I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V TR HNG
THựC HIệN PHáP LUậT Về PHòNG, CHốNG THAM NHũNG LãNG PHí
TRONG LĩNH VựC ĐầU TƯ XÂY DựNG CƠ BảN Có Sử DụNG
NGÂN SáCH NHà NƯớC QUA THựC TIễN TỉNH BắC GIANG
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V TR HNG
THựC HIệN PHáP LUậT Về PHòNG, CHốNG THAM NHũNG LãNG PHí
TRONG LĩNH VựC ĐầU TƯ XÂY DựNG CƠ BảN Có Sử DụNG
NGÂN SáCH NHà NƯớC QUA THựC TIễN TỉNH BắC GIANG
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dõn khoa ho c: PGS.TS DNG C CHNH
H NI - 2017
1.3. Quá trình hình thành phát triển pháp luật phòng, chống tham nhũng
và luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay ...................................................................................................... 24
1.4. Thực hiện Pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong
đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước .......................... 27
Kết luận chương 1 ..................................................................................... 36
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG
CHỐNG, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC GIANG ............................................................................. 37
2.1. Khái quát tình hình đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân
sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2014-2016 ................ 37
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng
trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang .................................................................................... 40
2.3. Đánh giá chung ................................................................................... 46
Kết luận chương 2 ..................................................................................... 62
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƢ
XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
QUA THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG ...................................................... 63
3.1. Quan điểm định hướng hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham
nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách
nhà nước qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang ..................................................... 63
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật
phòng, chống tham nhũng lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có
sử dụng ngân sách nhà nước...................................................................... 67
THTK,CLP:
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
UBND:
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 30 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng
khích lệ. Để đạt được những thành tựu đó Nhà nước đã tiến hành đầu tư rất
nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật làm tiền đề đẩy mạnh sản xuất,
làm thay đổi cơ cấu kinh tế, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng
miền, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân.
Trong tổng số vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước thì đầu tư
xây dựng cơ bản chiếm một tỷ lệ lớn, đóng vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa
quyết định đến quy mô và chất lượng phát triển của cơ sở hạ tầng. Tuy
nhiên, theo đánh giá chung, lĩnh vực xây dựng cơ bản từ NSNN vẫn còn
nhiều khiếm khuyết, trong đó việc tham nhũng, thất thoát, lãng phí khi thực
hiện dự án dẫn đến hiệu quả đồng vốn đầu tư thấp là những vấn đề gây bất
bình trong xã hội.
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp,
là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cấp ủy, tổ chức đảng,
chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, đảng viên
cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả chủ trương, giải pháp phòng, chống
tham nhũng, lãng phí được xác định trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
bản phát triển cơ sở hạ tầng được Nhà nước ưu tiên phát triển và chiếm tỷ
trọng lớn từ nguồn Ngân sách nhà nước.
Để tháo gỡ các vấn đề đó, Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đã có
nhiều chủ trương, biện pháp nhằm hạn chế, khắc phục, phòng chống tham
nhũng, lãng phí nói chung và phòng chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư
XDCB từ nguồn vốn NSNN nói riêng. Tuy nhiên tình trạng tham nhũng, lãng
2
phí vẫn còn nghiêm trọng và thực tế cho thấy nước ta chưa có "liều thuốc đặc
trị" tệ nạn này. Chính vì thế nhiệm vụ cấp bách đặt ra là các cấp, các ngành,
các địa phương phải vào cuộc và phải có những giải pháp kiên quyết, mạnh
mẽ và đồng bộ thì mới có thể phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung
một cách hiệu quả.
Bắc Giang là một địa phương đang trong quá trình phát triển, ĐTXDCB
nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân với số
vốn đầu tư mỗi năm hàng trăm tỷ đồng, việc tổ chức thực hiện cũng không
tránh khỏi tình trạng gây thất thoát, tham nhũng lãng phí và chưa có giải pháp
hữu hiệu để khắc phục.
