1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý rối loạn chuyển hóa glucid mạn tính
mang tính chất xã hội, trong những năm gần đây đang có tốc độ phát triển
nhanh.Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là một thể đặc biệt của ĐTĐ, cũng
đang không ngừng gia tăng. Cho tới nay đái tháo đường thai kỳ đang là một
vấn đề đáng quan tâm của y tế cộng đồng vì tỷ lệ mắc bệnh cũng như các biến
chứng của bệnh cho cả người mẹ và thai nhi.
Theo Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ tỉ lệ ĐTĐTK từ 1% đến 14%
phụ nữ có thai [1]. Tỷ lệ này thay đổi tùy theo quốc gia, theo vùng, chủng tộc
và việc áp dụng theo tiêu chuẩn chẩn đoán nào. Bệnh có xu hướng tăng nhất
là ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.
Các nghiên cứu khác nhau trên thế giới đã khẳng định đái tháo đường
thai kỳ nếu không được chẩn đoán và điều trị sẽ gây nhiều tai biến cho cả mẹ
và con, cả trước mắt cũng như lâu dài; với mẹ là sẩy thai, đẻ non, thai chết
lưu, tiền sản giật, đa ối, thai to, đẻ khó, tăng nguy cơ ĐTĐTK ở những lần
mang thai sau và tăng nguy cơ ĐTĐ typ 2 về sau này; với con là thai chậm
phát triển, thai to, tử vong chu sinh, trẻ sơ sinh có nguy cơ bị hạ đường máu,
hạ canxi máu; khi trẻ đến tuổi dậy thì dễ bị béo phì, rối loạn dung nạp đường
huyết và đái tháo đường... Đặc biệt nguy hiểm và hay gặp là hội chứng suy hô
hấp sơ sinh (HCSHHSS), do thai của những bà mẹ ĐTĐTK đạt được sự
trưởng thành phổi muộn hơn đồng thời do tăng nguy cơ đẻ non nên phổi thai
nhi chưa trưởng thành, đây là nguyên nhân quan trọng gây tăng tỷ lệ tử vong
chu sinh ở trẻ có mẹ bị ĐTĐTK.Chính vì vậy, ngoài vấn đề theo dõi và điều
trị tích cực, kiểm soát tốt đường máu cho thai phụ ĐTĐTK thì vấn đề điều trị
dự phòng nguy cơ đẻ non và HCSHHSS là cực kỳ quan trọng. Một trong
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐỊNH NGHĨA
Đái tháo đường thai kỳ được định nghĩa là tình trạng rối loạn dung nạp
glucose ở bất kỳ mức độ nào được chẩn đoán lần đầu tiên trong quá trình
mang thai, tình trạng này có hoặc có thể không còn diễn biến sau đẻ. Khái
niệm này không loại trừ khả năng thai phụ có tình trạng rối loạn dung nạp
glucose từ trước khi mang thai nhưng chưa được chẩn đoán hoặc bắt đầu cùng
với quá trình mang thai [5], [6], [7], [8]
Với ĐTĐTK, tỷ lệ phát hiện cao ở giai đoạn muộn của thai kỳ hơn là
giai đoạn sớm, phần lớn các trường hợp sau sinh glucose có thể bình thường
trở lại. Tuy nhiên những trường hợp có tiền sử ĐTĐTK này có nguy cơ phát
triển thành ĐTĐ týp 2 trong tương lai [5], [6], [7],[8].
1.2. TÌNH HÌNH ĐTĐTK TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Thế giới
Tỷ lệ ĐTĐTK thay đổi rất khác nhau tùy theo quốc gia, theo vùng, theo
chủng tộc và theo tiêu chuẩn được áp dụng trong nghiên cứu. Tỷ lệ dao động
từ 1 –> 14% [1].
Theo những báo cáo của WHO cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK thấp hơn ở
nhóm phụ nữ Ấn Độ, Trung Quốc và Sri lanka (tỷ lệ < 1%) và phụ nữ Italia,
phụ nữ da trắng, da đen và gốc Tây Ban Nha sống ở Mỹ (tỷ lệ 1 – 3 %).
