I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
LNG BCH THY
PHáP LUậT Về QUảN TRị CÔNG TY Cổ PHầN VIệT NAM
DƯớI GóC NHìN SO SáNH VớI CáC NGUYÊN TắC
QUảN TRị CÔNG TY CủA OECD
LUN VN THC S LUT HC
HA NễI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
LNG BCH THY
PHáP LUậT Về QUảN TRị CÔNG TY Cổ PHầN VIệT NAM
DƯớI GóC NHìN SO SáNH VớI CáC NGUYÊN TắC
QUảN TRị CÔNG TY CủA OECD
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. PHAN TH THANH THY
HA NễI - 2018
1.1.3. Ý nghĩa của quản trị công ty............................................................... 12
1.1.4. Tầm quan trọng của việc quản trị công ty cổ phần ............................ 13
1.2.
Các công cụ quản trị công ty ........................................................... 15
1.2.1. Các quy định của pháp luật ................................................................ 15
1.2.2. Các văn bản quản trị nội bộ ................................................................ 16
1.2.3
Các công cụ khác ................................................................................ 17
1.3.
Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD .................................. 17
1.3.1. Các nguyên tắc quản trị công ty và ý nghĩa của các nguyên tắc
quản trị công ty ................................................................................... 17
1.3.2. Tầm quan trọng của việc tiếp thu các nguyên tắc quản trị công ty
trong các quy định của pháp luật về quản trị công ty Việt Nam ........ 18
1.3.3. Nội dung cơ bản các nguyên tắc quản trị công ty của OECD ............ 19
1.3.4. Những yêu cầu cần đáp ứng để tiếp thu Bộ nguyên tắc quản trị
công ty của OECD .............................................................................. 30
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 32
Chƣơng 2: ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ
CÔNG TY CỦA OECD TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN
TRỊ CÔNG TY VIỆT NAM ............................................................ 33
2.1.
CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM ................................................. 69
3.1.
Những kiến nghị liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam dựa trên Bộ
nguyên tắc quản trị công ty của OECD.......................................... 69
3.1.1. Ban hành Quy chế quản trị công ty theo hướng áp dụng nguyên tắc
tuân thủ hoặc giải trình ........................................................................ 69
3.1.2. Bổ sung các quy định nhằm hỗ trợ cổ đông thực hiện quyền tham
gia vào quản trị công ty ...................................................................... 70
3.1.3. Bổ sung các quy định nhằm tăng cường vai trò của các bên liên
quan đến quản trị công ty cổ phần ....................................................... 71
3.1.4. Bổ sung yêu cầu công bố thông tin .................................................... 72
3.2.
Kiến nghị về việc nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp
luật về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam .............................. 72
3.2.1. Tạo khung pháp lý cho những báo cáo khảo sát đánh giá tổng
quan và công khai kết quả .................................................................. 72
3.2.2. Nâng cao hiệu quả của việc giám sát, xử phạt và giải quyết
những tranh chấp liên quan đến quản trị công ty cổ phần.................. 73
3.3.
Kết luận ............................................................................................. 74
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
1
cứu đặc thù cũng như đánh giá điều kiện thực tế của hệ thống pháp luật Việt
Nam để có định hướng phù hợp cho việc xây dựng quy định về quản trị công
ty là cần thiết. Hơn nữa, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, việc quản trị công
ty mới chỉ được chú trọng và xiết chặt đối với công ty niêm yết và công ty
đại chúng, trong khi thị trường chứng khoán tại Việt Nam chưa thực sự phát
triển và chỉ chiếm một phần nhỏ trong số các công ty cổ phần được thành lập.
Do vậy, việc quản trị đối với các công ty cổ phần thông thường vẫn chỉ phụ
thuộc vào quy định của Luật doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn nói trên,
người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về quản trị công ty cổ phần Việt Nam
dưới góc nhìn so sánh với các nguyên tắc quản trị công ty của OECD”, trong
đó nghiên cứu việc quản trị công ty cổ phần thông thường theo Luật doanh
nghiệp Việt Nam để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, người viết đã tìm hiểu sơ bộ về
một số tài liệu có thể sử dụng để tham khảo như sau:
- “Báo cáo về tình hình tuân thủ các tiêu chuẩn và chuẩn mực (ROSC)”
của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế
- Báo cáo đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam của Ngân
hàng thế giới World Bank;
- Cẩm nang quản trị công ty do Tổ chức tài chính quốc tế (IFC) phối
hợp với UBCKNN phát hành;
- Sách: “LDN bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiễn” (2011) của TS.