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về
phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
có sử dụng ngân sách Nhà nước qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang” làm luận
văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về phòng,
chống tham nhũng, lãng phí và giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí
trong ĐTXDCB tại các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn NSNN như cuốn
Quản lý tài chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng của tác giả Thái Bá Cẩn,
Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội năm 2003; Đề án chống thất thoát lãng phí
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư xây dựng cơ bản,
nhất là phòng, chống thất thoát, lãng phí và vi phạm trong đầu tư xây dựng
cơ bản nhưng chưa nhìn nhận dưới góc độ phòng, chống tham nhũng, lãng
phí vì việc gây thất thoát, vi phạm trong công tác ĐTXDCB đều để lại hậu
quả thiệt hại về kinh tế cho ngân sách nhà nước nhưng ít có xử lý về trách
nhiệm các tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc gây thiệt hại. Các đề tài
tập trung phân tích các giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây
4
dựng cơ bản có sử dụng NSNN, trên cơ sở thực trạng của các tỉnh Đắk Lắk,
Thanh Hóa, Quảng Ninh. Trong đó nhận diện các dấu hiệu của việc gây thất
thoát, lãng phí và đề ra các giải pháp và định hướng phòng, chống thất thoát
lãng phí trong đầu tư XDCB trên địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Thanh Hóa,
Quảng Ninh,... Những nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào việc xác định
nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí về kinh tế đối với các công trình
đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước và xác định hiệu quả
của công tác đầu tư xây dựng. Nội dung của một số nghiên cứu trên được
thực hiện từ trước những năm 2009, đến nay thì một số quy định về phòng
chống tham nhũng và các quy định liên quan đến xây dựng cơ bản có sự
thay đổi và cụ thể, rõ ràng hơn trong quy định. Những nghiên cứu này sẽ là
những tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả.
Thực tế cho thấy, tình trạng tham nhũng, thất thoát tài sản nhà nước
trong đầu tư xây dựng cơ bản đã xảy ra ở nhiều địa phương, làm tiêu huỷ các
nguồn lực, phá vỡ quy hoạch, kế hoạch phát triển quốc gia, cả quy hoạch, kế
hoạch phát triển vùng, lãnh thổ, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành kinh
tế kỹ thuật, tạo ra áp lực tài chính lớn cho việc thực hiện chính sách xã hội,
bảo đảm an sinh xã hội môi trường đầu tư. Chính vì vậy, cần phải nghiên
cứu một cách tổng thể về mặt lý luận và thực tiễn để đưa ra các giải pháp
tra trong lĩnh vực ĐTXDCB....
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về
phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực thi pháp luật về phòng, chống
tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện
pháp luật về phòng chống tham nhũng, lãng phí ở lĩnh vực ĐTXDCB trên địa
6
bàn tỉnh Bắc Giang trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, trên cơ sở đó
xác định quan điểm và đề ra các giải pháp đảm bảo việc thực hiện pháp luật
về phòng chống tham những, lãng phí trong ĐTXDCB của tỉnh Bắc Giang và
trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng
phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước
qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang
- Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về
phòng chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng
ngân sách Nhà nước ở tỉnh Bắc Giang.
- Về thời gian trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, về xây dựng Nhà nước pháp
chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN qua thực tiễn
tỉnh Bắc Giang.
8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1. Vấn đề chung về tham nhũng, lãng phí
1.1.1. Khái niệm về tham nhũng, lãng phí
1.1.1.1. Khái niệm về tham nhũng
Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người
nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi
dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Theo Từ
điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân
dân lấy của [16]. Ngân hàng phát triển Châu Á đưa ra hai định nghĩa về
tham nhũng, định nghĩa thứ nhất “sự lạm dụng quyền lực công hoặc tư để
thu lợi riêng”, định nghĩa thứ hai có nội dung toàn diện hơn, xác định tham
nhũng là “hành động lạm dụng chức vụ để làm giàu bất chính hoặc bất
hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận
nhân viên ở cả khu vực công và khu vực tư hoặc để tạo cơ hội cho những
kẻ khác làm như vậy” [1, tr.33].
Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định
(tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi
của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì
vụ lợi [11, Điều 2]. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những
người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị;
nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn,
tài sản của Nhà nước. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống
thống qua các biện pháp công khai, minh bạch trong thực thi công vụ; xử lý
nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi tham nhũng...
