CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bằng cách vẽ một
bức tranh tổng thể về những nội dung sẽ trình bày: (1) Lý do tác giả chọn đề tài
tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận 12 làm đề tài nghiên cứu;
(2) Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài; (3) Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu của đề tài; (4) Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu của mình; (5) Những
đóng góp của đề tài; (6) Kết cấu của đề tài.
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, kết quả số thu ngân
sách hàng năm tại các cơ quan thuế từ Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương cho đến các Chi cục Thuế quận, huyện là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của cơ quan thuế. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ
và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên trên thực tế, một số người nộp
thuế vẫn có quan niệm xem việc nộp số tiền thuế vào ngân sách Nhà nước là sự
mất đi một số tiền nhất định, thực hiện việc nộp thuế chỉ là nghĩa vụ không thể
tránh né được nếu có cơ hội không nộp thuế hoặc giảm bớt được số tiền thuế
phải nộp mà không bị xử lý thì họ có thể sẽ không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
Cục Thuế TP.HCM nói chung và Chi Cục Thuế quận 12 nói riêng phải đối
mặt với một trong những thách thức lớn trong công tác quản lý thuế là làm thế
nào để hạn chế thất thoát nguồn thu thuế và nhờ đó nâng cao mức độ tuân thủ
thuế. Mức tuân thủ thấp ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Chi cục thuế quận 12 đang thực hiện cơ chế quản lý thuế mới, người nộp thuế
tự khai, tự nộp thuế với chủ trương tăng cường tính chủ động, tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật trong thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, trong đó
doanh nghiệp được chủ động và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình theo
quy định của pháp luật. Mục đích của cơ chế này nhằm để doanh nghiệp tự kê
khai, tự tính toán số thuế phải nộp, tự nộp thuế cho ngân sách nhà nước theo
đúng thời hạn luật quy định và tự chịu trách nhiệm về việc kê khai, nộp thuế của
1
Một là, yếu tố nào liên quan đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp
trên địa bàn quận 12?
Hai là, thang đo nào được sử dụng để đo lường các yếu tố tác động liên
quan đến hành vi tuân thủ thuế?
Ba là, giải pháp nào là cần thiết để nâng cao hành vi tuân thủ thuế của
doanh nghiệp trên địa bàn quận 12?
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi tuân
thủ thuế của các doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trong phạm
vi sau đây:
- Về không gian: Các doanh nghiệp trên địa bàn quận 12, TP.Hồ Chí
Minh.
- Về thời gian:
Nghiên cứu định tính: Thực hiện thảo luận nhóm cùng đại diện các doanh
nghiệp kê khai thuế trên địa bàn quận 12 trong tháng 12/2015.
Nghiên cứu định lượng: Thực hiện khảo sát doanh nghiệp kê khai thuế
trên địa bàn quận 12 trong tháng 2/2016.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu:
Quy trình nghiên cứu của tác giả sẽ được thực hiện qua 2 giai đoạn bao
gồm nghiên cứu định tính và định lượng. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần
mềm SPSS for Window 20.0.
Trong bước thứ nhất, tác giả tập hợp cơ sở lý luận (bao gồm hai nội dung
nghiên cứu cơ bản): (i) Tập hợp cơ sở lý luận về hành vi tuân thủ thuế của các
doanh nghiệp; (ii) Thực hiện tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm để thiết kế
dàn bài thảo luận nhóm với doanh nghiệp kê khai thuế phục vụ cho nghiên cứu
3
- Đề tài xác định được các yếu tố liên quan đến hành vi tuân thủ thuế của
doanh nghiệp trên địa bàn quận 12, TP.HCM;
- Đề tài giúp nâng cao hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp kê khai
thuế trên địa bàn quận 12, TP.HCM;
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và các nhà nghiên
cứu trong lĩnh vực thuế.
1.6.
KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI: Đề tài được kết cấu thành 05 chương
Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
Tác giả sẽ trình bày lý do chọn đề tài; mục tiêu, đối tượng, phạm vi
nghiên cứu của đề tài; phương pháp nghiên cứu của đề tài; đóng góp của đề tài
và kết cấu của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế
Tác giả trình bày cơ sở luận về hành vi tuân thủ thuế bao gồm: Mô hình lý
thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về hành vi tuân thủ thuế của doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của mình.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sẽ trình bày về phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đo
lường các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tại Chi
Cục Thuế quận 12.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Tác giả sẽ trình bày về thực trạng hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp
tại Chi cục Thuế Quận 12; kết quả khảo sát các hành vi tuân thủ thuế của các
doanh nghiệp.
Chương 5: Kết luận và biện pháp nhằm cải thiện việc tuân thủ thuế của các
doanh nghiệp tại Chi Cục Thuế quận 12, TP. Hồ Chí Minh.
là khả năng và sự sẵn lòng của đối tượng nộp thuế thực hiện theo quy định của
pháp luật thuế; kê khai thu nhập chính xác mỗi năm và thanh toán đủ số tiền thuế
đúng thời gian quy định [41].
Ở góc độ chi tiết hơn, Singh và cộng sự (2003) cho rằng tuân thủ thuế là
hành động của một người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản
thu nhập chịu thuế và thanh toán tất cả các khoản thuế phải nộp trong thời hạn
quy định mà không phải chờ đợi hành động của cơ quan thuế. Trên cơ sở đó,
7
tuân thủ thuế được tách biệt thành 2 quan điểm: tuân thủ quan điểm về quản lý
hành chính và tuân thủ theo quan điểm hoàn thành chính xác tờ khai thuế. Tuân
thủ theo quan điểm quản lý hành chính bao gồm đăng ký và thông báo với cơ
quan thuế tình trạng của người nộp thuế, nộp tờ khai thuế mỗi năm (nếu cần) và
tuân thủ khuôn khổ về thời gian thanh toán theo yêu cầu [9]. Nghĩa là, tuân thủ
thuế đòi hỏi người nộp thuế phải đạt được một mức độ trung thực nhất định, có
kiến thức thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này để hoàn thành tờ khai
thuế và các hồ sơ có liên quan kịp thời, chính xác và đầy đủ [30]. Cùng quan
điểm với Singh & Ctg (2003) cho rằng tuân thủ thuế trở thành một vấn đề chủ
yếu trong hệ thống tự khai thuế bởi vì tổng số tiền thuế phải nộp phụ thuộc rất
nhiều vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế mặc dù không thể tránh khỏi việc
cơ quan thuế sẽ tìm kiếm thông tin từ những người nộp thuế khác trong khu vực
để giảm thiểu rủi ro xảy ra các trường hợp không tuân thủ, hoặc họ sẽ thường
xuyên thực hiện việc kiểm tra nhiều loại thuế khác nhau, và bằng những hình
thức khác chẳng hạn giáo dục kiến thức thuế nhằm tạo ra những tác động nhất
định đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế [41].
Một số tác giả khác đã xem xét tuân thủ thuế từ một góc độ khác.
Allingham & Sandmo (1972) mô tả tuân thủ thuế là một vấn đề “báo cáo thu
nhập thực tế” và cũng tuyên bố rằng hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế bị
ảnh hưởng bởi một số tình huống mà trong đó có thể người nộp thuế đưa ra
có thể là tâm lý học và được tóm tắt trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế
Cách tiếp cận kinh tế
Cách tiếp cận hành vi
Góc độ tiếp cận
Tuân thủ 100% quy định Tự nguyện, sẵn sàng hành
về thuế so với thực tế, động theo tinh thần và từng
xét trên góc độ hẹp.
quy định của luật thuế, xét
trên góc độ rộng hơn.
Quyết định tuân thủ
Dựa trên sự hợp lý về lợi Dựa trên hành vi hợp tác
ích kinh tế.
giữa người nộp thuế và cơ
quan thuế.
Mức độ chi tiết
Cân nhắc lựa chọn:
9
Mỗi cá nhân không chỉ đơn
xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế
đúng hạn.
