1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới hiện nay, sự hội nhập
vào các tổ chức kinh tế quốc tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước trên
thế giới là xu thế tất yếu, đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) Việt Nam muốn tồn tại và
phát triển cần phải tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của Việt Nam thì đây cũng là thử
thách rất lớn, mặt khác xét về góc độ kinh tế vĩ mô để duy trì tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế, một yêu cầu bức bách là tạo lập những điều kiện thuận lợi nhất cho các
DNNVV nhằm giúp các DN cải thiện môi trường kinh doanh; tăng khả năng tiếp
cận nguồn vốn và công nghệ; mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu; tăng khả
năng cạnh tranh của mình nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Nhận thức được vấn đề này, trong thời gian qua, Chính phủ, các cơ quan, tổ
chức trong nước đã ban hành nhiều chính sách, thực hiện nhiều biện pháp, chương
trình hỗ trợ khác nhau trên nhiều lĩnh vực nhằm phát triển loại hình doanh nghiệp
này, thế nhưng vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn.
Đặc biệt trong các yêu cầu bức bách trên thì việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng
ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ cho công việc phát
triển là vô cùng cần thiết.
Riêng đối với Quận 7- thành phố Hồ Chí Minh, qua 15 năm thành lập- được
đánh giá là một trong những khu vực phát thiển nhanh chóng và mạnh mẽ nhất của
một thành phố năng động và
phát triển nhất của Việt Nam, điều đó cho thấy quá
trình hội nhập là một yêu cầu tất yếu và càng phải được thực hiện nhanh chóng,
mà trong đó việc ưu tiên phát triển DNNVV theo đúng hướng thông qua việc vận
dụng các lợi thế hiện có đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
Quận 7 nói riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
2
Theo số lượng thống kê hiện tại
của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa
trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và cả nước.
3
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu và phân tích thực trạng các DNNVV trên địa bàn quận 7, đặc
biệt là tình hình sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhằm
tìm ra những giải pháp phù hợp tạo lập những điều kiện thuận lợi nhất cho các
DNNVV ở quận 7- TP. HCM phát triển; nhằm cải thiện môi trường kinh doanh;
tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn và công nghệ; mở rộng thị trường; gia tăng khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
- Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến sự phát triển
DNNVV, vai trò của DNNVV đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của DNNVV, khả năng
tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp, xây dựng mô hình
phân tích những nhân tố tác động đặc biệt là nguồn vốn tín dụng ngân hàng đến
sự phát triển DNNVV trên địa bàn quận 7.
+ Tìm hiểu những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn của các ngân
hàng thương mại đối với các DNNVV.
+ Trên cơ sở phân tích và kiểm định mô hình những nhân tố tác động đến
sự phát triển của DNNVV trên địa bàn quận 7, tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của
nguồn vốn tín dụng đối với sự phát triển DNNVV, để từ đó gợi ý một số giải
pháp nhằm thúc đẩy
v
à nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của
DNNVV góp phần phát triển DNNVV và gia tăng tính cạnh tranh của doanh
nghiệp.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: đối tượng nghiên cứu của đề tài là các DNNVV ngoài quốc doanh
trên địa bàn quận 7, TP.HCM
5
Các tiêu chí, công cụ đánh giá và kết quả đánh giá bao gồm:
+ Xây dựng bảng câu hỏi để cho điểm theo các tiêu chí theo thang điểm mà đề tài
đề cập nhằm đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về giải pháp vốn tín
dụng ngân hàng.
+ Xây dựng bộ thang đo nhằm đánh giá thực trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Quận 7, Tp Hồ Chí Minh.
+ Công cụ đánh giá: phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, kiểm định thang đo, mô
hình phân tích nhân tố khảo sát kết hợp với với phân tích bằng phần mềm Excel, một
số phân tích khác và so sánh kết quả đạt được của quá trình đánh giá thực trạng.
+ Các tồn tại và hạn chế qua nghiên cứu thực trạng.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài “Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng đối
với sự phát triển DNNVV trên địa bàn Quận 7- TP. Hồ Chí Minh” tập trung làm
sáng tỏ những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng cho các
DNNVV và đề xuất các giải pháp hỗ trợ mang tính thực tiễn cho các doanh nghiệp
trên địa bàn Quận 7, nhằm cải thiện môi trường kinh doanh; tăng khả năng tiếp cận
nguồn vốn và công nghệ; mở rộng thị trường; gia tăng khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp.
Nội dung đề tài nghiên cứu được trình bày theo 03 chương chính.
