Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012 2016 (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ PHƯƠNG HIỀN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN – 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ PHƯƠNG HIỀN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông


Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn

Đỗ Phương Hiền


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...............................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài ....................................................................................2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý đất đai của các tổ chức .................................................3
1.1.1. Khái quát về đất đai...........................................................................................3
1.1.2. Quản lý đất đai đối với các tổ chức ...................................................................4
1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất ............................................7
1.2. Cơ sở thực tiễn về tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ....................20
1.2.1. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại Việt Nam ........................20
1.2.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại tỉnh Phú Thọ ...................23
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................27
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................27
2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................27
2.2.1. Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2016 đến
tháng 9/2017. .............................................................................................................27
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu: Trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. ..............27

3.5.2. Giải pháp về kinh tế ........................................................................................81
3.5.3. Các giải pháp khác ..........................................................................................82
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................................84
1. Kết luận .................................................................................................................84
2. Đề nghị ..................................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................86
PHỤ LỤC


v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phù Ninh ............................................42
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo mục đích sử dụng đất trên
địa bàn huyện năm 2016 ...........................................................................................57
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo loại hình sử dụng ...............59
Bảng 3.4: Tình hình giao đất của các tổ chức ...........................................................60
Bảng 3.5: Tình hình giao đất sản xuất kinh doanh của một số tổ chức ....................61
trên địa bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 - 2016 .................................................61
Bảng 3.6: Tình hình giao đất xây dựng cơ sở hạ tầng của một số tổ chức trên địa
bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 - 2016 ..............................................................62
Bảng 3.7: Tình hình thuê đất của các tổ chức ...........................................................63
Bảng 3.8: Tình hình công nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức .........................64
Bảng 3.9: Tình hình sử dụng đất theo hình thức khác của các tổ chức ....................65
Bảng 3.10. Tổng hợp tình hình sử dụng đất đúng mục đích của các tổ chức ...........66
Bảng 3.11. Tình hình sử dụng đất không đúng mục đích của các tổ chức ...............68
Bảng 3.12. Tình hình tranh chấp, lấn chiếm và bị lấn chiếm DT của các TC ..........69
Bảng 3.13. Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép diện tích đất
được giao, được thuê của các tổ chức .......................................................................71
Bảng 3.14. Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức .............................72

Tổng diện tích đất các tổ chức đang quản lý, sử dụng ở nước ta hiện nay xấp
xỉ 3.700.000 ha, chiếm tới 11,16% diện tích tự nhiên của cả nước. Nhưng nhìn
chung diện tích được quản lý và sử dụng chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, xảy ra nhiều
tiêu cực, như sử dụng không đúng diện tích, sử dụng không đúng mục đích, bị lấn
chiếm, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn trái phép...
Huyện Phù Ninh là huyện miềm núi của tỉnh Phú Thọ có 19 đơn vị hành
chính, diện tích tự nhiên là 15.736,97 ha, huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Phú
Thọ, phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng, phía Nam giáp thành phố Việt Trì và
huyện Phù Ninh, phía Tây giáp thị xã Phú Thọ và huyệnThanh Ba, phía Đông có
tuyến sông Lô bao bọc là ranh giới với huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Có 4km
quốc lộ 2 đi qua huyện Phù Ninh, có đường Cao tốc Hà Nội - Lào Cai chạy qua.
Với lợi thế đó, huyện Phù Ninh đang thu hút nhiều tổ chức, doanh nghiệp vào đầu
tư kinh doanh góp phần quan trọng vào tăng ngân sách cho huyện, tuy nhiên vấn đề
cần đặt ra ở đây là với quỹ đất đai hiện có huyện Phù Ninh cần phải có kế hoạch
quản lý, sử dụng sao cho hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm để không lãng phí nguồn tài


2

nguyên đất đai của địa phương.
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của
các tổ chức là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý
Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng là đất đai nói chung và đối
với diện tích mà các tổ chức huyện Phù Ninh đang quản lý sử dụng nói riêng. Từ đó
kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng đất, tránh việc để lãng
phí là việc làm bức thiết.
Đánh giá cao tầm quan trọng đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh
giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Phù Ninh,
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012-2016" với mong muốn đưa ra những giải pháp thiết
thực và tích cực nhằm tăng cường vai trò quản lý đất đai của Nhà nước - đại diện

hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của
đất đai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tại điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 [24], một số khái niệm liên quan đến
các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là
việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê
đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử
dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.
Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người
này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.