2.1.2. Các nhân tố liên quan đến hành vi tuân thủ thuế
Các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế là đề tài thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến
tuân thủ thuế đều tiếp cận vấn đề theo hai cách tiếp cận cơ bản. Một là phân tích
quyết định tuân thủ dựa trên việc phân tích kinh tế, so sánh lợi ích và chi phí của
việc tuân thủ và không tuân thủ, những giá trị có thể nhận được khi tuân thủ hoàn
toàn (chẳng hạn như các phần thưởng mang tính chất khích lệ). Cách tiếp cận còn
lại nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định tuân thủ liên quan đến cách cư
xử của người nộp thuế hoặc cơ quan thuế. Cách tiếp cận này thiên về khoa học
10
hành vi hơn là khoa học kinh tế. Và hầu hết những nghiên cứu mới nhất liên quan
đến vấn đề tuân thủ thuế đều thực hiện theo cách tiếp cận thứ hai [38], [27].
2.1.2.1. Các nhân tố liên quan đến chính sách thuế
Vấn đề thuế suất
Tác động của thuế suất đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế đã
được xác nhận trong nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, mức độ và hướng tác động lại
không hoàn toàn giống nhau ở các nghiên cứu. Bằng chứng thực nghiệm cho
thấy việc áp dụng thuế suất lũy tiến so với thuế suất cố định là biến cấu trúc có
liên quan đáng kể đến hành vi tuân thủ thuế [10].
Clotfelter (1983) cũng cho rằng việc “cắt giảm thuế suất không phải là
chính sách duy nhất có khả năng hạn chế trốn thuế”, nhưng thuế suất là nhân tố
quan trọng trong việc xác định hành vi tuân thủ thuế mặc dù tác động chính xác
vẫn chưa rõ ràng và còn gây tranh cãi. Clotfelter (1983) khẳng định giữa thuế
suất và trốn thuế tồn tại một mối quan hệ đáng kể bởi vì thuế suất được sử dụng
như một công cụ có thể được thao tác cho những mục tiêu chính sách nhất định.
khoản đóng góp cho cộng đồng [25].
Thay đổi chính sách hiện hành của chính phủ
Thực tế không có quá nhiều nghiên cứu đi sâu vào mối quan hệ trực tiếp
giữa thay đổi chính sách của chính phủ hiện hành và việc tuân thủ hay không
tuân thủ thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng sự ổn định
về chính trị và đảng cầm quyền hiện tại ở một quốc gia nào đó có thể đóng vai
trò quan trọng trong việc xác định hành vi trốn thuế [17]. Lập luận cho rằng nếu
một cá nhân đang ủng hộ đảng cầm quyền hiện tại, anh ta có thể tuân thủ thuế vì
khi đó, cá nhân này tin rằng chính phủ đáng tin cậy, hiệu quả và công bằng.
Ngược lại, người nộp thuế ở phe đối lập có thể ít tuân thủ hơn bởi vì anh ta cho
rằng chính phủ này không vì quyền lợi của anh ta. Tuy nhiên, những trường hợp
này chỉ xảy ra ở các quốc gia tồn tại chế độ đa đảng. Hasseldine & Hite (2003)
cũng nhận thấy tuổi tác, thu nhập và tình trạng hoàn thuế dự kiến trong tương lai
cũng bị tác động đáng kể bởi đảng phái chính trị. Phân tích hồi quy về thái độ
12
tổng thể đối với hệ thống thuế thu nhập hiện hành và thái độ đối với việc giảm
thuế đã hỗ trợ cho những kết quả nghiên cứu trước đó. Các biến độc lập như
đảng phái chính trị, khung hiệu lực, tình trạng hoàn thuế dự kiến, độ tuổi, mức
thu nhập một lần nữa tác động hồi qui đến việc trốn thuế; và các đảng phái chính
trị có tác động đáng kể đến thái độ về việc cắt giảm thuế. Hasseldine &Hite
(2003) kết luận: thứ nhất, đảng chính trị có tác động đáng kể đến hành vi người