• Chương 1: Cơ sở lý luận về DNNVV và vốn tín dụng ngân hàng đối với sự
phát triển của DNNVV.
Nội dung chương 1 đi vào tìm hiểu và phân tích các đặc điểm, vai trò
DNNVV, Vốn tín dụng ngân hàng trên các nghiên cứu cơ sở lý luận, Khái niệm
DNNVV, Kinh nghiệm hỗ trợ DNNVV của một số nước trên thế giới.
6
• Chương 2: Tổng quan thực trạng và phương pháp nghiên cứu về nguồn
vốn tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển các DNNVV ở Quận 7 - TP.
Hồ Chí Minh
Nội dung chương 2 tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng của
tài chính,…Chính những hoạt động này giúp ngân hàng sử dụng đồng vốn có
hiệu quả một cách tối đa, tận dụng các khoản tiền nhàn rỗi và đời sống xã hội, góp
phần đáng kể vào phát triển kinh tế quốc gia. TDNH có các đặc trưng sau:
- Là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin.
- Là quan hệ vay mượn có thời hạn.
- Là quan hệ vay mượn có hoàn trả.
Trong nền kinh tế thị trường, hiện nay các ngân hàng thương mại đang cung cấp
cho doanh nghiệp những hình thức tín dụng sau:
• Tín dụng ngắn hạn gồm: Chiết khấu thương phiếu, cho vay thấu chi,
cho vay từng lần
• Tín dụng trung và dài hạn gồm : Cho vay theo dự án, cho vay hợp vốn
8
• Các hình thức tài trợ tín dụng chuyên biệt gồm: Cho thuê tài chính, bảo
lãnh ngân hàng
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa là một tất yếu khách quan, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh các DN sử dụng vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu về vốn cũng
như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình. Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư
cho các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc đẩy sự phát
triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân
hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng,
thanh toán ngoại hối… Để thấy được vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ta xét một số vai trò sau:
+ Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa được liên tục.
Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các DN luôn cần phải cải tiến kỹ thuật
thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng
vững và phát triển trong cạnh tranh, trên thực tế không một DN nào có thể đảm
bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh cho DN mình, do vậy vốn tín
ngoài là một vấn đề khó khăn, Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là
tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị
kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh, tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu
tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải
mất nhiều năm mới thực hiện đượ, và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn
nữa, như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có thể tìm
đến tín dụng ngân hang, chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp
thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.
10
Ngoài ra, vốn TDNH còn góp phần nâng cao hiệu quả sủ dụng vốn, tránh
tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp
được liên tục thuận lợi, góp phần nâng cao khẳ năng cạnh tranh của DN, giúp
doanh nghiệp hạn chế rủi ro.
Mặt khác, TDNH còn góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính của
khu vực kinh tế tư nhân, nhờ hoạt động tín dụng mà thị trường này được hình
thành và phát triển, đây là nơi giải quyết các quan hệ cung cầu về vốn nhằm thỏa
mãn nhu cầu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển khu vực
kinh tế tư nhân, nhờ có đồng vốn tín dụng của ngân hàng thương mại đã giúp họ
tăng trưởng, tăng lợi nhuận, ứng dụng công nghệ mới để tăng năng suất, hạ giá
thành sản phẩm, góp phần khai thác mọi tiềm năng về lao động, mở rộng sản xuất,
thuê nhiều nhân công, giải quyết việc làm tận dụng mọi nguồn lao động trong xã
hội. Nó cũng góp phần phát triển ngành nghề mới và các ngành nghề truyền thống,
các DNNVV thường có tính chất năng động trong xu thế hội nhập, việc tham gia
thị trường góp phần phát triển các ngành nghề truyền thống cũng như phát triển
thêm những ngành nghề mới.