Do đó phòng, chống tham nhũng là các biện pháp mà nhà nước áp
10
dụng phòng ngừa, ngăn chặn sự phát sinh các hành vi tham nhũng, phát hiện
được và xử lý các hành vi tham nhũng.
Do tính chất phổ biến của tham nhũng, đấu tranh phòng, chống tham
nhũng từ lâu đã là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà nước trên thế
giới. Tất cả các nhà nước trên thế giới, bất luận theo thể chế chính trị nào đều
đã và đang tuyên chiến chống tham nhũng, bởi đơn giản tham nhũng phá hoại
uy tín và đe dọa sự tồn vong của nhà nước. Trong các quy định của pháp luật
do nhà nước ban hành, trong đó có luật về phòng, chống tham nhũng.
Pháp luật về phòng chống tham nhũng đó là tổng thể các quy phạm
pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm xác định
các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng.
1.1.1.2. Khái niệm về lãng phí
Theo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013, [9, Điều 3] Điều
3 qui định:
Lãng phí là việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản, lao động, thời
gian lao động và tài nguyên không hiệu quả. Đối với lĩnh vực đã
có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà
nước, vốn nhà nước, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động
trong khu vực nhà nước và tài nguyên vượt định mức, tiêu chuẩn,
chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định.
1.1.2. Khái niệm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng
ngân sách nhà nước
một nhóm vấn đề về đầu tư xây dựng cơ bản được quy định trong Nghị quyết
riêng của Quốc hội [11]. Do đầu tư xây dựng cơ bản là một đặc thù nên Luật
Đầu tư được coi là luật gốc vì quy định về khái niệm đầu tư; tuy nhiên, do
tính đa dạng của xây dựng cơ bản, các văn bản pháp luật khác lại thể hiện các
quan điểm, biện pháp đầu tư, cách thức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà
12
nước mỗi loại hình theo mỗi lĩnh vực đầu tư khác nhau, nó có mối quan hệ
ràng buộc, liên kết chặt chẽ với nhau.
- Đặc điểm về nội dung: Pháp luật trong ĐTXDCB là những quy tắc
hành vi cho các chủ thể tham gia vào việc ĐTXDCB, ngoài ra còn bao gồm
các nguyên tắc, các chủ trương, chính sách, kế hoạch ĐTXDCB của từng
ngành, từng lĩnh vực, từng địa địa phương. Có thể chia thành hai nhóm nội
dung chính là: Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTXDCB
và các quy định về quy trình thủ tục thực hiện các hoạt động nghiệp vụ liên
quan đến đầu tư XDCB.
Các nội dung cụ thể của pháp luật gồm: Nguyên tắc đầu tư; hình thức
thực hiện; các yêu cầu, điều kiện tiêu chí xác định đầu tư xây dựng công trình
có sử dụng ngân sách nhà nước; quyền và nghĩa vụ các bên, thủ tục thực hiện;
các quy định về tổ chức bộ máy, nhân sự; về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm trong hoạt động ĐTXDCB. Các nội dung của pháp luật trong ĐTXDCB
là nhằm đảm bảo cho các công trình đầu tư xây dựng được tiến hành đúng
trình tự, thủ tục, có hiệu quả và phát huy mục đích sử dụng của công trình xây
dựng, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật cũng như các biểu hiện
tham nhũng, lãng phí, thất thoát.
- Đặc điểm về phạm vi tác động, đối tượng điều chỉnh: Pháp luật trong
ĐTXDCB tác động đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cộng đồng và cá
nhân sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng
- Trách nhiệm hành chính: Được xác định khi vi phạm thủ tục và trình
tự đầu tư xây dựng, các quy định của quy hoạch đô thị, luật đất đai, đền bù
giải phóng mặt bằng, tái định cư, bảo vệ môi trường, quy tắc đấu thầu, cấp sai
hoặc gian dối tư cách hành nghề, chuyển nhượng hợp đồng kinh tế khi chưa
được phép, tự ý thay đổi nội dung thiết kế chưa gây hậu quả nghiêm trọng,
đưa nhận hối lộ chưa thành, vi phạm các quy tắc bảo đảm chất lượng thi công,
an toàn lao động, phòng cháy nổ chưa gây hậu quả, trốn thuế, cạnh tranh
không lành mạnh...
