ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ PHƯƠNG HIỀN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN – 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ PHƯƠNG HIỀN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo để đề tài này được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Phương Hiền
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ...............................................................................2
3. Y nghĩa khoa học của đề tài ....................................................................................2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý đất đai của các tổ chức .................................................3
1.1.1. Khái quát về đất đai...........................................................................................3
1.1.2. Quản lý đất đai đối với các tổ chức...................................................................4
1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất ............................................7
1.2. Cơ sở thực tiễn về tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ....................20
1.2.1. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại Việt Nam ........................20
1.2.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức tại tỉnh Phú Thọ ...................23
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................27
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................27
2.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................................27
2.2.1. Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 4/2016 đến
tháng 9/2017. .............................................................................................................27
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu: Trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. ..............27
3.5.3. Các giải pháp khác ..........................................................................................82
KẾT LUẬN VÀ ĐÊ NGHỊ .......................................................................................84
1. Kết luận .................................................................................................................84
2. Đề nghị ..................................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................86
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phù Ninh ............................................42
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo mục đích sử dụng đất trên
địa bàn huyện năm 2016 ...........................................................................................57
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức theo loại hình sử dụng ...............59
Bảng 3.4: Tình hình giao đất của các tổ chức ...........................................................60
Bảng 3.5: Tình hình giao đất sản xuất kinh doanh của một số tổ chức ....................61
trên địa bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 - 2016.................................................61
Bảng 3.6: Tình hình giao đất xây dựng cơ sở hạ tầng của một số tổ chức trên địa
bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 - 2016 ..............................................................62
Bảng 3.7: Tình hình thuê đất của các tổ chức ...........................................................63
Bảng 3.8: Tình hình công nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức.........................64
Bảng 3.9: Tình hình sử dụng đất theo hình thức khác của các tổ chức ....................65
Bảng 3.10. Tổng hợp tình hình sử dụng đất đúng mục đích của các tổ chức ...........66
Bảng 3.11. Tình hình sử dụng đất không đúng mục đích của các tổ chức ...............68
Bảng 3.12. Tình hình tranh chấp, lấn chiếm và bị lấn chiếm DT của các TC ..........69
Bảng 3.13. Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép diện tích đất
được giao, được thuê của các tổ chức .......................................................................71
Bảng 3.14. Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức .............................72
Bảng 3.15. Những nguyên nhân chính dẫn đến việc sử dụng đất không đúng mục
đích của các loại hình tổ chức được giao, thuê đất ...................................................73
Bảng 3.16. Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ................................75
Huyện Phù Ninh là huyện miềm núi của tỉnh Phú Thọ có 19 đơn vị hành
chính, diện tích tự nhiên là 15.736,97 ha, huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Phú
Thọ, phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng, phía Nam giáp thành phố Việt Trì và
huyện Phù Ninh, phía Tây giáp thị xã Phú Thọ và huyệnThanh Ba, phía Đông có
tuyến sông Lô bao bọc là ranh giới với huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Có 4km
quốc lộ 2 đi qua huyện Phù Ninh, có đường Cao tốc Hà Nội - Lào Cai chạy qua.
Với lợi thế đó, huyện Phù Ninh đang thu hút nhiều tổ chức, doanh nghiệp vào đầu
tư kinh doanh góp phần quan trọng vào tăng ngân sách cho huyện, tuy nhiên vấn đề
cần đặt ra ở đây là với quỹ đất đai hiện có huyện Phù Ninh cần phải có kế hoạch
quản lý, sử dụng sao cho hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm để không lãng phí nguồn
tài
nguyên đất đai của địa phương.
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất của
các tổ chức là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý
Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng là đất đai nói chung và đối
với diện tích mà các tổ chức huyện Phù Ninh đang quản lý sử dụng nói riêng. Từ đó
kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc sử dụng đất, tránh việc để lãng
phí là việc làm bức thiết.
Đánh giá cao tầm quan trọng đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh
giá tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Phù Ninh,
tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012-2016" với mong muốn đưa ra những giải pháp thiết
thực và tích cực nhằm tăng cường vai trò quản lý đất đai của Nhà nước - đại diện
chủ sở hữu đối với đất đai ở nước ta.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng sử dụng đất của
huyện Phù Ninh.
- Đánh giá tình hình sử dụng đất của các tổ chức được giao đất, thuê đất trên
địa bàn huyện Phù Ninh giai đoạn 2012 – 2016, xác định các nguyên nhân tồn tại.
Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê
đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu
sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử
dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.
Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người
này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
1.1.2. Quản lý đất đai đối với các tổ chức
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại các tổ chức sử dụng đất
Tổ chức sử dụng đất, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất)
là tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc được Nhà nước
công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng, được Nhà nước giao đất để
quản lý, quy định trong Luật này bao gồm các tổ chức sau [24]:
- Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự
nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính
phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công
nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại
giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên
hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên
chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư
chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất; bao gồm
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tổ chức nước ngoài
có chức năng ngoại giao.
