ 14
Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội ................................................ 14
Phạm tội nhiều lần và phạm tội liên tục ............................................. 17
Phạm tội nhiều lần và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp ............. 17
Phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm ........................ 19
Ý nghĩa của việc điều chỉnh về mặt lập pháp tình tiết phạm
tội nhiều lần trong pháp luật hình sự Việt Nam............................ 21
Kết luận ............................................................................................. 22
Chƣơng 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM VỀ “PHẠM TỘI NHIỀU LẦN” VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2010-2016 .... 24
2.1.
Các quy định của luật hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều
lần từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trƣớc khi
ban hành BLHS năm 1999 .............................................................. 24
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước
khi ban hành BLHS năm1985 ............................................................ 24
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam nói chung ..................................................................... 56
Bộ luật hình sự 2015 – những bƣớc tiến mới ................................. 58
Nội dung hoàn thiện các quy định của Luật hình sự Việt Nam
về phạm tội nhiều lần ....................................................................... 69
Kết luận ............................................................................................. 72
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 76
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
UBND:
Uỷ ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, việc nghiên
cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận chế định phạm tội nhiều lần trong luật hình
sự Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Chế định phạm tội nhiều lần là
luận mà còn là đòi hỏi của thực tiễn áp dụng nhằm đưa ra những giải pháp
hoàn thiện chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Chính vì vậy, bản thân tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định phạm tội nhiều lần trong luật
hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn
2010-2016)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phạm tội nhiều lần với tính chất là một dạng của chế định đa tội
phạm vẫn chưa được điều chỉnh bằng một quy phạm riêng biệt nào trong
Phần chung BLHS Việt Nam đã và đang hiện hành, mà chỉ được quy định
với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng của một số tội phạm cụ thể
và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 1985 (điểm
“i” khoản 1 Điều 39); cũng như trong BLHS năm 1999 (điểm “g” khoản 1
Điều 48) [5, tr 78]
BLHS năm 2015 quy định tình tiết phạm tội nhiều lần (phạm tội 02 lần
trở lên) là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g
khoản 1 Điều 52) và (điểm c, khoản 1, Điều 85) áp dụng đối với pháp nhân
thương mại.
Tình tiết này cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham khảo
do các tác giả khác nhau biên soạn như:
1) Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (1995), Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (Phần chung), Hà Nội;
2
2) Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học BLHS (Phần chung),
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh;
3) Lê Văn Cảm chủ biên cùng Tập thể tác giả (2003), Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;
4) Nguyễn Hải Dũng, Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần,
phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của BLHS năm 1999, Tạp
chí Kiểm sát số 2/2005;
5) Lê Văn Luật, Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm
tội nhiều lần" quy định trong Luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp
lý số 4/2006, tr 35;
6) Vũ Thành Long, Áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về tình
tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức và phạm tội nhiều lần, Tạp chí Kiểm sát số
21/2006;
7) Đỗ Thanh Huyền, Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 8 tháng 4/2007;
8) Vũ Hồng Thiêm, Thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự trong giải quyết hình phạt - tồn tại và giải pháp, Tạp chí Tòa án nhân
dân số 10 tháng 05/2008;
9) Hồ Sĩ Sơn, Những hạn chế trong các quy định của BLHS năm 1999
về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hướng khắc phục,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 16/2008;
10) Đinh Văn Quế, Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân số
4/2010 v.v...
Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu lý luận chuyên sâu và có hệ thống vấn
đề phạm tội nhiều lần, tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được quan tâm một
cách đúng mức. Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề
phạm tội nhiều lần cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy
đủ và sâu sắc hơn.
4
3. Phạm vi nghiên cứu
kiến nghị cho việc áp dụng được thống nhất, tránh tình trạng hiểu sai về
tình tiết này.
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu bản án điển
hình... để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề đã được
nêu ra trong luận văn. Cụ thể đó là:
Phương pháp phân tích: Luận văn đã phân tích chi tiết các vấn đề có
liên quan đến vấn đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể đánh giá được thực
tiễn áp dụng. Các nội dung cần phân tích bao gồm: Phân tích các vấn đề lý
luận về phạm tội nhiều lần, phân tích các thông số về tình hình phạm tội,
người phạm tội, phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật
hình sự về phạm tội nhiều lần...
Phương pháp so sánh: Là việc so sánh các vấn đề có liên quan đến vấn
đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể rút ra các kết luận mang tính đánh giá. Các
nội dung so sánh bao gồm: so sánh giữa phạm tội nhiều lần và phạm nhiều
tội; phạm tội liên tục; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm; tái phạm
nguy hiểm.
Phương pháp tổng hợp: Đó là việc khái quát hóa toàn bộ các nhận định
độc lập sau khi phân tích, so sánh từng nội dung, từng tiêu chí cụ thể. Phương
pháp tổng hợp giúp cho quá trình đánh giá tránh khỏi sự phân tán, rời rạc và
thiếu trọng tâm. Các nội dung tổng hợp được đặt trong một hệ thống cấu trúc
có mối liên hệ qua lại, trong đó xác định những nội dung cơ bản chi phối nhận
định chung.