nộp thuế; thứ hai, các quy định về thuế càng chặt chẽ với đảng chính trị cụ thể
nào thì càng thuận lợi hơn cho các thành viên của đảng đó; thứ ba, những thay
đổi về chính sách trong một số trường hợp nhất định (chẳng hạn giảm thuế)
được người nộp thuế đánh giá tích cực (tạo được niềm tin cho người nộp thuế và
gia tăng tuân thủ tự nguyện) và khi đó họ nhận thấy hệ thống thuế cũng công
bằng hơn. Ngoài ra, những động thái tích cực từ phía chính phủ, chẳng hạn gia
để xác định chính xác tiền thuế phải nộp. Những quy tắc này cần hướng đến tính
đơn giản, dễ hiểu và rõ ràng nhằm tăng cường tuân thủ thuế. Clotfelter (1983)
phát hiện tính phức tạp của hệ thống thuế có liên quan đến việc không khai báo
thuế. Milliron (1985), Richarson (2006) cũng phát hiện mối quan hệ giữa tính
phức tạp của hệ thống thuế với quyết định tuân thủ thuế hoặc trốn thuế. Tổ chức
OECD (2001) cho rằng pháp luật thuế ở nhiều nước còn chưa chính xác và chưa
rõ ràng, và đây chính là mãnh đất màu mỡ cho các công ty tích cực lợi dụng để
trốn hoặc tránh thuế. Điều này đặc biệt đúng ở các nước đang phát triển với
công tác quản lý và trách nhiệm giải trình yếu kém, thiếu văn hóa thuế, và chế
độ thuế rất phức tạp.
Ở nhiều quốc gia phát triển, tính phức tạp đã trở thành một nhân tố quan
trọng của hành vi tuân thủ thuế. Khi áp dụng cơ chế tự khai tự nộp, đòi hỏi tối
thiểu đặt ra là tờ khai thuế phải đơn giản bởi vì người nộp thuế đến từ nhiều
thành phần khác nhau, trình độ giáo dục khác nhau, thu nhập và quan trọng nhất
là mức độ am hiểu kiến thức thuế là khác nhau. Để hỗ trợ người nộp thuế hoàn
thành chính xác tờ khai thuế, cơ quan thuế nên tiến đến việc xây dựng tờ khai
thuế đơn giản nhưng đầy đủ. Thông tin yêu cầu trong tờ khai phải ở mức độ nhỏ
nhất và có thể có sẵn từ sổ sách cá nhân hoặc sổ sách sản xuất kinh doanh của cá
14
nhân. Đan Mạch, Canada và New Zealand là những quốc gia đi đầu trong việc
đưa ra tờ khai thuế đơn giản bằng cách giảm số trang cho đơn giản và gia tăng
tính tuân thủ tự nguyện giữa những người nộp thuế [29]. Chẳng hạn, ở Anh,
HMRC đã nhiều năm liền nỗ lực đưa ra những tờ khai thuế đơn giản giúp người
nộp thuế hiểu tốt hơn. Silvani & Baer (1997) thảo luận về tầm quan trọng của cơ
quan thuế khi ban hành tờ khai thuế đơn giản và hệ thống thuế đơn giản từ quan
điểm của người nộp thuế. Mặc dù từ “ đơn giản” chứa đựng nhiều nghĩa giải
thích khác nhau, ít nhất người nộp thuế phần lớn yêu cầu tờ khai thuế càng đơn
giản có thể càng tốt. Cơ quan thuế cho rằng tờ khai thuế là đơn giản và dễ dàng
Hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế được hiểu ở góc độ cơ quan thuế có
hoàn thành tốt vai trò của mình trong việc quản lý thuế cũng như hỗ trợ người
nộp thuế. Đối với tuân thủ thuế,về mặt lý thuyết vẫn còn tồn tại những tranh
luận xung quanh vấn đề làm cách nào đánh giá tác động hiệu quả hoạt động của
cơ quan thuế lên hành vi tuân thủ của người nộp thuế. Vai trò của cơ quan thuế
trong việc giảm thiểu khoản cách thuế _tax gap và gia tăng tính tuân thủ tự
nguyện rõ ràng rất quan trọng. Hasseldine & Li (1999) minh họa rằng để tối
thiểu việc trốn thuế, cần đặt chính phủ và cơ quan thuế vào vị trí chính yếu phải
quản lý hệ thống thuế một cách hiệu quả liên tục. Chính phủ đóng vai trò quan
trọng trong việc thiết kế hệ thống thuế, thực thi cụ thể và quản lý cơ chế thu
[17].