Nhóm phụ nữ Ấn Độ và người Australia bản xứ có tỷ lệ ĐTĐTK khoảng 7%,
tỷ lệ ĐTĐTK cao nhất là ở người PIMA sống ở Mỹ, Mexico và nhóm người
thổ dân Nauru khoảng 14 – 22 % [9].
Theo nghiên cứu của Moses năm 1998 trên các nhóm chủng tộc khác
nhau cho tỷ lệ ĐTĐTK khác nhau rõ rệt [10].
4
9,5%
Người Châu Á
90
12,2%
Nhóm người khác
129
3,1%
1.2.2.Việt Nam
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tỷ lệ ĐTĐTK. Các nghiên
cứu này đều được tiến hành tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh. Năm 1999, Ngô Thị Kim Phụng tiến hành nghiên cứu xác định tỷ
lệ ĐTĐTK tại quận 4 ở thành phố Hồ Chí Minh là 3,9% [5], [7]
Năm 2000, Nguyễn Thị Kim Chi và cộng sự nghiên cứu 196 thai phụ
tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, tỷ lệ ĐTĐTK là 3,6% [11]. Tới năm 2002 2004, Tạ Văn Bình và cộng sự nghiên cứu 1611 thai phụ tại Bệnh viện Phụ
Sản Trung ương và Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội tỷ lệ ĐTĐTK là 5,7%[5], [7].
Năm 2007, Nguyễn Thị Phương Thảo nghiên cứu 415 thai phụ tại Bệnh
viện Bạch Mai tỷ lệ ĐTĐTK là 7,9% [12].
Năm 2009, Vũ Bích Nga và cộng sự nghiên cứu 1327 các thai phụ
được quản lý thai tại Khoa sản Bệnh Viện Bạch Mai và Bệnh Viện Phụ Sản
Trung Ương tỷ lệ ĐTĐTK là 7,8% [3].
5
Tạ Văn Bình và cs
2002 – Bệnh viện phụ sản Trung Ương và
2004
Nguyễn Thị Phương Thảo và cs 2007
Vũ Bích Nga và cs
2009
bệnh viện phụ sản Hà Nội
Bệnh viện Bạch Mai
Bệnh viện phụ sản Trung Ương và
bệnh viện phụ sản Hà Nội
5,7%
7,9%
7,8%
1.3. SINH LÝ BỆNH CỦA ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ [5], [7], [14]
Mang thai là yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự xuất hiện các rối loạn điều
hòa đường máu do tăng tình trạng kháng insulin. Đái tháo đường thai kỳ xảy
ra khi tình trạng kháng insulin sinh lý này tăng kịch phát và cùng xuất hiện
song song với tình trạng thiếu hụt insulin tương đối. Như vậy sinh lý bệnh đái
tháo đường thai kỳ tương tự như sinh lý bệnh của đái tháo đường type 2, bao
gồm sự kháng insulin và bất thường về tiết insulin.
1.3.1. Hiện tượng kháng insulin
Hiện tượng kháng insulin là do rau thai bài tiết ra các hormon như HPL
(human placenta lactogen), estrogen, progesteron...và các hormon được bài
ĐTĐTK đáp ứng bài tiết insulin sớm giảm hơn so với thai phụ bình thường và
so với phụ nữ không mang thai. Như vậy có sự suy giảm đáp ứng của tế bào
bêta tụy ở thai phụ ĐTĐTK.
7
1.4. YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỐI VỚI ĐTĐTK
Theo khuyến cáo của Hội nghị Quốc tế lần thứ 4 về ĐTĐTK tại Hoa
Kỳ năm 1998 các thai phụ sau có nguy cơ dễ mắc ĐTĐTK [7], [15]:
- Béo phì: Ở người béo phì có tình trạng kháng insulin, tăng tiết insulin
phát hiện qua nghiệm pháp dung nạp glucose bị rối loạn, dễ dẫn đến bệnh ĐTĐ.
