Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi phạm tội trong Luật Hình sự Việt Nam - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG HẢI DIỆU

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG HẢI DIỆU

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm

1.3. Mối quan hệ giữa hành vi phạm tội với các dấu hiệu khác thuộc mặt khách
quan của tội phạm. ....................................................................................................19
1.3.1. Mối quan hệ giữa dấu hiệu hành vi phạm tội với dấu hiệu hậu quả phạm tội. ......19
1.3.2. Mối quan hệ giữa dấu hiệu hành vi phạm tội với các dấu hiệu khác: phương
tiện, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh. ...................................24
1.3.3. Mối quan hệ giữa dấu hiệu hành vi phạm tội với mối quan hệ nhân quả. ......26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................33
Chƣơng 2: SỰ THỂ HIỆN DẤU HIỆU HÀNH VI PHẠM TỘI TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN XÉT
XỬ CÓ LIÊN QUAN ..............................................................................................34
2.1. Sự thể hiện dấu hiệu hành vi phạm tội theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
hiện hành. ..................................................................................................................34


2.1.1. Sự thể hiện dấu hiệu hành vi phạm tội với tư cách là dấu hiệu định tội theo
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành. .......................................................34
2.1.2. Sự thể hiện dấu hiệu hành vi phạm tội với tư cách là dấu hiệu định khung theo
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành. .......................................................35
2.2. Thực tiễn xét xử có liên quan đến hành vi phạm tội, một số tồn tại và những
nguyên nhân cơ bản...................................................................................................35
2.2.1. Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hành vi phạm tội. ................................................35
2.2.2. Một số tồn tại và những nguyên nhân cơ bản. ................................................51
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................54
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN DẤU
HIỆU HÀNH VI PHẠM TỘI.................................................................................55
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu hành vi phạm tội. ........................................55
3.1.1. Về phương diện thực tiễn. ...............................................................................55
3.1.2. Về phương diện lập pháp. ...............................................................................56

và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ ,công bằng, văn minh.
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành tuy đã có những bước phát
triển vượt bậc so với văn bản pháp luật hình sự trước nó, nhưng do sự thay đổi
nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi gắt gao của
cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền nên không tránh khỏi những bất
cập, hạn chế, thiếu sót cần sớm được hoàn thiện, trong đó có quy định về dấu hiệu
hành vi phạm tội với tư cách là dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung. Điều này
khiến thực tiễn xác định tội phạm, định tội danh và quyết định hình phạt còn chưa
thống nhất và có nhiều điểm bất cập dẫn đến hiện tượng bỏ lọt tội phạm hoặc xử
oan cho người vô tội…
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về hành vi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam” với mong muốn
góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, nhằm đáp ứng tốt
hơn đòi hỏi của thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu về tội phạm và
cấu thành tội phạm nói chung đã được quan tâm dưới những góc độ và bình diện
khác nhau. Tuy nhiên, việc nghiên cứu độc lập, riêng rẽ và có hệ thống dấu hiệu
“hành vi phạm tội” trong mặt khách quan của tội phạm theo Bộ luật hình sự Việt
Nam mới chỉ được đề cập gián tiếp thông qua hay việc phân tích chung về tội phạm,

1


trong các sách chuyên khảo hay các giáo trình, các bài viết, các luận văn, luận án cụ
thể theo ba nhóm như sau:
2.1. Các sách và các giáo trình:
1) GS.TSKH Lê Văn Cảm, Mục IV, phần II, Chương thứ tư - Tội phạm, Sách
chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần

1) Lê Thu Trang, Dấu hiệu hậu quả phạm tội trong mặt khách quan của tội
phạm theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc gia Hà
Nội, 2012; 2) Lê Phương Thuỳ, Mặt khách quan của tội phạm với tư cách là một
yếu tố cấu thành tội phạm, Luận văn thạc sỹ luật học - Đại học quốc gia Hà Nội,
2011; 3) Nguyễn Thị Ngọc Linh, Hành vi nguy hiểm cho xã hội với tư cách là dấu
hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội phạm , Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa
Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, 2010.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy các công
trình nghiên cứu sâu về cấu thành tội phạm nói chung mà những vấn đề về dấu hiệu
hành vi phạm tội chỉ chiếm một phần nhỏ hoặc được đề cập gián tiếp qua nội dung
các yếu tố cấu thành tội phạm chứ chưa thực sự đi sâu nghiên cứu về vấn đề này.
Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật cũng như việc đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự có ý nghĩa rất
lớn trên các bình diện lý luận, thực tiễn áp dụng, chính trị - xã hội. Vì những lý do
trên, việc lựa chọn và triển khai đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi
phạm tội trong luật hình sự Việt Nam” là cần thiết.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đúng như tên gọi của nó - Một số vấn đề về lý luận và
thực tiễn của hành vi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu những vấn đề xung quanh dấu hiệu hành vi phạm tội, và thực
tiễn áp dụng pháp luật liên quan tới nó dưới góc độ khoa học luật hình sự. Trên cơ sở đó,
chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Đồng thời, đưa ra những kiến giải lập pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu hành vi phạm tội trong thực tiễn xét xử.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1. Mục đích nghiên cứu