1.1.2.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ
chức
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt và có hạn, mọi hoạt động của con người
đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn bó với đất đai. Tổng diện tích tự nhiên của một
phạm vi lãnh thổ nhất định là không đổi. Nhưng khi sản xuất phát triển, dân số
tăng, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với
đất đai cũng ngày càng gia tăng. Có nghĩa cung là cố định, cầu thì luôn có xu hướng
tăng. Điều này dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất và
giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau. Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và
bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết. Quản
lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước. Việc quản lý
nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện hệ thống pháp
luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai. Mặt khác, quản lý đất đai còn có
vai trò quan trọng trong hướng tới mục tiêu phát triển. Công tác quản lý đất đai dựa
trên nguyên tắc quan trọng nhất là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững. Do đó
quản lý, sử dụng đất đai là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác
quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý, sử dụng đất của các tổ chức nói
riêng.
Công tác giao đất, cho thuê đất là một trong những công cụ quan trọng trong
quản lý nhà nước về đất đai, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và
phát huy nguồn lực của đất đai trong phát triển của đất nước.
Theo kết quả thống kê diện tích đất hàng năm của Bộ Tài nguyên và Môi
trường tính đến hết ngày 01/01/2015, diện tích đất tự nhiên của nước ta là
33.096.731 ha, tổng diện tích đất Nhà nước đã giao, cho thuê và công nhận quyền
đất cũng cần
phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Người sử dụng đất hoàn thành nghĩa vụ sử dụng đất là họ đã góp phần vào
việc quản lý sử dụng đất cũng như việc duy trì bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai.
1.1.3. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất
Cơ sở pháp lý của công tác giao đất, cho thuê đất của các tổ chức qua các
Luật đất đai.
Đất đai là nguồn tài nguyên, tài sản quan trọng của quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là điều kiện cần cho mọi hoạt động sản xuất.
Năm 1987, Luật Đất đai ra đời, đánh dấu một cột mốc quan trọng của hệ
thống pháp luật về đất đai. Luật Đất đai đầu tiên của chúng ta quy định “Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho các
nông trường, lâm trường, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định, lâu dài” [22]. Nhưng trong thực tế thực
hiện, Luật Đất đai năm 1987 đã bộc lộ quá nhiều hạn chế, nên đã không kích thích
được năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên
tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân. Đồng thời,
giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi, quyền
thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm tăng cường
tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử
dụng đất. Một số nội dung chính liên quan đến giao đất, cho thuê đất như quy định
Nhà nước cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất; Nhà nước cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài thuê đất; Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền
sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất... pháp luật thừa nhận đất có giá
và xác định giá đất để quản lý, từ đó, Nhà nước không chỉ quản lý đất đai theo diện
tích, loại, hạng đất mà còn quản lý theo giá trị đất (giao đất có thu tiền sử dụng).
hữu toàn dân, do Nhà nước là người đại diện và thống nhất quản lý. Nguyên tắc đất
đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
được ghi nhận tại Điều 53, 54 Hiến pháp 2013; Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.
Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều đổi mới trong công tác giao đất, cho thuê
đất. Một trong những điểm mới đáng chú ý là thu hẹp các trường hợp được Nhà
nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất và cơ bản
chuyển sang thuê đất nhằm sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Trong đó đổi mới cụ thể
về công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nội dung sau:
- Mở rộng quyền sử dụng đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài
+ Luật Đất đai mới đã thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai
giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đảm bảo yêu cầu hội nhập và
phù hợp với các cam kết của Việt Nam với quốc tế.
+ Nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều đư ợc áp dụng hình thức giao đất
có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho
thuê; các trường hợp còn lại được áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc
thuê đất trả tiền một lần việc thu hồi đất cho cả thời gian thuê.
+ Quyền cho doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng
đất cũng được mở rộng.
+ Đối với người Việt Nam điṇh cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu
nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, ngoài việc đươc nhận
chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận
tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở theo quy định hiện hành, thì còn
được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở.
- Chế tài mới ngăn ngừa dự án chậm triển khai
+ Luật Đất đai năm 2013 cũng bổ sung chế tài xử lý theo hướng chủ đầu tư
được tiếp tục được gia hạn thêm 24 tháng và trong thời gian này chủ đầu tư phải
nộp thêm một khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong
vực biên giới, ven biển và hải đảo nhằm đảm bảo quốc phòng, an ninh đất nước.