Bùi Xuân Hải. Cuốn sách này tập trung phân tích làm rõ thực trạng pháp luật
về quyền của cổ đông, cách thức và biện pháp bảo vệ cổ đông công ty cổ phần
trên cơ sở có so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra
kiến nghị sửa đổi, bổ sung LDN năm 2005 nhằm tăng cường bảo vệ cổ đông
công ty cổ phần .
3
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu khái quát
Người viết mong muốn có thể đi sâu vào nghiên cứu những nguyên tắc
quản trị công ty của OECD áp dụng đối với công ty cổ phần theo Luật Doanh
nghiệp 2014 cũng như so sánh với các luật Doanh nghiệp được ban hành
trước đó để thấy được sự ảnh của các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
đối với loại hình công ty này
3.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu của Luận văn là nhằm nghiên cứu, so sánh những nguyên tắc
mang tính khuyến nghị về quản trị công ty mà OECD đã ban hành với những
nguyên tắc, quy định về quản trị công ty hiện có trong pháp luật về quản trị
công ty Việt Nam, cụ thể là các bộ Luật Doanh nghiệp đã được ban hành để
tìm ra những điểm tương đồng và những điểm mà các bộ Luật này đã tiếp thu,
tiếp thu nhưng chưa đầy đủ, hoặc chưa tiếp thu, để tìm ra hướng phát triển của
pháp luật Việt Nam về quản trị công ty từ trước đến nay và đưa ra hướng
hoàn thiện, bổ sung vào pháp luật Việt Nam về quản trị công ty.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn chỉ tập trung vào chủ yếu vào nghiên
cứu ảnh hưởng của các nguyên tắc quản trị công ty của OECD đối với pháp
luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam dưới góc nhìn so sánh với các
quy định của pháp luật liên quan đến quản trị công ty kể từ thời điểm luật
doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, Luận văn có phân tích các quy định của pháp
luật về quản trị công ty cổ phần Việt Nam trước đó để phục vụ cho mục đích
nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn sẽ bao gồm các nguyên
tắc quản trị công ty của OECD và các quy định của Luật Doanh nghiệp
các loại hình doanh nghiệp khác, nếu như có thể dung hòa được những sự
khác biệt giữa mô hình công ty và những đặc thù khác của hệ thống pháp
luật và nền kinh tế Việt Nam. Chính vì vậy, người viết mong muốn có thể
đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh này thông qua việc nghiên cứu để tìm ra
những khoảng cách, xung đột giữa Bộ nguyên tắc quản trị công ty của
5
OECD và pháp luật về quản trị công ty của Việt Nam, nguyên nhân của các
hạn chế này và những giải pháp khắc phục.
6. Kết cấu luận văn
Kết cấu Luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị công ty và nguyên
tắc quản trị công ty
- Chương 2: Ảnh hưởng của các nguyên tắc quản trị công ty của OECD
trong pháp luật về quản trị công ty Việt Nam
-
Chương 3: Các kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về quản trị công ty cổ phần Việt Nam
Trong chương 1, người viết tập trung vào phân tích làm rõ những vấn
đề cơ bản về quản trị công ty, bao gồm những định nghĩa, ý nghĩa của quản trị
công ty nói chung, quản trị công ty cổ phần nói riêng, đồng thời nêu những
khái niệm cơ bản về nguyên tắc quản trị công ty. Chương 1 của Luận văn
cũng giới thiệu sơ bộ về nhu cầu cần thiết phải tiếp thu những nguyên tắc
quản trị công ty, cũng như giới thiệu về bộ Nguyên tắc quản trị công ty của
OECD, như một nguồn tham khảo quan trọng đối với việc xây dựng hệ thống
quản trị công ty.
tượng khác nhau.
Một số định nghĩa tiêu biểu về “quản trị công ty” có thể tham khảo như
định nghĩa của Sternbeg (1998) như sau: “quản trị công ty mô tả những cách
thức để bảo đảm rằng những hoạt động, tài sản và đại diện của doanh nghiệp
được điều hành nhằm đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp do cổ đông
công ty đề ra”. Định nghĩa này được đưa ra với định hướng chỉ nhấn mạnh
vào khía cạnh bảo vệ quyền lợi của cổ đông và cho rằng mục tiêu của doanh
nghiệp chủ yếu do cổ đông công ty đề ra chứ không có yếu tố tác động từ bên
thứ ba bên ngoài công ty.