Một nghiên cứu gần đây của Richardson (2008) cũng đề nghị rằng vai trò
của chính phủ có tác động đáng kể đến việc quyết định thái độ của người nộp thuế
đối với tuân thủ thuế. Nghiên cứu của ông nỗ lực điều tra các yếu tố của hành vi
trốn thuế ở 47 quốc gia trong đó có Mỹ, Anh, Achentina, Thái Lan, Canada, Chile
và Brazil. Richardson đề nghị chính phủ nên tăng cường danh tiếng và tăng uy tín
của họ để có thể đạt được niềm tin từ người nộp thuế [36].
Công tác kiểm tra thuế
Các nhân tố về kinh tế trong mối quan hệ với tuân thủ thuế đề cập đến
những hành động của người nộp thuế có liên quan đến việc cân nhắc chi phí và
lợi ích của việc biểu hiện hành động đó [26]. Hasseldine (1993), Song &
16
Yarbrough (1978) và Torgler & Schneider (2005) cho rằng người nộp thuế nỗ
lực tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của họ bằng cách hướng đến việc khai báo thấp
thu nhập tính thuế và hưởng lợi từ phần tiết kiệm thuế tương ứng khi cơ quan
thuế không phát hiện hành vi của họ. Mặt khác, họ sẽ sẵn lòng thanh toán nhiều
hơn, kể cả khoản tiền phạt nếu họ bị phát hiện [41]. Các nhân tố về kinh tế liên
quan đến tuân thủ thuế bao gồm: thuế suất, kiểm tra thuế, và nhận thức về chi
tăng tính tuân thủ tự nguyện. Tỷ lệ kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong hành
vi báo cáo thuế của người nộp thuế bởi vì người nộp thuế sẽ khai báo toàn bộ
nếu họ cho rằng họ sẽ là một trong những người bị kiểm tra thuế trong năm nào
đó. Slemrod & Ctg (1998) điều tra mối quan hệ giữa tỷ lệ bị kiểm tra và phản
ứng của người nộp thuế. Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng hành vi của người
nộp thuế thay đổi theo mức thu nhập và tỷ lệ bị kiểm tra thuế đóng vai trò quan
trọng trong việc xác định hành vi trốn thuế.
Nghiên cứu của Evan & Ctg (2005) ở Australia phát hiện rằng lịch sử
kiểm tra thuế bao gồm tính chất thường xuyên, kết quả kiểm tra và loại hình
kiểm tra có tác động gián tiếp đáng kể đến tuân thủ thuế (cụ thể là việc lưu trữ
sổ sách kế toán). Những người không sẵn lòng nộp thuế và hay tìm cách để thoát
khỏi các đợt kiểm tra thuế hoặc hình phạt thường cố gắng để hiểu quy trình lựa
chọn đối tượng kiểm tra thuế, và ngay cả khi việc kiểm tra mang tính ngẫu
nhiên, họ vẫn cố gắng để dự đoán khi nào cuộc kiểm tra kế tiếp sẽ xảy ra.
Kirchler & Ctg (2005) dự đoán rằng tuân thủ thuế lệ thuộc vào tỷ lệ kiểm
tra, các biện pháp trừng phạt và khoảng thời gian giữa các lần kiểm tra. Trường
hợp việc kiểm tra thuế diễn ra thường xuyên, tuân thủ thuế sẽ lập tức giảm ngay
sau cuộc kiểm tra đó và nhanh chóng tăng lại ở đợt tiếp theo. Trường hợp kiểm
tra thuế không thường xuyên, tuân thủ thuế cũng giảm sau khi đã được kiểm tra
thuế và cũng tăng trở lại nhưng với tốc độ chậm hơn [25].