3


Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề pháp lý cơ bản về dấu


5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: phân tích, tổng
hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy
các quy định của pháp luật; khảo sát thực tế… để phân tích các vấn đề khoa học
trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện lý luận về dấu hiệu
hành vi phạm tội trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Cụ thể đã làm rõ được các
vấn đề chung về dấu hiệu hành vi phạm tội, phân tích nó trong tương quan với các
dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm, chỉ ra các mâu thuẫn, bất cập của
quy định hiện hành, chỉ ra các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, đồng
thời cũng chỉ ra những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về vấn đề này.
Về thực tiễn, đề tài đã phân tích và đánh giá các ví dụ, bản án điển hình về
việc áp dụng dấu hiệu hành vi phạm tội trong thực tiễn xét xử ở nước ta trong thời
gian vừa qua; qua đó, đề tài còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo, học tập. Đặc
biệt, những đề xuất của đề tài có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ
luật hình sự về vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kết
cấu ba chương với nội dung sau đây:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về dấu hiệu hành vi phạm tội theo luật hình
sự Việt Nam.
Chương 2: Sự thể hiện dấu hiệu hành vi phạm tội trong Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999 hiện hành và thực tiễn xét xử có liên quan.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành liên quan đến dấu hiệu hành vi
phạm tội.


hành vi là tất cả mọi phản ứng của con người (cả những phản ứng vô thức và có ý

6


thức). Ngược lại, có những định nghĩa thu hẹp khái niệm hành vi và cho rằng hành vi
phải là những phản ứng có ý thức, được điều khiển bởi ý thức. Có những ý kiến lại
khẳng định hành vi là hoạt động hoặc là một bộ phận cấu thành hoạt động… Từ việc
khái quát phân tích trên, có thể hiểu rằng: Hành vi là cách xử sự của con người trong
một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định. Tuy
nhiên, cách xử sự của con người trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể đó có thể
được kiểm duyệt bởi ý thức (hành vi có ý thức), nhưng cũng có thể không được kiểm
duyệt bởi ý thức (hành vi vô thức). Như vậy, khi nói đến hành vi của con người là
bao gồm cả hành vi có ý thức và hành vi vô thức. [59, tr. 74-78]
Trong cuốn Từ điển Luật học không đề cập đến thuật ngữ “hành vi pháp
luật” mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hành vi pháp lý” theo đó, hành vi này được giả
thích là: “Hành vi thực hiện một sự kiện thực tế, cụ thể theo ý chí của con người
làm xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật” [6, tr. 324]. Việc giải
thích này đã găn hành vi của con người với các quan hệ pháp luật do đó không bao
quát được những hành vi có ý nghĩa pháp lý nhưng không làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Do đó, để có thể hiểu được quan niệm đầy đủ về
hành vi pháp luật, cần phải hiểu như sau:
Thứ nhất, hành vi pháp luật là xử sự thực tế của con người trong một hoàn
cảnh cụ thể có thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định (xử sự
dưới dạng hành động), và cũng có thể được thể hiện bằng việc thiếu vắng những cử
chỉ, lời nói hay những thao tác nhất định (xử sự dưới dạng không hành động).
Thứ hai, khác với các hành vi xã hội khác, một hành vi thực tế nào đó của
con người chỉ được coi là hành vi pháp luật khi đó là những xử sự hợp pháp hoặc
bất hợp pháp. Không phải tất cả các hành vi hay xử sự thực tế của con người đều là
hành vi pháp luật mà chỉ những sử sự thực tế của con người theo quy định của pháp

không giống nhau hoàn toàn vì còn phụ thuộc một phần vào tính đa dạng, phong phú
của chính hành vi thực tế. Khi mô tả dấu hiệu hành vi của một loại tội phạm cụ thể
không thể không xét đến tính đặc thù của hành vi thực tế được phản ánh trong cấu
thành tội phạm. Mặc dù là một dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các dấu hiệu cấu thành
của tội phạm, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể, phân loại thống
nhất về hành vi phạm tội. Tuy nhiên, có thể hiểu một cách khái quát nhất như sau:
Hành vi phạm tội (hay còn được gọi là hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm
pháp luật hình sự) là xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách

8


quan dưới những hình thức nhất định, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại
cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. [53, tr. 167]
Hành vi, chính là những biểu hiện được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách
quan qua những hình thức nhất định dưới sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển
của ý chí. Hành vi gây nên những thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Nói một
cách khác, “Hành vi phạm tội chính là cầu nối giữa khách thể và chủ thể”, sẽ không
có tội phạm và người phạm tội nếu như không có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội
- hành vi phạm tội.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của hành vi phạm tội
Từ những phân tích trên có thể đưa ra một số đặc điểm của hành vi phạm tội
như sau:
Thứ nhất, hành vi phạm tội phải có tính nguy hiểm cho xã hội.
Đây là đặc điểm có tính chất quan trọng và quyết định nhất trong việc phân
biệt một hành vi là vi phạm pháp luật khác với hành vi phạm tội. Về mặt khách
quan, hành vi phạm tội gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại tới những quan
hệ xã hội được luật hình sự xác lập và bảo vệ. Những quan hệ xã hội đó được quy
định trong khoản 1, Điều 8 của Bộ luật hình sự bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống
nhất và sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, quốc

hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội như gây thương tích, phá hoại tài sản của người
khác thì cũng không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đặc
biệt, đối với những người dưới 14 tuổi không có khả năng nhận thức được đầy đủ tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc không đủ khả năng điều khiển được ý chí thì
theo quy định của pháp luật cũng không bị coi là tội phạm.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì chỉ người nào vào thời điểm thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, có khả
năng nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và khả
năng điều khiển được hành vi đó thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây chính
là đặc điểm không thể thiếu của hành vi nguy hiểm cho xã hội. [66, tr.12]
Thứ ba, hành vi phạm tội là hành vi thể hiện dưới dạng hành động (hành vi)
hoặc không hành động (bất tắc vi).
Hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình
trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm gây thiệt hại cho khách thể
của tội phạm qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm. Hành động phạm tội

10


có thể chỉ là tác động đơn giản xảy ra một lần trong một thời gian ngắn hoặc có thể
là tổng hợp các động tác khác nhau hoặc có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong một
thời gian dài. Ví dụ: Hành động đập, phá, đâm, chém, đầu cơ, cất giữ trái phép vũ
khí… Hành động phạm tội có thể tác động trực tiếp vào đối tượng tác động tác động
của tội phạm như dùng tay bóp chết đứa trẻ hoặc có thể thông qua công cụ, phương
tiện phạm tội trong trường hợp dùng súng để gây thương tích cho người khác. Hành
động phạm tội có thể được thực hiện qua lời nói như: Xúi giục người khác thực hiện
hành vi giết người hoặc việc làm như: Hành động cướp tài sản của người khác.
Đối lập với hành động phạm tội, không hành động phạm tội là hình thức của
hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội
phạm gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm thông qua việc chủ thể không làm một

chính là một trong những điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự được chính xác.
Thứ tư, hành vi phạm tội phải là hành vi trái pháp luật hình sự.
Hành vi đã được thực hiện chỉ coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu hành vi đó
thỏa mãn đầy đủ những đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm cụ thể được quy
định trong luật hình sự. Do đó, hành vi khách quan của bất kỳ tội phạm cụ thể nào đều có
tính được quy định trong luật hình sự hay tính trái pháp luật hình sự. Thừa nhận nguyên
tắc quan trọng này trong Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta đều quy định: “Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự” [42, Điều 8]. Như
vậy, theo pháp luật nước ta, chỉ có Bộ luật hình sự mới là văn bản pháp luật quy định
hành vi nào đó là tội phạm. Còn các hành vi pháp luật khác không phải là tội phạm được
quy định trong các văn bản ngoài pháp luật hình sự. Ví dụ: Vi phạm dân sự sẽ được quy
định trong Bộ luật dân sự, vi phạm hành chính sẽ được quy định trong Bộ luật hành
chính. Đây là một đặc điểm quan trọng khi nói tới hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đó
cũng là một nguyên tắc được nhiều nước trên thế giới thừa nhận với nội dung: “nulliem
crimen sine lege” nghĩa là không có tội phạm nếu không có luật. [8, tr 366]
1.1.3. Một số ý nghĩa về mặt pháp lý hình sự của hành vi phạm tội
Trong cuốn sách chuyên khảo sau đại học: “Những vấn đề cơ bản trong khoa
học luật hình sự - Phần chung” Tiến sỹ khoa học Lê Cảm có viết: [8, tr 336, 337]
“Hành vi phạm tội - cách xử sự trái pháp luật hình sự và nguy hiểm cho xã
hội, tức là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tất cả các tội phạm và nó có
ý nghĩa pháp lý hình sự trên các bình diện sau:

12


1) Hành vi phạm tội luôn luôn được thực hiện dưới một trong hai dạng là:
bằng hành động (hành vi): làm những động tác cơ học bị luật hình sự cấm (ví dụ:
cầm súng bắn chết người, dùng dao chém nạn nhân bị thương,…) hoặc bằng không
hành động (bất tắc vi): không làm những động tác cơ học mà người phạm tội theo
pháp luật có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được (ví dụ: một cán bộ hải quan vì đã

Hành động phạm tội là hành vi khác quan làm biến đổi tình trạng bình
thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội
phạm qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm.
Loại hành vi được thể hiện dưới hình thức hành động được đa số các học giả
thừa nhận đó là dạng hành vi được thực hiện bằng những cử chỉ, lời nói, động tác
của chủ thể. Hành động phạm tội có thể chỉ là một động tác đơn giản, xảy ra một
lần trong một khoảng thời gian ngắn hoặc tập hợp nhiều động tác khác nhau nhưng
được lặp đi lặp lại liên tục trong khoảng thời gian dài. Ví dụ: hành vi tham ô tài sản,
hành vi trộm cắp tài sản, hành vi cướp giật,…[30, tr. 19]
1.2.2. Hành vi phạm tội dưới dạng không hành động (bất tắc vi)
Không hành động phạm tội là hình thức của hành vi phạm tội làm biến đổi
tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách
thể của tội phạm qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải
làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.
Hành vi được thể hiện dưới dạng không hành động thường là kết quả của
việc chủ thể không thực hiện nghĩa vụ pháp lý phát sinh trực tiếp từ các quy phạm
pháp luật. Ví dụ các hành vi không cứu giúp người khác trong tình trạng nguy hiểm
đến tính mạng, không tố giác tội phạm,… Đây là trường hợp chủ thể không làm
hoặc làm không đầy đủ một việc mà pháp luật quy định phải làm mặc dù có đủ khả
năng và điều kiện để thực hiện. Việc không thực hiện đó đã làm thay đổi trạng thái
bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Với
quan niệm này, cso lẽ cần phải quan niệm không hành động từ khía cạnh cụ thể là:
Một người không thực hiện hành động H ở thời điểm T chỉ trong trường hợp ở thời
điểm đó người đó có cơ hội để thực hiện hành động này. Trong trường hợp này,
việc thiếu vắng hành động được pháp luật quy định nên được xem là không hành
động. Ví dụ thấy người khác trong tính trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều
kiện cứu giúp mà không cứu giúp dẫn đến chết người thì rõ ràng đây là không hành