Một định nghĩa khác đáng chú ý là định nghĩa về quản trị công ty của
Shleifer và Vishny (1997). Định nghĩa này đã mở rộng hơn so với định nghĩa
truyền thống bó hẹp về quản trị công ty cổ phần chỉ đơn thuần có ý nghĩa theo
góc nhìn của cổ đông, mà còn mở rộng ra những ảnh hưởng của các chủ nợ
khác. Định nghĩa này nhấn mạnh vào việc những người có tham gia vào việc
tạo dựng nên nguồn vốn hay cung cấp một phần vốn cho hoạt động của công
ty cũng có được một sự đảm bảo nhất định rằng ngoài lợi ích của cổ đông, lợi
ích của các chủ nợ cũng được để tâm và các chủ nợ cũng có khả năng tác
8
động vào hoạt động quản trị công ty để chắc chắn cho phần tài sản họ đã bỏ ra
có thể thu hồi, và có thể có thêm lợi nhuận [18].
Những lý thuyết về quản trị công ty (corporate governance) hầu hết đều
gắn liền với các ý niệm về phân chia quyền lực, về đại diện, và mục đích của
quản trị công ty tốt [19].
Hiện nay, một trong những định nghĩa xuất hiện trong nền kinh tế hiện
đại và được sử dụng rộng rãi nhất tại các nền kinh tế phát triển và một số nền
kinh tế đang phát triển là định nghĩa quản trị công ty của OECD, được đưa ra
trong Bộ nguyên tắc quản trị công ty sửa đổi vào năm 2004. Theo OECD:
Theo quy định pháp luật Việt Nam, pháp luật doanh nghiệp không đưa
ra một định nghĩa chính xác về quản trị công ty, mà giải thích khái niệm
“quản trị công ty” là một “hệ thống những nguyên tắc” để nhằm đảm bảo
những yêu cầu của pháp luật đối với hoạt động công ty . Những yêu cầu của
pháp luật đưa ra có liên quan đến cổ đông, những người liên quan, Hội đồng
Quản trị, Ban kiểm soát.
Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau đến quản trị công ty nhưng
túm chung lại có thể thấy rằng các định nghĩa đều hướng tới việc coi “quản trị
công ty” đồng nghĩa với việc đặt ra những yêu cầu, những quy trình, những
thủ tục, những điều kiện mà những người quản lý, quản trị công ty phải tuân
thủ theo, nhằm giúp cho việc hoạt động của công ty đi đúng hướng và đạt
được những yêu cầu kỳ vọng từ cổ đông và những người liên quan. Từ những
kết luận này, có thể đưa ra một khái niệm về quản trị công ty như sau: “Quản
trị công ty là một hệ thống các quy tắc và cơ chế nhằm định hướng, vận
hành và kiểm soát công ty, được thực hiện dựa trên những nguyên tắc cụ
thể để có thể đáp ứng những yêu cầu và bảo đảm lợi ích của những bên có
liên quan”.
Hệ thống quy tắc và cơ chế mà quản trị công ty đặt ra được thể hiện ở
việc thiết lập mô hình quản trị, cùng với việc phân công quyền và nghĩa vụ
10
của từng yếu tố cấu thành mô hình quản trị, cũng như đặt ra cách thức vận
hành đối với các bộ phận đó. Khi bộ phận làm nhiệm vụ quản trị công ty thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, các quy tắc, cơ chế do hệ thống quản trị
công ty đặt ra giúp việc điều hành công ty được đúng hướng, và nằm trong
giới hạn cho phép để nhằm hạn chế tối đa rủi ro, cũng như tạo điều kiện cho
chủ sở hữu công ty kiểm soát hoạt động. công ty muốn hoạt động hiệu quả
và thỏa mãn được những yêu cầu cũng như bảo đảm lợi ích của cổ đông và
trị công ty cổ phần. Theo lý thuyết cơ bản, quản trị công ty cổ phần nhất thiết
phải có 3 nội dung chính:
- Thứ nhất, chú trọng vào việc xây dựng các cơ chế bảo đảm quyền lợi
cho các cổ đông và những bên có liên quan.