- Tiền sử gia đình: tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ, đặc biệt là người
ĐTĐ thế hệ thứ nhất là một trong những yếu tố nguy cơ caocủa ĐTĐTK.
- Tiền sử đẻ con ≥ 4000g: cân nặng trẻ lúc đẻ vừa là hậu quả của ĐTĐTK
vừa là yếu tố nguy cơ cho mẹ mang thai lần sau.
- Tiền sử bất thường về dung nạp glucose: đây là yếu tố nguy cơ cao
của ĐTĐTK. Đa số người có tiền sử rối loạn dung nạp glucose thì khi có thai
đều bị ĐTĐTK. Tiền sử này bao gồm cả tiền sử phát hiện ĐTĐTK từ những
lần sinh trước và giảm dung nạp glucose.
- Đường niệu dương tính: đây là yếu tố nguy cơ cao đối với ĐTĐTK.
Tuy nhiên, có khoảng 10 - 15% phụ nữ mang thai có đường niệu dương tính
mà không phải ĐTĐTK.Đây có thể là do ngưỡng đường của thận ở một số
phụ nữ mang thai thấp.
- Tuổi mang thai: theo Hiệp hội sản khoa Mỹ thì người mẹ mang thai ở
tuổi < 25 được coi là ít nguy cơ ĐTĐTK, khi phụ nữ >35 tuổi mang thai thì
nguy cơ ĐTĐTK tăng hơn.
- Tiền sử sản khoa bất thường: bao gồm các tiền sử bất thường như thai
chết lưu, sẩy thai không rõ nguyên nhân.... Các yếu tố này vừa được coi là
hậu quả của ĐTĐTK vừa là yếu tố nguy cơ.
9
- Nhiễm trùng tiết niệu: Thai phụ ĐTĐTK dễ bị nhiễm trùng tiết niệu.
Có nhiều yếu tố thuận lợi làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu, ĐTĐTK
nếu kiểm soát đường máu không tốt càng tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu.
- Đẻ non: thai phụ ĐTĐTK tăng nguy cơ đẻ non so với thai phụ không
bị ĐTĐ. Tỷ lệ đẻ non ở phụ nữ ĐTĐTK là 22% theo nghiên cứu của
Ramtoola năm 2001 [18]. Các nguyên nhân dẫn đến đẻ non là kiểm soát
đường máu kém, nhiễm trùng tiết niệu, đa ối, tiền sản giật.... Đẻ non gây ra
nhiều biến chứng ở trẻ sơ sinh non tháng như bệnh màng trong, HCSHHSS,
xuất huyết não và xuất huyết phổi ở trẻ sơ sinh, vàng da sơ sinh, hạ calci máu
và hạ đường huyết sơ sinh, tăng nguy cơ tử vong chu sinh...
- Đa ối: đa ối hay gặp ở phụ nữ ĐTĐTK. Đa ối cũng làm tăng nguy cơ
đẻ non.
- Tăng nguy cơ bị đái tháo đường typ 2 trong tương lai:
Những thai phụ ĐTĐTK có tiền sử ĐTĐTK sau khi sinh 6 – 8 tuần
được làm lại nghiệm pháp dung nạp glucose (NPDNG), nếu có sự bất thường
dung nạp glucose trong giai đoạn này thì là yếu tố nguy cơ cao các bà mẹ sẽ
bị ĐTĐ trong tương lai. Còn nếu NPDNG kết quả bình thường thì hàng năm
cần được kiểm tra đường máu lúc đói để phát hiện sớm ĐTĐ [5], [7].
Đa số các trường hợp ĐTĐTK sẽ trở về bình thường sau khi sinh
nhưng tăng nguy cơ bị ĐTĐ typ 2 trong tương lai. Năm 2005 Lin và cs
nghiên cứu tại Trung Quốc trên 127 phụ nữ ĐTĐTK cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK
còn tồn tại sau sinh trên 6 tuần là 13,4 % [19]. Tại Việt Nam, năm 2008
nghiên cứu của Dương Thị Hồng Lý và cs trên 99 thai phụ ĐTĐTK vào thời
điểm sau sinh 12 tuần cho thấy tỷ lệ ĐTĐ sau sinh là 15,1% [20].