Một số Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003,
2013 và các văn bản dưới luật để hướng dẫn thực hiện cụ thể như sau:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về thu tiền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ
quy định việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ
về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
tái định cư;
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ
về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền
với đất;
- Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng
11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
giá đất;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
đảm bảo đất đai
được sử dụng hợp lý, có hiệu quả và khoa học phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực
về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Để công
tác quản lý Nhà nước về đất đai được thực hiện tốt thì khi giao đất, cho thuê đất
phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, giao đất, cho thuê đất phải đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ
trước mắt mà còn lâu dài, là cơ sở pháp lý quan trọng để bố trí sử dụng đất một cách
hợp lý, có hiệu quả, góp phần bảo vệ cảnh quan môi trường, phát triển kinh tế xã
hội của đất nước nói chung cũng như từng vùng, từng địa phương và các đơn vị cơ
sở, đồng thời đáp ứng yêu cầu thống nhất quản lý nhà nước về đất đai.
Thứ hai, việc giao đất, cho thuê đất phải đúng thẩm quyền và đúng đối
tượng. Nguyên tắc này đảm bảo cho việc điều tiết đất đai đúng quy định phát luật,
tạo sự công bằng đối với các đối tượng sử dụng đất.
Thứ ba, giao đất, cho thuê đất phải tuân thủ đúng quy trình, trình tự
thủ
tục, đúng hạn mức, đúng thời hạn và do UBND các cấp có thẩm quyền thực hiện.
Đây là nguyên tắc quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai.
Về công tác giao đất:
Giao đất là vấn đề bắt đầu được quy định từ Hiến pháp năm 1992. Trước đó,
Hiến pháp 1980 chỉ quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy định
chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm” [19]. Tại điều 18
Chương II Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức
sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Theo Điều 55 của Luật Đất đai năm 2013
quy định Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với đối tượng là tổ chức sử
dụng đất vào mục đích kinh doanh, thương mại, dịch vụ và có khả năng sinh lời trên
phần diện tích đất được giao, cụ thể gồm: Tổ chức kinh tế được giao đất để thực
hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng
nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện
dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất
gắn với hạ tầng. Giao đất theo hình thức này giúp Nhà nước đảm bảo nguồn thu
ngân sách từ đất, bố trí vốn cho các chương trình chính sách công, dự án đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng nhằm phát triển đất nước và tạo ý thức trách nhiệm cho người
được giao đất sử dụng hợp lý, tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng, tránh lãng phí
quỹ đất được giao.
- Giao đất không thu tiền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng
đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất và người sử dụng đất không phải nộp
khoản tiền sử dụng đất cho Nhà nước. Theo Điều 54 của Luật Đất đai năm 2013
quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với là tổ chức sử dụng
đất vào mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh;
đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử
dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp; tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở
phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước; cộng đồng dân cư sử dụng đất nông
nghiệp; tổ chức sử dụng đất. Việc giao đất không thu tiền sử dụng đất là để đảm bảo
lợi ích chính đáng của người trực tiếp lao động sản xuất, bảo vệ tốt quỹ đất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản,... Nhằm bảo đảm cho hoạt động bình
thường của các cơ quan Nhà nước hoặc sử dụng đất vào lợi ích chung, lợi ích công
cộng.
- Thời hạn giao đất:
nội dung của quản lý nhà nước về đất đai, mà ở đó, Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất của người được công nhận. Thông qua cơ chế giao đất, Nhà nước không
chỉ xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn cứ pháp lý
để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luật mà còn làm cơ sở pháp lý để
người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng đất theo pháp luật, phù hợp với sự
vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống.
Theo quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013 thì tổ
chức sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng; các quyền
chung là những quyền mà tất cả chủ thể được hưởng trong quá trình khai thác đất
đai mà không có sự phân biệt về loại chủ thể, hình thức, mục đích sử dụng đất; các
nghĩa vụ chung người sử dụng đất là cách sử xự mà pháp luật bắt buộc các chủ thể
phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất. Đây là loại nghĩa vụ áp dụng chung cho
tất cả các loại chủ thể sử dụng đất, không phân biệt hình thức và mục đích sử dụng
đất.
Ngoài ra, theo Luật Đất đai năm 2013 thì căn cứ vào hình thức Nhà nước
giao đất thì quy định về quyền và nghĩa vụ cũng khác nhau. Đối với các tổ chức sử
dụng đất có thể chia thành nhiều loại với những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Các
tổ chức được giao đất không thu tiền thì không có các quyền chuyển quyền sử dụng
đất, tổ chức thuê đất trả tiền hàng năm chỉ được phép bán hoặc mua tài sản sở hữu
trên đất thuê; tổ chức được giao đất có thu tiền thì có các quyền chuyển quyền sử
dụng đất; quy định phân biệt rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất mà tiền đã
trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và tiền đã trả không có nguồn gốc từ ngân
sách nhà nước.
Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể về thủ tục thực
hiện các quyền sử dụng đất; xử lý quyền sử dụng đất của tổ chức đã thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn; xây dựng chế độ tài chính mới khi thực hiện các quyền sử dụng đất;
quy định quyền sử dụng đất của doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa... Đây là