- Thứ hai, xây dựng bộ máy thực hiện những cơ chế nói trên, thông
qua tổ chức bộ máy quản trị công ty. Cơ cấu quản trị của công ty đều bao gồm
những thành phần độc lập để kiểm soát và kiềm chế quyền lực cũng như kiểm
tra giám sát lẫn nhau, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các cổ đông. Những
người tham gia vào quản trị công ty phải chịu trách nhiệm trước các cổ đông
về hiệu quả hoạt động của mình.
- Thứ ba, hướng tới việc cân bằng giữa lợi ích của công ty và các bên
có quyền và lợi ích liên quan.
1.1.3. Ý nghĩa của quản trị công ty
Việc quản trị công ty có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc duy trì
hoạt động của công ty một cách hiệu quả, cũng như tạo được niềm tin cho cổ
đông và các bên liên quan đối với hoạt động của công ty . Khi mà việc điều
hành của công ty được thực hiện thông qua một thiết chế đại diện chứ các
chủ sở hữu không thể đồng thời tham gia vào việc quản trị, ra quyết định cho
các hoạt động của công ty , thì việc biết rõ quá trình quản trị đó được thực
hiện như thế nào, đồng thời có những cơ chế giám sát hiệu quả là vô cùng
12
quan trọng. Dựa trên những quy định, quy tắc đã được đặt ra trong việc quản
trị công ty, cổ đông và các bên liên quan dễ dàng nhìn thấy được liệu công ty
có đang hoạt động theo định hướng nhằm phục vụ lợi ích cho các cổ đông hay
không, công ty có đang phát triển theo hướng bền vững hay không, mục tiêu
bảo toàn và tạo lợi nhuận cho các khoản đầu tư của cổ đông có được bảo đảm
hay không. Khi có bất cứ vấn đề bất thường xảy ra, những quy tắc về việc
quản trị công ty có thể giúp xử lý những tình huống đó mà không gây ra quá
rất nhiều nhất so với các loại hình công ty khác. Đồng thời do tính chất
chuyển đổi linh hoạt quyền sở hữu cổ phần, các cổ đông công ty có thể thay
đổi liên tục và không cố định qua thời gian.
Thứ hai, sự chênh lệch giữa các cổ đông có thể gây ra nhiều bất đồng
trong việc quản trị. Trong cùng một công ty cổ phần có thể có rất nhiều loại
cổ đông với tỉ lệ vốn khác nhau cũng như độ tuổi, trình độ, kinh nghiệm hoàn
toàn khác nhau. Vì vậy, đối với cùng một vấn đề, các cổ đông có thể có rất
nhiều cách hiểu và quyết định hoàn toàn trái ngược nhau. Chính vì vậy, khi
một vấn đề của công ty được đưa ra để thảo luận, sẽ có rất nhiều ý kiến trái
chiều và nếu cân nhắc toàn bộ những ý kiến đó, sẽ dễ dẫn tới những tình
huống bế tắc khi không thể thống nhất đưa ra quyết định cũng như không thể
thực hiện được đúng kế hoạch đề ra.
Thứ ba, việc quản trị công ty cổ phần được thực hiện thông qua các
đại diện, cụ thể là thông qua Hội đồng Quản trị. Nhằm giải quyết được việc
các cổ đông không thể trực tiếp tham gia vào việc hoạt động của công ty ,
thiết chế Hội đồng Quản trị sẽ thay mặt các cổ đông thực hiện các quyết định
của Đại hội đồng cổ đông. Do vậy, kiểm soát hoạt động của thiết chế đại diện
này cũng là một trong những chủ đề cần được quan tâm.
Một công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản không chỉ gây thiệt hại
cho các cổ đông công ty mà còn ảnh hưởng tới những bên liên quan, ảnh
14
hưởng đến nền kinh tế nói chung. Việc một công ty cổ phần phá sản có thể
dẫn đến việc thiệt hại khoản tiền đã đầu tư của các cổ đông, cũng như khiến
cho các chủ nợ không thể thu hồi lại phần tài sản mà họ đã sử dụng để giao
dịch với công ty cổ phần đó, cũng như người lao động có thể mất việc, dẫn
tới gia tăng tỉ lệ thất nghiệp.
