Nghiên cứu vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã Kim Phú huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƢƠNG THỊ LÊ HUẾ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA NGƢỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ KIM PHÚ, HUYỆN YÊN SƠN,
TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học

: Chính quy
: Kinh tế nông nghiệp
: Kinh tế và PTNT
: 2011 - 2015

Thái Nguyên, 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƢƠNG THỊ LÊ HUẾ

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA NGƢỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG

Em xin chân thành cám ơn các Thầy cô trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên đã dạy cho em những kiến thức, cách nghiên cứu, giúp em hiểu
và hoàn thành đề tài khóa luận với khả năng của mình. Đặc biệt em xin chân
thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Dƣơng Văn Sơn người đã nhiệt
tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình viết khóa luận. Đồng
thời em xin chân thành cám ơn các cán bộ, các phòng ban của UBND xã
Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận này.
Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên mặc dù bản thân em
đã cố gắng hết sức nhưng không tránh khỏi những thiếu xót. Vì vậy em rất
mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các
bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày 16 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Lương Thị Lê Huế


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất .................................................................... 23
Bảng 4.2. Phân loại kinh tế hộ điều tra theo thôn ........................................... 29
Bảng 4.3. Phân loại kinh tế hộ điều tra theo ngành nghề ................................ 30
Bảng 4.4. Tổng hợp ý kiến về khó khăn trong lao động phân theo kinh tế hộ.... 31
Bảng 4.5. Lý do khó khăn của hộ .................................................................... 31
Bảng 4.6. Đánh giá mức độ hiểu biết của người dân về mô hình nông thôn mới ... 32
Bảng 4.7. Đánh giá của hộ về mức độ trao đổi thông tin trong xây dựng nông
thôn mới tại địa phương phân theo kinh tế hộ ................................. 33
Bảng 4.8. Thái độ tham gia của người dân vào xây dựng mô hình nông thôn


BHYT

Bảo hiểm xã hội

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

HTX

Hợp tác xã

HTX NLN

Hợp tác xã nông lâm nghiệp

NTM

Nông thôn mới

UBND

Ủy ban nhân dân

XD

Xây dựng

XD NTM

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 22
4.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu ........................... 22


vi

4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 22
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 25
4.2. Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn nghiên cứu .............................................................................. 29
4.2.1. Thông tin các hộ điều tra....................................................................... 29
4.2.2. Sự hiểu biết của người dân trong xây dựng mô hình nông thôn mới tại
địa phương .......................................................................................... 32
4.2.3. Sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới .................... 36
4.4. Phân tích SWOT: Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức của
người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới ..... 47
PHẦN 5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƢỜI DÂN
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI.................................... 48
5.1. Quan điểm – Phương hướng – Mục tiêu .................................................. 48
5.1.1. Quan điểm của nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng NTM 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 1


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là những vấn đề được quan
tâm ở tất cả các quốc gia, nhất là những quốc gia đã và đang đẩy mạnh tiến

triển; chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp... Để xây dựng
một nông thôn mới bền vững và phát triển, cần phải chú trọng đến việc nâng
cao năng lực cho cộng đồng người dân ở nông thôn, đặc biệt là quan tâm đến
phát huy vai trò của nông dân.
Phát huy vai trò nông dân là thực hiện đồng bộ, có hệ thống các biện pháp
về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… nhằm khơi dậy, sử dụng và phát huy
tiềm năng trong nông dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và tình hình trên,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu vai trò của người dân trong xây
dựng nông thôn mới tại xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”.
1.2. Mục tiêu chung
Đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại xã
Kim phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Trên cơ sở đó đề xuất biện pháp
để nâng cao vai trò của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới
1.3. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá sự hiểu biết và nhận thức của người dân trong xây dựng
nông thôn mới.
- Đánh giá sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá những khó khăn, thuận lợi của người dân khi tham gia xây
dựng nông thôn mới.