4

1.1.2. Quản lý đất đai đối với các tổ chức
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại các tổ chức sử dụng đất
Tổ chức sử dụng đất, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất)
là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước
công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng, được Nhà nước giao đất để
quản lý, quy định trong Luật này bao gồm các tổ chức sau [24]:
- Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ

dụng vào các mục đích: đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích; đất làm
trụ sở Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội của cấp xã; đất được Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng các
công trình công cộng về văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao, vui chơi giải trí,
chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác của địa phương.
Đối với các công trình công cộng do các tổ chức được công nhận là pháp
nhân hoặc do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thì không thống kê vào đối tượng
Uỷ ban nhân dân cấp xã sử dụng.
- Tổ chức khác là các tổ chức trong nước sử dụng đất bao gồm: Tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức và các tổ chức khác không phải là cơ
quan, đơn vị của Nhà nước, không phải là tổ chức kinh tế.
- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ
chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất; bao gồm
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tổ chức nước ngoài
có chức năng ngoại giao.
1.1.2.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người
đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai. Tổng diện tích tự nhiên của một
phạm vi lãnh thổ nhất định là không đổi. Nhưng khi sản xuất phát triển, dân số
tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với
đất đai cũng ngày càng gia tăng. Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có xu hướng
tăng. Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và
giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau. Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết. Quản
lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước. Việc quản lý
nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện hệ thống pháp


6




7

hiệu quả cao. Đối với người sử dụng đất thì họ sẽ được Nhà nước bảo vệ khi có
những xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp trong việc sử dụng đất của mình,
cùng với đó sẽ được Nhà nước tạo điều kiện trong việc nâng cao kiến thức về sản
xuất, kinh doanh, cải tạo và bồi dưỡng đất đai. Tuy nhiên, khi nhận thấy việc sử
dụng đất của các đối tượng không đem lại hiệu quả cao, lãng phí, thất thoát đất đai
thì Nhà nước có quyền thu hồi đất đang sử dụng đó.
Khi Nhà nước có quyết định giao đất, cho thuê đất, người sử dụng đất được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất được bảo đảm, đi đôi với quyền lợi thì người sử dụng

đất cũng cần

phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Người sử dụng đất hoàn thành nghĩa vụ sử dụng đất là họ đã góp phần vào
việc quản lý sử dụng đất cũng như việc duy trì bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai.
1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất
Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất của các tổ chức qua các
Luật đất đai.
Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất.
Năm 1987, Luật Đất đai ra đời, đánh dấu một cột mốc quan trọng của hệ
thống pháp luật về đất đai. Luật Đất đai đầu tiên của chúng ta quy định “Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho các
nông trường, lâm trường, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định, lâu dài” [22]. Nhưng trong thực tế thực
hiện, Luật Đất đai năm 1987 đã bộc lộ quá nhiều hạn chế, nên đã không kích thích

dưới Luật đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần đáng kể vào phát triển kinh
tế, ổn định chính trị, xã hội. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2003 vẫn còn những hạn
chế, bất cập ví như: tình trạng đất được giao, cho thuê sử dụng không đúng mục
đích, vi phạm pháp luật, găm giữ đất, chậm đưa vào sử dụng hoặc chuyển nhượng
dự án còn xảy ra ở nhiều địa phương dẫn đến lãng phí đất đai và gây bất bình trong
dư luận. Nhiều địa phương còn thiếu cân nhắc trong việc chuyển mục đích sử dụng
đất chuyên trồng lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng, giao đất, cho thuê đất tại các
khu vực nhạy cảm, vùng biên giới. Còn tình trạng nhiều tổ chức được Nhà nước
giao đất không thu tiền nhưng sử dụng lãng phí, thiếu trách nhiệm trong quản lý để
xảy ra nhiều sai phạm [27].
Nhằm khắc phục những bất cập trên, đồng thời thể chế hóa các quan điểm


9

đổi mới của Đảng phát huy nguồn lực đất đai cho phát triển nhanh kinh tế - xã hội
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kể từ ngày 01/7/2014, Luật Đất
đai năm 2013 có hiệu lực thi hành và tiếp tục khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở
hữu toàn dân, do Nhà nước là người đại diện và thống nhất quản lý. Nguyên tắc đất
đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
được ghi nhận tại Điều 53, 54 Hiến pháp 2013; Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.
Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều đổi mới trong công tác giao đất, cho thuê
đất. Một trong những điểm mới đáng chú ý là thu hẹp các trường hợp được Nhà
nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản
chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Trong đó đổi mới cụ thể
về công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nội dung sau:
- Mở rộng quyền sử dụng đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài
+ Luật Đất đai mới đã thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai
giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đảm bảo yêu cầu hội nhập và
phù hợp với các cam kết của Việt Nam với quốc tế.

đầu tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy
định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao
đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác.
- Nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức
+ Nhằm tạo động lực cho đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững, Luật Đất đai mới đã quy định nâng thời hạn giao đất nông nghiệp
trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm thống nhất cho các
loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm, đất lâm nghiêp ̣ ).
+ Đồng thời, cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ đất đai với diện tích lớn
hơn không vượt quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp. Khuyến khích tích tụ đất
đai thông qua cơ chế góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, nhận quyền thuê đất
để thuận lợi cho ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ giới hóa và phát triển sản xuất
hàng hóa.
+ Bổ sung quy định về điều kiên được giao đất , cho thuê đất để thưc hiện
các dự án có sử dụng đất trồng lúa , đất có rừng phòng hộ, đặc dụng nhằm bảo đảm
an ninh lương thực, bảo vệ môi trường trong điều kiện nước ta được dự báo là một
trong những nước sẽ chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu.
+ Bổ sung quy định điều kiện để được giao đất thực hiện dự án đầu tư taị khu