1.2. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ KHÁI NIỆM DNNVV Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Cho đến nay việc xác định quy mô để định nghĩa khái niệm về DNNVV
tại các nước trên thế giới chỉ mang tính
Nhật Bản Sản xuất công nghiệp
Thương mại- dịch vụ
Dưới 1 triệu
Dưới 300.000
1- 299
9- 99
Malaysia Sản xuất công nghiệp Dưới 145.000 1- 49
Thái Lan Sản xuất công nghiệp Dưới 99.500 50- 200
Hoa Kỳ Sản xuất công nghiệp < 20.000 1- 250 50.000-
150.000
Hàn Quốc Sản xuất công nghiệp Dưới 600.000 1- 299 50.000-
12
Thương mại- Dịch vụ < 20.000 150.000
<500.000
EU Sản xuất công nghiệp 1- 499
Hồng Kông Sản xuất công nghiệp 1- 1.000
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư (2002)
1.3. KHÁI NIỆM VỀ DNNVV Ở VIỆT NAM
1.3.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể thống nhất về loại hình doanh nghiệp
nhỏ và vừa, mà tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển
kinh tế để đưa ra những quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa, khi định nghĩa về
DNNVV, các quốc gia thường căn cứ vào quy mô về vốn của DN, số lao động
thường xuyên, tổng doanh thu, tổng tài sản của DN. Mỗi quốc gia sử dụng những
tiêu chuẩn hay có cách kết hợp các tiêu chuẩn khác nhau mà đưa ra định nghĩa
riêng về doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hai tiêu chuẩn thường được sử dụng phổ biến để phân loại doanh nghiệp là
- Số lao động
sử dụng.
- Q
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
Công
nghiệp và
xây dựng
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
Thương mại
và dịch vụ
cao, đối với một số DN nhỏ và siêu nhỏ, phần lớn nhân công thường là người thân
thuộc trong gia đình, các giám đốc hoặc quản lý thường đảm nhiệm cả vai trò điều
hành toàn diện do vậy thường thiếu nguyên tắc làm việc chuẩn mực cần thiết. Về
chất lượng lao động thường thiếu sự đào tạo bài bản từ các trường do vậy cũng có
thể nói tính cạnh tranh trong chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ của các DNNVV
thường rất yếu.
1.3.3. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, DNNVV luôn là nền tảng của nền kinh tế,
thường chiếm 90% số lượng doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho 50-70% lực
lượng lao động, đóng góp từ 25-50% giá trị GDP hàng năm. Trong khu vực châu
Á-Thái Bình Dương, các doanh nghiệp này chiếm tới 98% tổng số các doanh
nghiệp, tạo ra khoảng 60% việc làm của khu vực kinh tế tư nhân, 50% doanh số
15
hay giá trị gia tăng, đóng góp 30% giá trị xuất khẩu trực tiếp. Nhật Bản có khoảng
hơn 6 triệu DNNVV, chiếm tới 99,7% số doanh nghiệp của cả nước. Trung Quốc,
tổng số DNNVV là 39,8 triệu, chiếm 99% các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
và 48,5% tổng số vốn kinh doanh.
Từ đó có thể thấy vai trò của DNNVV trong nền kinh tế là hết sức quan
trọng, thể hiện qua bốn yếu tố sau:
Thứ nhất, tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói
giảm nghèo. Giải quyết vấn đề kinh tế- an sinh xã hội, tác động trực tiếp đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước –
GDP, đóng góp đáng kể vào thu ngân sách nhà nước, huy động được nhiều nguồn
vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế.
Thứ ba, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
và phân công lao động giữa các vùng- địa phương, thu hút được ngày càng nhiều
lao động tham gia vào thị trường việc làm, chủ yếu tập trung vào các ngành phi
nông nghiệp, công nghiệp và giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cơ cấu
ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của
- Thứ hai: Nhạy bén và linh hoạt trong việc gia nhập thị truờng.
Đa số các
DNNVV phát triển một cách tự nhiên, xuất phát từ chính nhu cầu đa dạng của thị
truờng trong nền kinh tế, các DNNVV có khả năng thích ứng cao trong mọi điều
kiện và có thể dễ dàng gia nhập vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của
các DN lớn, sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất hoặc lấp đầy các khoảng
trống nhỏ và vừa khó khăn nhất (thị tường ngách) của thị truờng.
- Thứ ba: Linh hoạt, dễ thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh
doanh. Đối với các DNNVV đa số với bộ máy quản lý gọn nhẹ và thường có mối
quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng và thị trường nên đã tạo điều kiện cho các
DNNVV trong việc dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thị trường, thể hiện qua
khả năng đổi mới sản phẩm khá nhanh trong điều kiện giới hạn về vốn và công nghệ;
hoặc có thể điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh một cách nhanh chóng khi
thị trường có sự biến đổi.
- Thứ tư: Năng lực xoay chuyển vòng vốn nhanh chóng, do nguồn vốn xuất
17
phát điểm không cao, yêu cầu để tồn tại là phải nhanh chóng thu hồi vốn để đưa
vào đầu tư sản xuất kinh doanh cho các đợt kinh doanh mới, giảm chi phí lãi suất
ngân hang hoặc sự truợt giá của tiền tệ, đa số các DN đều phải nhanh chóng thích
ứng trong thị truờng qua việc thu hồi vốn kinh doanh của mình nhằm duy trì sản
xuất kinh doanh.