Nghiên cứu các vụ án điển hình: Đây là một phương pháp nghiên cứu
quan trọng của luận văn. Đó là những thực tiễn để chứng minh và làm sáng tỏ
các vấn đề lý luận mà tác giả đã đưa ra.
6
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN"
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Vài nét về chế định đa (nhiều) tội phạm
Phạm tội nhiều lần là một vấn đề rất phức tạp trong khoa học luật hình
sự cũng như trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử ở nước ta.
Phạm tội nhiều lần với tính chất là một dạng của chế định đa tội
phạm. Do đó trước khi tìm hiểu về chế định này, chúng ta cần hiểu về chế
định đa tội phạm.
Theo quan điểm của PGS.TS Lê Văn Đệ:
Nhiều tội phạm là trường hợp một người phạm từ hai tội trở
lên, không phụ thuộc vào việc người đó đã bị xét xử về các tội đã
phạm hay chưa; các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự và không có những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi
tố vụ án hình sự [15, tr 19].
Theo quan điểm của PGS.TS Võ Khánh Vinh:
Chế định đa tội phạm là một chế định của luật hình sự cần
bao hàm tất cả những trường hợp khi một người thực hiện một số
tội phạm với điều kiện nếu như đối với các tội này người đó vẫn
chưa hết án tích hoặc thời hiệu truy tố về hình sự.[36, tr 26].
Theo quan điểm của GS. TSKH Lê Văn Cảm:
Đa tội phạm là một chế định độc lập của luật hình sự Việt
Nam bao gồm các dạng (trường hợp) như phạm tội nhiều lần, phạm
nhiều tội, tái phạm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, mà
trong những điều kiện như nhau các dạng này thường cho thấy tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao của tội phạm được thực
hiện, cũng như của nhân thân người phạm tội [5, tr 75].
8
9
1.2. Khái niệm và đặc điểm cơ bản của chế định phạm tội nhiều lần
1.2.1. Khái niệm tình tiết phạm tội nhiều lần
Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, trước khi Bộ luật hình sự
năm 1985 ra đời, phạm tội nhiều lần ít được các nhà lập pháp quan tâm đến.
Trong cuốn hệ thống hóa luật lệ về hình sự - Tập II do Tòa án nhân dân tối
cao xuất bản năm 1979, lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần:
“Đây là trường hợp phạm một tội nhiều lần (như hiếp dâm nhiều lần hoặc
tham ô nhiều lần) cùng một lúc hay trong những thời gian khác nhau, mà bị
phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần. Tất nhiên phạm một tội nhiều lần thì
cần xử nặng hơn trường hợp phạm tội đó chỉ có một lần” [15, tr 61]
BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 cũng chưa ghi
nhận chính thức định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội nhiều lần và các
văn bản hướng dẫn giải thích thế nào là phạm tội nhiều lần nhưng trong thực
tiễn đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tình tiết này:
Quan điểm thứ nhất cho rằng:
Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần
trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm,
bốn lần tham ô... và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội
phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng
một bản án...; Phạm tội nhiều lần là người phạm tội có nhiều lần
thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chỉ cấu thành một tội,
xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa đưa ra truy tố,
xét xử... [25, tr 126].
Quan điểm thứ hai cho rằng:
Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy
được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của
Qua xem xét các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu:
Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy
11
được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của
điều luật) tương ứng trong Phần riêng BLHS, đồng thời đối với
những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và
người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [6, tr 390].
Qua các quan điểm trên, chúng ta có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều
lần bao gồm năm nội dung sau:
(1) Phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi
phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác
nhau (ví dụ: phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối đối với
nhiều người - điểm c khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999, nhiều lần trộm cắp,
nhiều lần hiếp dâm...).
(2) Nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẻ thì mỗi hành vi ấy đã đủ
các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập.
(3) Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật
cụ thể trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1999 (cùng là tội trộm cắp,
hiếp dâm...), có thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau
của cùng một điều luật.
(4) Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
(như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án...) và cùng bị đưa ra xét xử một lần
trong cùng một vụ án (được tuyên trong một bản án).
(5) Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản
thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của
các lần phạm tội cộng lại [22].
đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm đó do cùng
một điều hoặc một khoản tương ứng quy định tại luật hình sự Việt Nam.
d) Tội phạm này vẫn phải còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và
người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần.
13
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 45
(BLHS năm 1985), Điều 23 (BLHS năm 1999) và Điều 27 (BLHS năm
2015). Nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội
không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa. Do đó, hành vi nói trên không bị
tính là một lần phạm tội.
Đặc điểm "người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần" có nghĩa
là các hành vi phạm tội trước đó chưa bị đưa ra xét xử lần nào. Đây là một
đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa tình tiết phạm tội nhiều lần và tình tiết tái
phạm, tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, trên đây là bốn đặc điểm cần và đủ để có thể đánh giá thế nào
là phạm tội nhiều lần. Nếu thiếu một trong bốn đặc điểm hay còn gọi là các dấu
hiệu nói trên thì khó có thể coi đó là tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần.