11

vực biên giới, ven biển và hải đảo nhằm đảm bảo quốc phòng, an ninh đất nước.
Một số Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003,
2013 và các văn bản dưới luật để hướng dẫn thực hiện cụ thể như sau:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về thu tiền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003;

- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất,
thu hồi đất;
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị
định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
- Quyết định số 21/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND tỉnh Phú
Thọ về việc ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh do
Luật đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về thu hồi đất, giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ;
Những quy định hiện hành của Nhà nước về giao đất, cho thuê đất đối với
các tổ chức.
Hiện nay, các quy định chung của Nhà nước về giao đất, cho thuê đất đối với
các tổ chức sử dụng đất được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về
giao đất, cho thuê đất, cụ thể là trong Luật Đất đai 2013 và Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Luật Đất đai.
Nguyên tắc về giao đất, cho thuê đất
Giao đất, cho thuê đất là một vấn đề quan trọng trong công tác quản lý Nhà
nước về đất đai, không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người được thuê đất, giao đất về
mục đích phát triển kinh tế, hạn chế chí phí kinh doanh mà còn đảm bảo đất đai
được sử dụng hợp lý, có hiệu quả và khoa học phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực
về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Để công
tác quản lý Nhà nước về đất đai được thực hiện tốt thì khi giao đất, cho thuê đất
phải đảm bảo các nguyên tắc sau:


13




14

đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã
hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự
nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao.
- Các hình thức giao đất của Việt Nam:
Luật Đất đai lần đầu tiên ra đời năm 1987, quy định Nhà nước giao đất cho
người có nhu cầu và thu hồi đất của người không còn nhu cầu. Cũng theo Luật này
quy định duy nhất chỉ có một hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và
người sử dụng đất không có các quyền được tham gia thị trường quyền sử dụng đất [27].
Đến Luật Đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 và Luật Đất đai

năm

2013 thì Nhà nước mới quy định hai hình thức là giao đất có thu tiền sử dụng đất và
giao đất không thu tiền sử dụng đất, cụ thể:
- Giao đất có thu tiền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất
cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất phải nộp một khoản tiền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Theo Điều 55 của Luật Đất đai năm 2013
quy định Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với đối tượng là tổ chức sử
dụng đất vào mục đích kinh doanh, thương mại, dịch vụ và có khả năng sinh lời trên
phần diện tích đất được giao, cụ thể gồm: Tổ chức kinh tế được giao đất để thực
hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng
nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện
dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất
gắn với hạ tầng. Giao đất theo hình thức này giúp Nhà nước đảm bảo nguồn thu
ngân sách từ đất, bố trí vốn cho các chương trình chính sách công, dự án đầu tư xây

trình sự nghiệp khác;
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
+ Đất giao thông, thủy lợi, đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng khác không có mục đích kinh doanh;
+ Đất tổ chức kinh tế sử dụng.
Theo Điều 126 của Luật Đất đai năm 2013 quy định, người sử dụng đất
được sử dụng đất có thời hạn thuộc các trường hợp sau:
+ Thời hạn giao đất đất đối với tổ chức để sử dụng vào mục đích sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức để sử dụng vào
mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; tổ chức để thực
hiện các dự án đầu tư; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn


16

đầu tư nước ngoài để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam được xem xét, quyết
định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất nhưng không quá 50 năm.
+ Đối với dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất đất không quá 70 năm.
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất:
Trong mối quan hệ với tổng thể hệ thống pháp luật về đất đai, giao đất là một
nội dung của quản lý nhà nước về đất đai, mà ở đó, Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất của người được công nhận. Thông qua cơ chế giao đất, Nhà nước không
chỉ xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ pháp lý
để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luật mà còn làm cơ sở pháp lý để
người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng đất theo pháp luật, phù hợp với sự
vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống.
Theo quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013 thì tổ

nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối
tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất”.
- Đối tượng thuê đất:
Theo quy định tại điều 56 của Luật Đất đai năm 2013 thì việc Nhà nước cho
thuê đất theo hai hình thức cho thuê thu tiền sử dụng đất hàng năm hoặc cho thuê
thu tiền sử dụng đất một lần cho cả thời gian thuê. Một trong đối tượng được cho
thuê đất là các tổ chức gồm: UBND xã, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
xã hội, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự
nghiệp công, tổ chức kinh tế và tổ chức ngoại giao.
- Các hình thức cho thuê đất của Việt Nam:
Trước đây, trên cơ sở Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998
đưa ra một số quy định sửa đổi bổ sung, trong đó quy định về hình thức thuê đất mà
người sử dụng đất có thể trả tiền thuê đất hàng năm, trả tiền thuê đất cho nhiều năm
hoặc trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê. Luật Đất đai năm 2003 không quy định
về trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thay vào đó là trả tiền thuê đất hàng năm đối
với trường hợp người sử dụng đất là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong
nước. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê trả tiền một lần
cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền thuê đất hàng năm khi thực hiện đầu tư vào Việt Nam.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status