1.4.2. Nhược điểm của DNNVV
- Thứ nhất: Hạn chế về vốn và khả năng huy động vốn. Nguồn vốn
hoạt động của các
DNNVV có thể được trông đợi từ nhiều con đường khác nhau
như từ nguồn tự có, từ người thân, bạn bè, vay từ các tổ chức tín dụng hay từ thị
trường chứng khoán, tuy nhiên, thường các DNNVV chưa đủ mạnh, đủ uy tín và
niềm tin để có thể được vay vốn ở các ngân hàng thương mại và huy động trên thị
trường chứng khoán. Vì thế, các DN chỉ có thể huy động vốn từ người thân hoặc từ
các thị trường phi chính thức để đáp ứng nhu cầu của mình, đây cũng là lý do chính
Những thay đổi về chính sách nhằm đặt khu vực DN này vào vị trí phù hợp nhất và
khẳng định tầm quan trọng của
nó trong nền kinh tế, xét một cách tổng quát, các
chính sách phát triển DNNVV của
Nhật Bản tập trung vào các mục tiêu chủ yếu:
thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của các DNNVV; tăng cường lợi ích kinh tế và
xã hội của các nhà doanh nghiệp và người lao động tại DNNVV; khắc phục những
bất lợi mà các DNNVV gặp phải và hỗ trợ tính tự lực của các DNNVV. Nhật Bản
cũng đã ban hành Luật cơ bản về DNNVV hỗ trợ cho việc cải cách cơ cấu để tăng
tính thích nghi của DNNVV với những thay đổi của môi trường kinh tế-xã hội, tạo
thuận lợi cho việc tái cơ cấu công ty và Luật hỗ trợ DNNVV đổi mới trong
kinh
doanh khuyến khích mạnh mẽ việc thành lập các doanh nghiệp mới, trợ giúp về
việc đổi mới
công nghệ.
Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng dành một sự chú ý đặc biệt với việc hỗ trợ tài
chính nhằm giúp các DNNVV tháo gỡ những khó khăn, cản trở việc tăng vốn trong
quá trình sản xuất kinh doanh như khả năng tiếp cận thấp, thiếu sự đảm bảo về vốn
vay Các biện pháp hỗ trợ này được thực hiện thông qua ba thể chế tài chính thuộc
19
Chính phủ: Công ty Đầu tư kinh doanh nhỏ, Ngân hàng Hợp tác Trung ương về
Thương mại & Công nghiệp và Công ty Đầu tư an toàn quốc gia. Các hỗ trợ trên
có thể dưới dạng các khoản cho vay thông thường với lãi suất cơ bản hoặc các
khoản vay đặc biệt với những ưu đãi theo các mục tiêu chính sách, trong đó phải
kể đến kế hoạch cho vay nhằm cải tiến quản lý của các doanh nghiệp nhỏ không
đòi hỏi phải có thế chấp hoặc bảo lãnh. Ngoài ra, Hiệp hội bảo lãnh tín dụng còn
thực hiện bảo lãnh cho các DNNVV vay vốn của các tổ chức tín dụng tư nhân trên
cơ sở hợp đồng bảo lãnh. Hệ thống bảo lãnh đặc biệt này có chức năng như một
mạng lưới an toàn, nhằm giảm nhẹ những rối loạn về tín dụng và góp phần làm giảm
các vụ phá sản của DNNVV.
những sáng kiến thúc đẩy phát triển DNNVV góp phần đưa Singapore trở thành một
trong bốn con rồng châu Á.
1.5.1.3. Đài Loan
Tại Đài Loan, các chính sách trợ giúp DNNVV của chính phủ đã khá đa dạng
và rất thành công mà kết quả cuối cùng là những đóng góp to lớn của khu vực
DNNVV trong quá trình phát triển nhanh chóng của đảo quốc này, toàn bộ hệ thống
chiến lược, chính sách kinh tế cũng như môi trường pháp lý của
Đài Loan luôn dành
những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của DNNVV.
Để hỗ trợ vốn cho
DNNVV, Bộ Tài chính Đài Loan quy định một tỷ lệ tài trợ nhất định cho các
DNNVV và tỷ lệ này có xu hướng tăng dần qua các năm. Đồng thời cũng lập ra ba
quỹ là: Quỹ phát triển, Quỹ SinoUS và Quỹ phát triển DNNVV nhằm tài trợ cho
các hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV thông qua các ngân hàng. Bên
cạnh đó, do nhận thức được khó khăn của DNNVV trong việc thế chấp tài sản vay
vốn ngân hàng, Đài Loan cũng đã thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV
theo nguyên tắc hoạt động của quỹ là cùng chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng,
dựa vào đây các tổ chức tín dụng ngày càng tin tưởng hơn vào việc tài trợ vốn vay
đối với các DNNVV.