Kết quả nghiên cứu của Andreoni & Ctg (1998) cho thấy kinh nghiệm từ
những lần bị kiểm tra trước và việc vẫn tiếp tục bị quản lý từ phía cơ quan thuế
đối với hoạt động của họ có tác dụng gia tăng mức độ tuân thủ của người nộp
18
thuế. Bergman (1998) tiến hành nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế ở Achentina sử
dụng 2 cách thức: 1) cách thức tăng cường tuân thủ thuế đối với người nộp thuế
là các tổ chức và 2) các chiến dịch mở rộng và kiểm tra thuế sẽ gia tăng xác suất
phát hiện đối với người nộp thuế cá nhân. Kết quả cho thấy rằng khi biết tỷ lệ
Palil (2010) cũng cho thấy kiểm tra thuế nói chung là cách thức ngày
càng trở nên quan trọng trong việc tối thiểu hóa các hành vi không tuân thủ thuế.
Tầm quan trọng của các chương trình kiểm tra không chỉ chỉ có ý nghĩa đối với
những đối tượng nộp thuế bị kiểm tra thuế mà còn tác động đến cả các đối tượng
nộp thuế còn lại.
2.1.2.3. Các nhân tố liên quan đến người nộp thuế
Kiến thức về thuế của người nộp thuế
Ảnh hưởng của kiến thức đến hành vi tuân thủ thuế đã được chứng minh
trong nhiều nghiên cứu khác nhau [28]. Kiến thức và quan niệm về thuế của
người nộp thuế sẽ tạo nền tảng cho việc đánh giá, nhận thức về tính công bằng
và sự sẵn lòng cũng như năng lực để tuân thủ các quy định của thuế. Kiến thức
chủ quan về thuế, tức là sự hiểu biết về thuế của người dân bình thường nhất, rất
quan trọng để hiểu tại sao họ lại cư xử như cách họ đã và đang làm.
Harris (1989) chia kiến thức thuế thành 2 khía cạnh, kiến thức thuế nhận
được thông qua quá trình giáo dục phổ thông hoặc giáo dục chính thức và kiến
thức thuế chuyên biệt được đào tạo trực tiếp hướng đến các cơ hội có thể trốn
thuế. Ở khía cạnh thứ nhất, trình độ giáo dục người nộp thuế tiếp nhận được là
một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự hiểu biết chung về thuế đặc biệt liên
quan đến pháp luật và thuế [11]. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng
kiến thức chung về thuế có quan hệ mật thiết đến khả năng hiểu pháp luật và các
quy định về thuế, và từ đó tuân thủ thuế tốt hơn [38]. Eriksen & Fallan (1996)
nhận định kiến thức về pháp luật thuế khá quan trọng đối với thái độ và sự ưu ái
đối với thuế. Họ cho rằng kiến thức tài chính có tương quan với thái độ thuế và
hành vi về thuế có thể được cải thiện bằng một sự hiểu biết về thuế tốt hơn.
20
Eriksen & Fallan (1996) nỗ lực xác định mối quan hệ giữa mức kiến thức
thuế và thái độ về thuế bằng cách chia nghiên cứu của mình thành 3 phần. Đầu
thức về sự công bằng của hệ thống thuế đều tác động đến việc trốn thuế [22].
Kiến thức chuyên sâu về thuế kết hợp với những hiểu biết các quy định về thuế,
cùng với kiến thức về tài chính giúp người nộp thuế xác định được hậu quả kinh
tế những việc làm của họ nếu trốn thuế.
‘ … một cách thành công để ngăn ngừa trốn thuế là cung cấp kiến thức
thuế nhiều hơn cho đại bộ phận trong xã hội nhằm cải thiện đạo đức thuế và
nhận thức của mọi người về tính công bằng của hệ thống thuế’ [22].
‘ …đó sẽ là một bước đi đúng hướng để thực hiện giảng dạy pháp luật về
thuế và kiến thức thuế như một phần bắt buộc của kiến thức kinh tế xã hội được
giảng dạy ở trường học’ [22].