- Tăng nguy cơ bị ĐTĐTK ở những lần mang thai sau.
11
trẻ bị HCSHHSS đã giảm. Do vậy có thể nói đây là biến chứng có thể dự
phòng được nếu bà mẹ được chăm sóc điều trị tích cực. Nguy cơ bệnh màng
trong khi đẻ non trước 38 tuần ở trẻ có mẹ bị ĐTĐTK tăng gấp 5 – 6 lần so
với nhóm chứng. Trước đây bệnh màng trong là nguyên nhân chủ yếu của hội
chứng suy hô hấp sơ sinh và tử vong chu sinh vì các bà mẹ ĐTĐ thường có
chỉ định sinh sớm. Ngày nay bệnh màng trong vẫn còn khá phổ biến và các
nghiên cứu đang cố gắng tìm biện pháp phòng ngừa bệnh [14]
Cơ chế bệnh sinh của HCSHHSS: các thai phụ ĐTĐTK tăng nguy cơ
đẻ non. Do đó phổi thai nhi chưa trưởng thành nên dễ bị suy hô hấp lúc được
sinh ra. Thai của những bà mẹ không đái tháo đường sẽ đạt được sự trưởng
thành của phổi thường vào khoảng 34 – 35 tuần, thai của những bà mẹ
ĐTĐTK đạt được sự trưởng thành phổi muộn hơn. Do vậy, nếu đường máu
của mẹ được kiểm soát tốt và không có các tai biến sản khoa thì không có chỉ
định sinh sớm cho các bà mẹ ĐTĐTK.
Nếu kiểm soát đường máu cho các bà mẹ ĐTĐTK không tốt sẽ dẫn đến
bất thường sản xuất chất surfactant ở phổi.Các tác giả nhận thấy rằng khi
nồng độ đường cao, làm nồng độ insulin tăng, insulin có tác dụng ức chế
cortisol, mà sản xuất phosphatidylcholine (lecithin) lại phụ thuộc vào cortisol,
và chính phosphatidylcholine là nguyên bào sợi của tế bào phổi. Ở người bị
ĐTĐ trong giai đoạn mang thai thường làm chậm đạt được tỷ lệ thích hợp của
phosphatidylcholin/sphingomyelin trong dịch ối. Tăng đường máu và tăng
insulin máu ở thai sẽ làm giảm tổng hợp surfactant.
Điều trị dự phòng: một số yếu tố có thể kích thích sự trưởng thành của
phổi như là corticoid, hormon tuyến giáp, yếu tố tăng trưởng biểu mô, AMP
vòng, vì vậy các nhà lâm sàng có thể dùng chúng để thúc đẩy sự trưởng thành
của phổi. Hiện nay hay được sử dụng nhất là corticoid (betamethasone hoặc
13
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK [21], [22]
O’Sullivan-Mahan Nhóm dữ liệu ĐTĐ quốc gia Carpenter-Coustan
Máu toàn phần
Huyết tương-Tự phân tích
Huyết tương-
Somogy-Nelson
(mg/dl[mmol/l])
Glucose Oxidase
(mg/dl[mmol/l])
(mg/dl[mmol/l]
Đói
90 [5,0]
105 [5,8]
95 [5,3]
1giờ
NPDNG 100 g
NPDNG 75 g
Lúc đói
5,3 mmol/l
5,3 mmol/l
Sau 1 giờ
10 mmol/l
10 mmol/l
Sau 2 giờ
8,6 mmol/l
8,6 mmol/l
Sau 3 giờ
7,8 mmol/l
Hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2010 khuyến cáo có thể sử dụng cả 2 tiêu chuẩn
chẩn đoán này trong thực hành lâm sàng.