Ngoài ra, Đài Loan còn áp dụng các biện pháp khác như
giảm lãi suất đối với những
khoản vay phục vụ mục đích mua sắm máy móc thiết
bị, đổi mới công nghệ, phát triển
sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh, mặt khác
còn mời các chuyên gia đến giúp các DNNVV tối ưu hóa cơ cấu vốn và tăng
cường các điều kiện vay vốn.
21
1.5.1.4. Hàn Quốc
Hiện nay, với nền kinh tế được đánh giá xếp loại thứ 11 trên thế giới, Hàn
Quốc có trên 3.5 triệu DNNVV, chiếm 98% tổng số DN và thu hút hơn 13 triệu lao
những tổ chức này cung cấp những dịch vụ hỗ trợ có hiệu quả, Chính phủ Hàn
Quốc đảm bảo cho họ được nhận 70% vốn vay ngân hàng.
Cuối cùng là chính sách khuyến khích thành lập DNNVV bằng cách đơn giản
hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ tài chính và cung cấp dịch vụ thông tin trong và
ngoài nước. Hàn Quốc lập quỹ hỗ trợ song phương với 50% của Chính phủ và 50%
là đóng góp của DN với các mục tiêu ngăn ngừa tình trạng phá sản có tính dây
chuyền của các DN nhỏ, giảm thiểu những ảnh hưởng xã hội có thể phát sinh, cung
cấp vốn theo yêu cầu của các tổ chức hợp tác nhằm thực hiện liên doanh mua và
bán, bảo tồn DN thông qua hỗ trợ song phương giữa các DN như xây dựng các
khu công nghiệp dành cho DNNVV mà Chính phủ hỗ trợ vốn chi xây dựng cơ sở
hạ tầng và DN trong khu công nghiệp sẽ được vay vốn với lãi suất thấp cho xây
dựng nhà xưởng và máy móc thiết bị. [8]
1.5.2. Bài học kinh nghiệm từ phát triển các DNNVV
Từ việc phát triển DNNVV ở các nước tiêu biểu trên, ta có thể thấy chính sách
hỗ trợ phát triển DNNVV là khác nhau ở mỗi nền kinh tế, tùy theo tình hình kinh
tế-xã hội mà các nền kinh tế sử dụng linh hoạt chính sách hỗ trợ để phát triển
DNNVV một cách hiệu quả. Tuy vậy, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm thiết
thực cho phát triển DNNVV Việt
Nam như sau:
-
Mục tiêu hỗ trợ các DNNVV đều nhằm vào việc trợ giúp
và tạo điều kiện
phát triển cho các DNNVV, giúp họ khai thác tốt hơn các tiềm năng kinh tế, đặc
biệt là các tiềm năng trong nước. Trước hết, hỗ trợ các doanh nghiệp phải có hiệu
quả, nghĩa là phải để tự doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, các
DN phải tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, vai trò nhà nước chỉ mang tính
chất hỗ trợ chứ không bao cấp.
23
- Đa số các quốc gia đều hỗ trợ thuế, vốn, tín dụng, công nghệ thông tin cho
DNNVV với các hình thức chính là cấp tín dụng trực tiếp, cho vay với lãi suất
• Phía Tây giáp quận 8 và huyện Bình Chánh: ranh giới là rạch Ông Lớn.
Về Tổ chức hành chính: Với tổng diện tích tự nhiên là 3576 ha, quận 7
phân chia thành 10 phường gồm: Phú Mỹ, Phú Thuận, Tân Phú, Tân Thuận Đông,
Bình Thuận, Tân Thuận Tây, Tân Kiểng, Tân Quy, Tân Phong và Tân Hưng.
Về Hệ thống giao thông: Tổng diện tích đường bộ trên địa bàn quận khoảng
38 ha, chiếm 1,86% diện tích tự nhiên. Trong đó các cầu Tân Thuận 1, Tân Thuận
2, Kinh tẻ và Rạch Ông kết nối giữa Quận 7 với nội thành, cầu Phú Mỹ nối liền
quận 7 và quận 2, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của quận 7 và khu
vực Nam Sài Gòn.
25
Hình 2.1: Bản đồ hành chính của Quận 7- Thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn: quan7.hochiminhcity.gov.vn