Tóm lại, theo kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm, rõ ràng việc tăng
cường kiến thức thuế cho người nộp thuế là một nhân tố quan trọng trong việc
điều hành một hệ thống thuế thành công, nhất là khi áp dụng cơ chế tự khai tự
nộp. Thành tựu gia tăng mức độ tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế có thể
được xác định khi người nộp thuế có thể hoàn thành tờ khai thuế chính xác và
thanh toán đầy đủ nghĩa vụ thuế. Vì vậy để thực hiện những mục tiêu của cơ chế
tự khai tự nộp, người nộp thuế cần được thông báo đầy đủ, được giáo dục tốt
(nhất là vấn đề về thuế), và đảm bảo trình độ của người nộp thuế đủ để tự cập
nhật thường xuyên kiến thức về thuế.
Nhận thức về tính công bằng
Công bằng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế. Tính công
bằng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của thuế. Khi hệ thống
thuế đảm bảo công bằng trong việc huy động nghĩa vụ thuế, người nộp thuế tích
cực tuân thủ thuế hơn. Các nhà quản lý và người nộp thuế tin rằng việc không
hài lòng với sự công bằng của hệ thống thuế là nguyên nhân chủ yếu gia tăng
tính không tuân thủ. Tính công bằng của thuế bao gồm ít nhất 2 khía cạnh khác
nhau “một khía cạnh liên quan đến sự công bằng trong giao dịch”, đó là lợi ích
nhận được cho mỗi đô la tiền thuế. Khía cạnh khác liên quan đến sự công bằng
22
công bằng, tuân thủ tự nguyện được mong đợi sẽ tăng. Xét ở khía cạnh thủ tục
công bằng, yếu tố chính của sự công bằng theo quan điểm của mọi người là tính
trung lập (neutrality) của những thủ tục được sử dụng, độ tin cậy của cơ quan
thuế, thái độ lịch sự, nghiêm chỉnh và đáng tôn trọng của cá nhân người nộp thuế
hoặc nhóm các đối tượng nộp thuế [10]. Người nộp thuế mong muốn cơ quan
thuế cung cấp đầy đủ thông tin các quy định về thuế để họ có thể hoàn thành
chính xác tờ khai thuế. Vì vậy người ta cho rằng việc tăng cường cung cấp thông
tin về thuế có thể giúp tăng nhận thức của người nộp thuế về tính công bằng và
tuân thủ thuế tốt hơn [49].
Xét ở khía cạnh xử phạt công bằng, việc kiểm tra thuế không hợp lý và
hình phạt không công bằng sẽ dẫn đến căng thẳng và người nộp thuế không hài
lòng. Việc người nộp thuế nhận thức không thiện chí về khía cạnh công bằng
trong xử phạt có thể dẫn đến hành vi không tuân thủ và do đó gia tăng trốn thuế
và làm tăng thêm khoảng cách thuế.
Những nghiên cứu khác được thực hiện bởi Scott & Grasmick (1982);
Spicer & Lundstedt (1976) phát hiện những người cho rằng hệ thống thuế không
công bằng là những người có nhiều khả năng thực hiên hành vi không tuân thủ.
Eriksen & Fallan (1996) cũng tiết lộ rằng một phương thức quan trọng để đảm
bảo tuân thủ thuế là cung cấp kiến thức thuế nhiều hơn nhằm nâng cao nhận
thức của người nộp thuế về sự công bằng của hệ thống thuế. Một nghiên cứu
được thực hiện bởi Richardson (2006) cũng chỉ ra rằng công bằng của hệ thống
thuế theo nhận định của người nộp thuế có mối quan hệ mật thiết với trốn thuế.
Spicer & Becker (1980) kiểm tra mối quan hệ giữa tính không công bằng về mặt
tài chính và hành vi trốn thuế đã tiết lộ rằng những người trong nhóm thu nhập
cao (hay nhóm thuế cao, mức thuế suất dành cho họ cao hơn mức trung bình) có
tỷ lệ trốn thuế cao nhất so với những nhóm khác (nhóm thuế thấp và nhóm thuế
trung bình). Tuy nhiên, tác động giữa việc phân phối công bằng đến việc trốn
thuế vẫn chưa rõ ràng và vẫn còn tranh cãi ở nhiều nghiên cứu khác nhau. Nhận
vụ thuế thực tế.
25