Tuy nhiên đến năm 2013, dựa trên kết quả của nghiên cứu HAPO
(Hyperglycemia and adverse pregnancy outcomes study 2008) và những đồng
Bảng 1.3. Mục tiêu GM cần đạt cho thai phụ ĐTĐTK theo ADA 2013
Thời gian làm xét nghiệm
GMMM (mmol/l)
Lúc đói
5,3
Sau ăn 1 giờ
7,8
Sau ăn 2 giờ
6,7
Đây là mục tiêu của hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2013 có dựa trên mục tiêu của
HNQT lần thứ 5 về ĐTĐTK năm 2005.
* Mục tiêu HbA1c:
Theo khuyến cáo của Hiệp Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2013, mục tiêu HbA1c áp
dụng cho phụ nữ bị ĐTĐ trong thời gian mang thai là HbA1c < 6%.
15
1.7.2. Chế độ ăn: [5], [7], [16]
* Chế độ ăn là nền tảng của việc điều trị ĐTĐTK.
* Chế độ ăn của người phụ nữ mang thai phải đạt được những mục tiêu sau:
+ Không ảnh hưởng tới sự tăng cân của mẹ, đảm bảo thai nhi phát triển bình
Có nhiều loại insulin nhưng chỉ có insulin người sinh tổng hợp là loại
được khuyến cáo dùng trong điều trị ĐTĐ trong thời kỳ mang thai. Insulin
người sinh tổng hợp hầu như không gây dị ứng, hầu như không qua hàng rào
rau thai vì vậy không gây hạ glucose máu trực tiếp cho thai nhi [5], [7], [16],
[29].Với insulin nền, thì cả insulin NPH và detemir đều có thể sử dụng trong
thai kỳ, với glargin độ an toàn cho phụ nữ mang thai được xếp loại ở mức C
theo FDA nên hiện nay vẫn chưa được khuyến cáo sử dụng trong thời kỳ
mang thai. Với insulin trước các bữa ăn có thể sử dụng regular insulin hoặc
insulin lispro, aspart.
Chỉ định điều trị insulin cho thai phụ ĐTĐTK
Theo khuyến cáo của Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2004 [24]:
- Các thai phụ ĐTĐTK có mức GM lúc đói < 5,3mmol/l và GM 2giờ
sau ăn < 11,1mmol/l được hướng dẫn chế độ ăn và luyện tập trong 2 tuần.
Nếu mức GM đạt mục tiêu điều trị thì tiếp tục theo chế độ ăn. Nếu mức GM
không đạt mục tiêu thì phối hợp với liệu pháp insulin.
- Các thai phụ ĐTĐTK có mức GM lúc đói ≥ 5,3mmol/l hoặc GM sau
ăn 2h ≥ 11,1mmol/l cần được phối hợp chế độ ăn và liệu pháp insulin ngay.
17
Liều insulin
Tính toán sử dụng liều insulin phải phù hợp đối với từng thai phụ để
đạt được mục tiêu kiểm soát đường máu. Khuyến cáo sử dụng liều insulin
khởi đầu trong suốt quá trình mang thai theo nghiên cứu của Jovanovic và
cộng sự [25]:
Tuần thai
Tổng liều insulin (UI/kg cân nặng/ngày)
(UI/kg/ngày)
3 tháng đầu
0,14
3 tháng giữa
0,34 ± 0,2
0,68
0,1
3 tháng cuối
0,41 ± 0,24
0,73
0,11
Như vậy, qua kết quả 2 nghiên cứu trên cho thấy liều insulin sẽ thay đổi
trong thời gian mang thai, vào những tháng cuối của thai kỳ, liều insulin có
thể tăng lên do tăng sự đề kháng insulin. Liều insulin trung bình qua nghiên
cứu của Vũ Bích Nga thấp hơn so với liều insulin trung bình trong nghiên cứu
của Jovanovic, tuy nhiên vẫn cần có nhiều nghiên cứu sâu và rộng hơn tại
Việt Nam về vấn đề này để có thể có một phác đồ chung áp dụng cho thai phụ
ĐTĐTK Việt Nam.