1.3. Phân biệt phạm tội nhiều lần với một số tình tiết khác có liên
quan trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.3.1. Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội
"Phạm nhiều tội với tính chất là một dạng của chế định đa tội phạm
vẫn chưa được điều chỉnh bằng một quy phạm riêng biệt nào trong Phần
chung pháp luật hình sự Việt Nam đã và đang hiện hành, mà thuật ngữ
“phạm nhiều tội” chỉ được đề cập đến trong tên gọi của một Điều luật
"Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội" (Điều 41 BLHS
năm 1985 trước đây và Điều 50 BLHS năm 1999). Ngoài ra, ở một mức độ
nhất định dạng đa tội phạm này cũng được đề cập đối với riêng một số tội
chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối
với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền
phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
b) Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án
phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên [28].
Vì vậy, để phân biệt hai tình tiết phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội
chúng ta có thể dựa vào các khái niệm, các đặc điểm của nó dưới góc độ khoa
học luật hình sự.
15
Phạm tội nhiều lần là phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy
được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của
điều luật) tương ứng trong Phần các tôi phạm củaBLHS, đồng thời
đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [6, tr 390].
Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể thực hiện hai tội
phạm trở lên, mà những tội phạm đó được quy định tại các điều luật
khác nhau hoặc các khoản khác nhau của một điều luật trong Phần
các tội phạm của BLHS, nhưng người phạm tội chưa bị xét xử về
tội nào trong số các tội ấy [15, tr 49].
Phạm tội nhiều lần là phạm tội trong trường hợp hành vi của
chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của hai tội phạm trở lên mà những tội
ấy được quy định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều trong
Phần các tội phạm của BLHS và bị xét xử cùng một lần [15, tr 68].
Phạm nhiều tội được hiểu là trường hợp các hành vi của
người phạm do một người thực hiện được quy định không những
trong các điều luật khác nhau mà còn được quy định trong các
khoản khác nhau thuộc Phần các tội phạm của BLHS và người
lập, còn với tình tiết phạm tội nhiều lần thì hành vi nguy hiểm cho xã hội
trong mỗi lần thực hiện bao giờ cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu
thành tội phạm độc lập. Mặt khác, xét về hậu quả cũng như thiệt hại cho xã
hội do hành vi gây ra thì phạm tội nhiều lần gây ra thiệt hại lớn hơn rất nhiều
so với phạm tội liên tục. Về mức độ trách nhiệm hình sự, phạm tội nhiều lần
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự còn phạm tội liên tục nhằm để chỉ ra
tội đó do một loạt hành vi cấu thành nên nó chỉ là tình tiết định tội mà thôi.
1.3.3. Phạm tội nhiều lần và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Cũng giống với chế định phạm tội nhiều lần, định nghĩa pháp lý của
17
khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp chưa được nhà làm luật chính
thức ghi nhận về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam.
Việc nghiên cứu thực tiễn xét xử cho thấy, khái niệm phạm tội có tính
chất chuyên nghiệp có thể được hiểu là một dạng đặc biệt của phạm tội nhiều
lần, tức là ngoài các dấu hiệu của phạm tội nhiều lần ra (như: hành vi của bị
cáo có đầy đủ các dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy
định tại cùng một điều hoặc một khoản của điều trong BLHS và bị cáo được
đưa ra xét xử cùng một lần), hành vi phạm tội nhất thiết phải có thêm một số
dấu hiệu đặc trưng khác chủ yếu như sau: a) có tính chất liên tục, b) nhằm
mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính và, c) hoạt động phạm tội đã trở thành
hệ thống, tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của bị cáo.
Như vậy, từ các dấu hiệu đặc trưng chủ yếu mà khái niệm phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp bắt buộc phải có đã cho phép khẳng định rằng, khái
niệm này (phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) về cơ bản liên quan đến các
tội mang tính chất vụ lợi, kinh tế hoặc xâm phạm sở hữu.
Sự giống nhau và sự khác nhau của trường hợp phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp và trường hợp phạm tội nhiều lần là ở chỗ: a) sự giống nhau –
phạm tội có tính chất chuyên nghiệp người phạm tội có thể bị đưa ra xét xử ở
các lần khác nhau. Bởi vì có thể ngay sau khi được xóa án tích người phạm tội
lại tiếp tục thực hiện một loạt tội phạm cùng nhóm.
1.3.4. Phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Không giống như tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy
hiểm được quy định bằng một chế định độc lập (tại Điều 40 BLHS năm 1985;
Điều 49 BLHS năm 1999 và Điều 53 BLHS năm 2015).
Theo đó, một người chỉ được coi là tái phạm khi có đầy đủ các diều
kiện sau đây:
Thứ nhất, người đó đã bị kết án. Người đã bị kết án là người
có bản án kết tội của Tòa án mà không phụ thuộc vào việc bản án
đó có hiệu lực hay chưa.
19