3

- Đề xuất một số giải pháp trong nâng cao vai trò của người dân trong
xây dựng nông thôn mới.
1.4. Ý nghiã của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Quá trình thực hiện này sẽ nâng cao nhận thức, sự hiểu biết và năng lực

nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn. Có
nhiều quan điểm khác nhau. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam có thể hiểu:
“ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông
dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã
hội và môi trường trong một thể chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của
các tổ chức khác.[2]
* Khái niệm nông thôn mới
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người
dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và
thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ


5

tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết
hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức
mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính
trị và trật tự xã hội.
* Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã

công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của
cộng đồng người dân được hưởng lợi.
- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của
nông dân trên địa bàn như: Bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư
xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức
khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và định
mức chi tiêu các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,…trong nội bộ
cộng đồng dân cư hưởng lợi.
- Dân làm: Chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các
hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt
động của nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những
công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và duy trì bảo dưỡng, từ
những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu
nhập cho người dân, ngoài ra dân còn đóng góp công. Hình thức đóng góp có
thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ.


7

- Dân kiểm tra: dân kiểm tra mọi vấn đề, công việc đề ra, là biểu hiện
cao nhất của tinh thần “Dân chủ”. Từ chủ trương của Nhà nước đưa ra xây
dựng cơ sở hạ tầng; hoặc như việc cấp đất cấp vốn cho một đơn vị, cho đến
hiệu quả đích thực của vấn đề đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng,
các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công
trình các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương
thức quản lý tài chính,…đều phải được dân kiểm tra, chất vấn theo dõi, giám
sát đến nơi đến chốn, trên tinh thần “ Dĩ công vi thượng”.
- Dân hưởng lợi: dân được hưởng những gì dân làm, dân đóng góp
trong xây dựng nông thôn mới.

(1). Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
(2). Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
(3). Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
(4). Giảm nghèo và an sinh xã hội
(5). Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
nông thôn
(6). Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
(7). Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
(8). Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
(9). Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
(10). Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính
trị - xã hội trên địa bàn
(11). Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
b) Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới
Trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng NTM hiện nay, nông dân giữ vị trí
là “chủ thể”, đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố
con người, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc


9

xây dựng nông thôn cả về kinh tế, văn hóa và xã hội đồng thời bảo đảm
những quyền lợi chính đáng của họ.
Vai trò của nông dân trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại, được
thể hiện là:
(1) Chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực
hiện quy hoạch xây dựng NTM;
(2) Chủ thể chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội ở nông thôn;
(3) Chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất công

Phải có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng
trưởng kinh tế cao và bền vững môi trường sinh thái được giữ gìn; Tiềm năng
du lịch được khai thác; làng truyền thống, làng nghề thủ công nghiệp được khôi
phục; ứng dụng công nghệ cao vào quản lý, về sinh học…; cơ cấu kinh tế nông
thôn phát triển hài hòa, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế.
- Nhóm 4: Văn hoá – Xã hội – Môi trường (4 tiêu chí): Giáo dục; y tế;
văn hóa; môi trường.
Dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất. Các chủ thể nông
thôn( lao động, nông thôm, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính
phủ, nhà nước, nhân,…) có khả năng , điều kiện và trình độ để tham gia tích
cực vào các quá trình và ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn;
thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan;
phân phối công bằng. Người nông dân thực sự “ được tự do quyết định trên
luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh
làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương của Đảng và chính
sách, pháp luật của Nhà nước
- Nhóm 5: Hệ thống chính trị (2 tiêu chí): là chính trị, an ninh trật tự xã
hội. Nông dân. Nông thôn và có văn hóa phát triển, dân trí được nâng lên, sức


11

lao động được giải phóng, nhiệt tình được phát huy. Đó chính là sức mạnh nội
sinh của làng xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Người nông dân
có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật và tay nghề
cao, lối sống văn minh hiện đại, nhưng vẫn giữ được giá trị văn hóa, bản sắc
truyền thống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi
phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, đói
ngoại,…nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của
mình, vừa góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp.

gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm
thu nhập cho mình.
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, người Mỹ ở vùng
đô thị hay ven đô hướng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh
đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh.[4]
2.2.1.2. Mô hình nông thôn mới ở Nhật Bản
Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản)
đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục
tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự
phát triển chung của cả nước Nhật Bản. Trải qua gần 30 năm hình thành và
phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều
thắng lợi rực rỡ. Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm
không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu
vực, quốc gia khác trên thế giới. Một số quốc gia, nhất là những quốc gia
trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong
phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm”.
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được
những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều


14

người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển
nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất
nước mình.[4]
2.2.1.3. Mô hình xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan
Hiện nay người ta đang thực hiện các chính sách xây dựng và phát triển
nông thôn một cách thiết thực như sau:

nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm. Ở
đây chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy
chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu
giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ.[5]
2.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
2.2.2.1. Tình hình nông thôn mới ở Việt Nam
Trong 04 năm qua, Chính phủ cùng các Bộ, ngành, các cấp ủy, chính
quyền cùng cả hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân đã chung vai, góp sức
thực hiện Chương trình và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng tạo nên nhiều
chuyển biến mới trong nông nghiệp, bộ mặt nông thôn được đổi mới, đời sống
nông dân được nâng lên. Nông nghiệp, giữ được mức tăng trưởng ổn định,
phát triển tương đối toàn diện; năng suất, chất lượng nhiều loại cây trồng vật
nuôi được nâng lên; sản xuất tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo đạt được
nhiều tiến bộ; đã xuất hiện nhiều mô hình liên kết sản xuất hiệu quả dựa trên
ứng dụng khoa học, công nghệ.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào quần chúng sôi nổi và
tương đối đều khắp trong cả nước; bộ máy chỉ đạo thực hiện từ Trung ương
đến cơ sở được tổ chức thống nhất, đồng bộ. Các cơ chế chính sách được ban
hành khá đồng bộ và kịp thời. Nhận thức về Chương trình từ các cấp ủy,
chính quyền đến người dân được nâng cao; công tác quy hoạch, lập đề án xây
dựng nông thôn mới, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có chuyển biến rõ rệt.


16

Nguồn lực đầu tư cho Chương trình ngày càng tăng, mặc dù ngân sách
Trung ương hỗ trợ còn có hạn, nhưng các địa phương đã chủ động sử dụng
nguồn lực từ ngân sách địa phương, lồng ghép từ các chương trình, dự án
khác, từ các nguồn vốn tín dụng và thu hút, huy động mạnh mẽ sự tham gia

trình, dự án 1.428,9 tỷ đồng; huy động từ doanh nghiệp gần 184,4 tỷ đồng;
nhân dân đóng góp hơn 576,5 tỷ đồng.
Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng được 50,35 km đường trục xã,
liên xã; hơn 1.765 km đường trục thôn, xóm đạt chuẩn; xây dựng 66 công
trình thủy lợi; kiên cố hóa 39,6 km kênh mương; hỗ trợ xây dựng trên 700
phòng học và hạng mục phụ trợ của trường học; xây dựng mới, cải tạo nâng
cấp 33 trạm biến áp, 40,3 km đường dây trung thế, 160,1 km đường dây hạ
thế; xây dựng mới, nâng cấp trên 120 công trình nhà văn hóa thôn bản, 3 nhà
văn hóa xã, 50 sân thể thao thôn bản và liên thôn bản...
Để đạt được những kết quả này, công tác tuyên truyền được xem là
bước khởi đầu mang tính quyết định đến thành công của chương trình. Tính
đến hết tháng 6/2013, các cơ quan tuyên truyền đã xây dựng được 36 chuyên
đề, 24 tạp chí, hơn 50 bài viết, gần 130 tin, ảnh tuyên truyền về xây dựng
nông thôn mới. Các địa phương đã tổ chức trên 500 hội nghị, dựng hơn 1.000
pa nô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về xây dựng nông thôn
mới; tổ chức biên tập và phát sóng hàng trăm tin, bài, chuyên mục và phát
sóng định kỳ trên các đài truyền thanh địa phương.
Cùng với công tác tuyên truyền vận động, công tác đào tạo, tập huấn
cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới từ tỉnh đến cơ sở
được tỉnh quan tâm thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức được trên 170
lớp tập huấn nâng cao năng lực cho trên 14.500 lượt học viên là cán bộ các
cấp. Nội dung các chuyên đề tập huấn phù hợp với thực tiễn và yêu cầu xây
dựng nông thôn mới ở địa phương trong từng giai đoạn.
Với những kết quả đã đạt được, tỉnh Tuyên Quang đặt mục tiêu đến
năm 2015 phấn đấu có ít nhất 7 xã (mỗi huyện, thành phố có 1 xã) đạt chuẩn
nông thôn mới.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status