- Corticoid ức chế sự thu nạp glucose ở mô cơ ngoại vi và mô mỡ. Như
vậy corticoid làm tăng tổng hợp glucose ở gan và giảm nhạy cảm của glucose
ở mô ngoại vi, nên làm tăng glucose máu. Vì thế có khuynh hướng gây ra
hoặc làm nặng thêm bệnh đái tháo đường.
Bảng 1.4. Một số corticoid thường dùng
Tên thuốc
Tác dụng
Tác dụng
Tác dụng lên
Thời gian
chống viêm
giữ Natri
chuyển hóa
bán
glucose
thải(giờ)
Cortison
4
0,8
4
12-36
Methylpresnisolon
5
0,5
5
12-36
Betamethason
25-30
0
25
36-54
Dexamethason
ĐTĐ...Ở tuổi thai càng nhỏ, trọng lượng thai càng thấp tỷ lệ mắc bệnh càng
cao. Ở những trẻ sơ sinh có mẹ bị ĐTĐ thì nguy cơ bị bệnh màng trong cao
hơn gấp 5 đến 6 lần so với những trẻ có mẹ không bị ĐTĐ. Để phòng bệnh
màng trong cũng như để dự phòng suy hô hấp sơ sinh, người ta khuyến cáo
dùng corticoide trước sinh vì corticoid có tác dụng làm tăng cường sản xuất
surfactant trong thời kỳ bào thai vào những tháng cuối của thai kỳ [14], [27].
Cơ chế tác dụng của corticoide là kích thích fibroblaste tiết ra fibroblaste
pneumocyte factor, chất này kích thích phế bào II sản xuất surfactant. Đồng
thời corticoid thúc đẩy sự trưởng thành của các mô liên kết làm giảm tính
thấm của mao quản, phế nang [27].
Sử dụng corticoid trước sinh đem lại hiệu quả rõ rệt. Nhiều nghiên cứu
cho thấy làm giảm đáng kể tỷ lệ suy hô hấp sơ sinh cũng như các biến cố khác
trên cả mẹ và thai nhi.
Từ năm 1972, khi Liggin và Howie đã báo cáo sự giảm tỷ lệ bị suy hô
hấp sơ sinh ở trẻ được sinh ra ở những bà mẹ sử dụng corticoid trước sinh
[28]. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy hiệu quả của liệu pháp corticoid
trong việc làm giảm tỷ lệ tử vong chu sinh và dự phòng HCSHHSS. Năm
2007, nghiên cứu tổng quan Cochrane về corticoid trước sinh cho trưởng
thành phổi thai nhi bao gồm 21 nghiên cứu trên tổng số 3885 bà mẹ và 4269
21
trẻ sơ sinh, cho thấy việc điều trị với corticoid trước sinh không làm tăng
nguy cơ bị viêm màng ối và nhiễm khuẩn hậu sản hoặc tử vong ở mẹ, bên
cạnh đó làm giảm tỷ lệ tử vong chu sinh, HCSHHSS, xuất huyết não thất,
viêm ruột hoại tử, giảm nguy cơ phải hỗ trợ hô hấp, chăm sóc tích cực hay
nhiễm trùng trong 48 giờ đầu sau sinh [4].
1.8.3. Chỉ định điều trị
Theo khuyến cáo của Hiệp hội sản phụ khoa Hoa kỳ và hội sản phụ
Đợt điều trị lặp lại thường xuyên theo định kỳ hay nhiều đợt corticoid
(hơn 2 đợt) không được khuyến cáo.Năm 2000, Học viện quốc gia về sức
khỏe trẻ em và phát triển nhân loại và văn phòng ứng dụng y học của Học
viện y khoa quốc gia đã tổ chức hội nghị về corticoid trước sinh, với chủ đề
"Thống nhất triển khai corticoid trước sinh, xem xét lại: đợt điều trị lặp lại",
nhằm giải quyết vấn đề lặp lại đợt điều trị corticoid cho trưởng thành phổithai
nhi. Sự đồng thuận từ hội nghị này đã một lần nữa xác nhận lại sự nhất trí
khuyến cáo năm 1994 về điều trị 1 đợt duy nhất cho tất cả những thai phụ
giữa 24 và 34 tuần thai, có nguy cơ sinh non trong vòng 7 ngày [32].