14
- Trách nhiệm dân sự được xác định khi vi phạm nghĩa vụ trong hợp
đồng tư vấn, khảo sát thiết kế, giao nhận thầu, cung ứng, không bồi thường
thiệt hại do mình gây ra cho các đối tác trong hợp đồng, những người khác
trong khu vực lân cận công trường, không tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng,
an toàn lao động, phòng cháy nổ gây hậu quả lớn,…
- Trách nhiệm hình sự: Được xác định khi các chủ thể tham gia hoạt
động đầu tư xây dựng thực hiện các hành vi như: Tham nhũng, hối lộ, để chất
lượng công trình kém, thiếu an toàn lao động và phòng cháy nổ gây hậu quả
nghiêm trọng, lừa đảo, gian dối trong thanh toán, nghiệm thu, bàn giao công
trình gây thiệt hại …
- Trách nhiệm công vụ được xác định khi các cơ quan công quyền và
công chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính sai lầm, trái luật, gây
thiệt hại cho công dân hay tổ chức như cấp phép sai, định giá đền bù sai…
- Trách nhiệm kỷ luật được xác định với công chức, viên chức vi phạm
các quy tắc lao động, phân công lao động, kỷ luật công vụ… gây cản trở hoạt
động bình thường của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp.
1.1.3. Khái niệm lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng
ngân sách nhà nước
liêu. Cách mạng không thể thành công hoàn toàn nếu vẫn còn tham ô,
lãng phí. Vì vậy, chống tham ô, lãng phí là một nội dung, nhiệm vụ quan
trọng của cách mạng.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền lực thuộc về
nhân dân. Tất cả tài sản là của nhân dân. Nhân dân đóng góp mồ hôi xương
máu, tiền của cho công cuộc kháng chiến, xây dựng đất nước. Vì vậy, bảo vệ
tài sản công, chống tham ô, lãng phí là bảo vệ tài sản của nhân dân, bảo vệ
quyền dân chủ của nhân dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "phong trào chống tham
ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành
công"[6, tr.494, tr.495]. Dân chủ tức là nhân dân làm chủ. Cán bộ là người
16
được giao quản lý tài sản để thực hiện các nhiệm vụ do nhân dân giao phó.
Vì vậy, nhân dân có quyền và nghĩa vụ giám sát, phê bình cán bộ, đấu tranh
chống mọi biểu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí. Sự tham gia của quần
chúng quyết định sự thành công của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham
ô, lãng phí. Quần chúng tham gia tích cực, đông đảo thì cuộc đấu tranh càng
mang lại hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: "Quần chúng tham gia
càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng"[6, tr.490, tr.495].
Tham nhũng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực
công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch
công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo
và phát triển đất nước, xã hội. Công tác phòng, chống tham nhũng được
Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp
bách vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài.
Thời gian qua, cùng với những thành tựu quan trọng đạt được về kinh
tế - xã hội, đối ngoại, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã
hội, công tác PCTN, lãng phí có nhiều chuyển biến tích cực cả về phòng
nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
Luật Đầu tư xác định: “Đầu tư là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh
doanh để thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh; mở rộng qui mô, nâng cao
năng lực sản xuất; nghiên cứu phát triển; đổi mới công nghệ” [8, Điều 3].
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài
nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián
tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật
của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của
ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng. Hoạt động đầu tư bao gồm đầu
tư trực tiếp và gián tiếp.
Luật Đầu tư công ban hành năm 2014, xác định đầu tư công là hoạt
18
động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội.
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là
việc chủ kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế, xã hội. Xây dựng cơ bản là việc tiến hành tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức
sản xuất ở các ngành kinh tế thông qua việc xây dựng mới, xây dựng mở
rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định [10].
Đầu tư XDCB có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo
hoạt động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển. Thực tế lịch sử
đã cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có cơ
sở vật chất - kỹ thuật tương ứng. Việc đảm bảo tính tương ứng đó chính là
nhiệm vụ của đầu tư XDCB.