14



15


còn hành vi bị cấm tương đối là hành vi chỉ có tính không hợp pháp khi chủ thể
không thực hiện những yêu cầu nhất định như hành vi kinh doanh, hành vi vận
chuyển hàng hóa qua biên giới… Trong ví dụ này, hành vi kinh doanh hay hành vi
vận chuyển hàng hóa qua biên giới có thể là hành vi hợp pháp và cũng có thể là
hành vi không hợp pháp. Do vậy, khi mô tả dấu hiệu hành vi thuộc loại bị cấm
tương đối đòi hỏi phải mô tả đồng thời các điều kiện làm chi hành vi đó có tính
không hợp pháp (Trong Bộ luật hình sự Việt Nam, dấu hiệu hành vi thuộc loại này
chỉ được gắn thêm nhóm từ trái phép mà không có mô tả gì hơn).
Xét về hình thức thể hiện, hành vi có thể thể hiện dưới dạng hành động - thực
hiện một việc mà luật cấm và không hành động - không thực hiện một việc mà luật
yêu cầu phải thực hiện. Trong các tội phạm có tội phạm mà hành vi chỉ có thể là
hành động; có tội phạm mà hành vi có thể là hành động hoặc không hành động và
có tội phạm mà hành vi chỉ có thể là không hành động. Đối với các tội mà hành vi
chỉ có thể là không hành động thì việc mô tả hành vi trong cấu thành tội phạm cần
phải chú ý đến đặc điểm đặc biệt của dạng hành vi này. Vấn đề trách nhiệm hình sự
chỉ đặt ra cho không hành động khi chủ thể có nghĩa vụ pháp lý phải hành động và
có điều kiện thực hiện nghĩa vụ đó. Do vậy, khi mô tả dấu hiệu hành vi (không hành
động) trong cấu thành tội phạm phải thể hiện được nghĩa vụ pháp lý phải hành động
và điều kiện thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ: Điều 102 Bộ luật hình sự đã thể hiện phần
nào điều này khi mô tả: Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy
hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp… Tương tự như vậy, Điều
152 Bộ luật hình sự quy định: Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng
thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối
hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng… [27, tr. 57, 58]
Tuy nhiên, nghĩa vụ pháp lý có thể được thể hiện qua dấu hiệu chủ thể. Với việc
mô tả đặc điểm đặc biệt của chủ thể, luật có thể thể hiện được nghĩa vụ của chủ thể.

làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ… Các dạng hành vi này
đều có giá trị ngang nhau và mỗi dạng đều được coi là hành vi của tội phạm này.
Khi mô tả dấu hiệu hành vi đơn đa dạng phải tuân thủ các yêu cầu sau:
Các dạng hành vi đó phải cùng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội,
tương đương nhau và đều phù hợp với tội danh;

17


Tránh hiện tượng gộp các dạng hành vi thành tội danh để tội danh bao quát
hết các hành vi. Ví dụ: Ghép hành vi dụ dỗ, hành vi ép buộc, hành vi chứa chấp với
nhau để có tội danh: Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên
phạm pháp. Trong những trường hợp này, chúng ta phải tìm được tội danh chung.
Nếu không tìm được thì phải tách các dạng hành vi đó thành các hành vi đơn dạng
của các tội danh khác nhau.
Về kỹ thuật lập pháp cần chú ý cách mô tả dấu hiệu hành vi có tính chất đặc
biệt khi xây dựng cấu thành tội phạm cắt xén. Khi xây dựng cấu thành tội phạm cắt
xén, nhà làm luật không mô tả hành vi của tội phạm là dấu hiệu hành vi mà dưới
dạng như là mục đích, tính chất của hành vi hoạt động. Như vậy, dấu hiệu hành vi
được mô tả trong các cấu thành tội phạm là hành vi hoạt động và nó được hiểu là
hành vi bất kỳ nhằm thực hiện hành vi của tội phạm được phản ánh trong cấu thành
tội phạm cắt xén. Tội danh của tội có cấu thành tội phạm cắt xén cũng phải thêm tập
hợp từ “hoạt động”. Ví dụ: Điều 79 Bộ luật hình sựquy định tội hoạt động nhằm lật
đổ chính quyền nhân dân: “Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì…”. Hành vi khách quan của tội phạm này là
hành vi thành lập hoặc hành vi tham gia tổ chức mà tổ chức đó có mục đích lật đổ
chính quyền nhân dân. Nhưng trong cấu thành tội phạm, dấu hiệu hành vi được mô
tả không phải là những hành vi này mà là hành vi hoạt động nhằm thực hiện các
hành vi đó - hành vi thành lập hoặc tham gia…
Ngoài các cách phân loại hành vi như trên, luật hình sự còn có thể nói đến

xã hội được bảo vệ bằng pháp luật hình sự” [8, tr. 367].
GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa lại cho rằng: “Hậu quả của tội phạm là sự gây
thiệt hại cho khách thể của tội phạm và thường thể hiện qua sự biến đổi tình trạng
bình thường của bộ phận cấu thành khách thể hay còn gọi là đối tượng tác động của
tội phạm” [25, tr. 153].
Có thể nói, về tên gọi vẫn chưa có sự thống nhất, có quan điểm dùng thuật
ngữ “hậu quả của tội phạm”, có quan điểm sử dụng thuật ngữ “hậu quả phạm tội”
hay “hậu quả nguy hiểm cho xã hội”, song dù theo cách nào thì vấn đề cốt lõi được
nhấn mạnh tới ở tất cả các quan điểm đó là hậu quả là sự gây thiệt hại do hành vi

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status