Do tính chất phức tạp của hình thức công ty cổ phần , việc quản trị
đổi theo từng thời kỳ dựa trên những nhu cầu thay đổi của nền kinh tế, cùng
với những văn bản hướng dẫn thi hành và các quy định mẫu, điều lệ mẫu, quy
định về quản trị công ty.
1.2.2. Các văn bản quản trị nội bộ
Khi mà những quy định pháp luật được đặt ra với mục đích định hướng
chung, và không thể bao quát toàn bộ từng chi tiết để áp dụng đối với từng
công ty với những đặc thù riêng, thì những văn bản quản trị nội bộ trong
công ty là vô cùng cần thiết. Những văn bản này là văn bản do chính công ty
tự xây dựng, căn cứ vào những vấn đề cụ thể cần chú trọng đối với từng công
ty . Có thể lấy ví dụ như quy định pháp luật về quản trị công ty chỉ đưa ra yếu
tố giá trị của giao dịch làm căn cứ xác định thẩm quyền quyết định, tuy nhiên
đối với những ngành nghề đặc thù, ngoài giá trị giao dịch, còn có những vấn
đề khác cần cân nhắc (ví dụ như nội dung giao dịch có phù hợp hay không,
đối tượng giao dịch có hợp pháp hay không, đối tác có đáng tin cậy hay
không, giao dịch có thể ảnh hưởng tới uy tín của công ty hay không, có rủi ro
hay không, v.v), nhưng quy định pháp luật không đề cập tới những tiêu chí
này. Như vậy, nội bộ công ty cần có những quy định riêng, thể hiện trong các
văn bản về quản trị công ty để kiểm soát những vấn đề cụ thể.
Việc có những văn bản nội bộ về quản trị công ty là vô cùng cần thiết,
thể hiện sự quan tâm đúng đắn của cổ đông và những người quản lý của công
ty đối với việc quản trị công ty và thực sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động
của công ty , kiểm soát rủi ro và tạo niềm tin với các đối tác.
16
1.2.3 Các công cụ khác
Bên cạnh những công cụ đã nói ở trên, còn rất nhiều các loại công cụ
khác không chỉ thể hiện ở mặt hình thức mà còn thể hiện ở mặt nội dung như
quy tắc đạo đức kinh doanh, tập quán thương mại, các quy định của thị
tắc này bắt buộc phải là những nguyên tắc mang tính khái quát để có thể áp
dụng linh hoạt trong nhiều trường hợp, đối với đặc thù của từng loại công ty ,
nhằm đảm bảo tính khách quan của từng nguyên tắc mà không bị cứng nhắc,
thiên lệch, hoặc không hợp lý.
Nếu không có những nguyên tắc này, việc đặt ra những quy định về
quản trị công ty sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhận thức chủ quan của nhà làm luật,
cũng như phong tục tập quán, thói quen của từng quốc gia khi xây dựng quy
định pháp luật liên quan, và tương tự như vậy đối với những công cụ nội bộ
về quản trị công ty, dẫn đến tình trạng thực hiện quản trị công ty theo cách
nghĩ chủ quan, không lường trước được những rủi ro chưa được biết đến và
không có biện pháp thích hợp để ngăn ngừa, cũng như dẫn đến những bất
đồng khi quyết định các vấn đề của công ty .
1.3.2. Tầm quan trọng của việc tiếp thu các nguyên tắc quản trị công
ty trong các quy định của pháp luật về quản trị công ty Việt Nam
Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD không phải là quy định của
pháp luật, không có tính bắt buộc nhưng là những tư tưởng chỉ đạo về những
khuôn mẫu và cách thức quản trị công ty hiệu quả được đúc rút từ các thông
lệ về quản trị công ty tốt ở những nước tiến tiến, do do có giá trị khuyến cáo
và tham khảo rất tốt đối với quản trị công ty cổ phần tất cả các nước. Do vậy
việc tiếp thu các nguyên tắc quản trị công ty, đặc biệt đối với những quốc gia
đang phát triển, là vô cùng quan trọng. Các nguyên tắc quản trị công ty trên
thế giới hầu hết đều được đúc rút từ kinh nghiệm thực tế kinh doanh của các
nước phát triển, trải qua các thời kỳ biến động, đồng thời cũng được thử
nghiệm qua thời gian dài và chứng tỏ được hiệu quả trong việc quản trị công
18
ty tại các nước đó. Do vậy, việc tiếp thu những nguyên tắc quản trị công ty
trong quy định pháp luật có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu và tìm hiểu