Không có bằng chứng khoa học thuyết phục rằng, điều trị corticoid làm
tăng nguy cơ nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh, mặc dù điều trị nhiều đợt có liên quan
đến ức chế tuyến thượng thận thai nhi [33]. Các nghiên cứu theo dõi các thanh
thiếu niên 14 tuổi, đã từng ít nhất 1 lần được điều trị bằng corticoid, cho thấy
không có nguy cơ của một kết cục phát triển thần kinh bất thường liên quan
tới việc sử dụng corticoid trước sinh [34]. Hội nghị nhất trí rằng, mặc dù đã
có gợi ý về những lợi ích có thể có từ điều trị lặp lại (đặc biệt là trong trường
hợp để giảm hội chứng suy hô hấp nặng), nhưng đã có các dữ liệu trên người
và động vật cho các giả thuyết về tác dụng có hại trên sự myelin hóa ở não và
chức năng của trục hạ đồi- tuyến yên- thượng thận.
23
Mặc dù không có ý nghĩa thống kê, nguy cơ tương đối cho bại não ở trẻ
đã từng được điều trị bằng nhiều đợt corticoid trước sinh trong một nghiên
cứu (RR 5.7; 95% CI0.7- 46.7; P= 0.12) là mối quan tâm và cho phép các
nghiên cứu sâu hơn [35]. Các tác động cho mẹ, bao gồm tăng nguy cơ nhiễm
trùng và ức chế trục hạ đồi - tuyến yên- thượng thận [36], [37]
Khuyến cáo [2], [29], [38], [39]
Hội đồng thực hành sản khoa đã khuyến cáo: sử dụng một trong hai
Giá trị GM sau ăn 1 giờ ở nhóm chứng ở trong khoảng từ 107,7 ± 15,1 đến 112,3
± 20 mg/dl từ tuần thứ 1 ->3. Giá trị GM sau ăn 1 giờ trung bình được theo dõi ở
nhóm điều trị betamethasone 1 đợt, 2 đợt và 3 đợt đều ≤ 140 mg/dl. Như vậy
betamethasone làm tăng tỷ lệ rối loạn GM đói ở phụ nữ có thai trong vòng 1 đến
3 tuần [40].
- Năm 2002 Landy và cs tiến hành nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của
liệu pháp điều trị corticoid lên sự dung nạp glucose ở phụ nữ mang thai. Số
thai phụ trong nghiên cứu được chia thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm 26 phụ nữ
mang thai điều trị bằng liệu pháp corticoid, nhóm 2 gồm 1325 phụ nữ mang
thai là nhóm chứng, nhóm 3 gồm 47 thai phụ là nhóm chứng điều trị corticoid
nhưng không mang thai. Kết quả cho thấy:
Nhóm thai phụ
Tỷ lệ bị ĐTĐ (%)
Giá trị p
Nhóm 1
19,2
P < 0,003
Nhóm 2
4
Nhóm 1
Trước ĐT betamethasone
115,1 ± 17,9
0
Sau ĐT betamethasone 1 giờ
132,7± 36,6
Sau ĐT betamethasone 72 giờ
115,9± 22,7
10
113,8± 17,3
5
Sau ĐT betamethasone 1 tuần
P < 0,001
42,5
Như vậy betamethasone làm ảnh hưởng đến kết quả của biện pháp sàng
lọc ĐTĐTK bằng NPDNG với 50g glucose trên những thai phụ không bị
ĐTĐTK. Các tác giả đã đưa ra khuyến cáo rằng NPDNG 50g glucose nên