ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ HỒNG KHÁNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI
NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU –
TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
THUỘC NHÓM NGÀNH CHẾ BIẾN
LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ HỒNG KHÁNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI
NHUẬN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TRÊN CỔ PHIẾU –
TRƯỜNG HỢP CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
THUỘC NHÓM NGÀNH CHẾ BIẾN
LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Diễn giải
BCTC
Báo cáo tài chính
DN
Doanh nghiệp
HĐKD
Hoạt động kinh doanh
NQL
Nhà quản lý
TSSL
Tỷ suất sinh lợi
TTCK
Thị trường chứng khoán
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Refere
3.1.
Kết quả mô tả thống kê các biến trong mô hình
nce
source
not
3.2.
Kết quả kiểm định T-test và Wilcoxon
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
Error:
Referen
3.3.
Bảng phân tích hệ số tương quan
ce
Kết quả kiểm định Hausman
nce
source
not
3.7.
Bảng so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu
found
Error:
Refere
nce
source
not
found
DANH MỤC HÌNH VẼ
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
Error:
Referen
not
found
Error:
Referen
3.2.
Biểu đồ kiểm tra mức độ phù hợp của mô hình
ce
source
not
found
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, đây
vừa là một kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế vừa cung cấp môi
trường đầu tư cho công chúng. Các nhà đầu tư thường dựa trên nhiều yếu tố
để đưa ra quyết định đầu tư trên TTCK. Đối tượng tham gia vào TTCK là đa
dạng các cá nhân, tổ chức, nên sự quan tâm và chọn lựa thường rất khác nhau.
Nhìn chung, dù mục đích đầu tư là như thế nào đi nữa, thì các nhà đầu tư đều
mong muốn mức thu nhập kỳ vọng thu được trong tương lai trên mỗi đồng
vốn bỏ ra là cao nhất, tức tỷ suất sinh lời trên cổ phiếu ở mức cao.
Để có được những quyết định đầu tư đúng đắn, nhà đầu tư quan tâm đến
các thông tin mà công ty niêm yết công bố thông qua BCTC của họ.Tuy
nhiên, sự tách biệt giữa chủ sở hữu, tức nhà đầu tư và nhà quản lý trong mô
Làm rõ ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ
phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm
-
Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những đề xuất về ảnh hưởng của
quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến
tỷ suất sinh lợi trên cổ phiếu
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất
sinh lợi trên cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương
thực thực phẩm trong 3 năm từ năm 2013 đến năm 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đây là nghiên cứu thực chứng được thực hiện trên cơ sở xây dựng và
kiểm định mô hình ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi trên
cổ phiếu của các công ty niêm yết nhóm ngành chế biến lương thực thực
3
phẩm.
- Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập số liệu trên cơ sở các BCTC năm của 46 công ty niêm yết
nhóm ngành chế biến lương thực thực phẩm trong giai đoạn 2013-2015
các cổ đông sử dụng giá trị của công ty để xác định thù lao cho việc quản lý.
Đây là động lực của việc quản trị lợi nhuận [10].
Trước đó, trong nghiên cứu của Raoli (2012) về quản trị lợi nhuận và sự
lệch lạc thị trường (Market Misvaluation) đã chỉ ra rằng, khi các nhà quản lý
thấy được giá trị thị trường của công ty đi lên họ có động cơ để thao túng thu
nhập tăng lên để duy trì sự tăng về giá trị thị trường [25].
Quản trị lợi nhuận là một biện pháp được thực thi bởi hầu hết công ty để
tác động đến nhà đầu tư và đem đến cho nhà quản lý kết quả sinh lời mong
muốn. Điều này là do ảnh hưởng của công ty đến hành vi của nhà đầu tư và
thị trường, bằng cách tăng khoảng cách giữa TSSL cổ phiếu thực sự và mức
sinh lợi mà nhà đầu tư có thể đạt được trong trường hợp thông tin bị thao túng
không được công bố.
Các nghiên cứu trên đã chỉ ra giá cổ phiếu và TSSL trên cổ phiếu là một
trong những động cơ để nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận.
Các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận của
các công ty xuất phát từ các khoản lợi nhuận dồn tích hay còn gọi là các
khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA), tuy nhiên biến dồn tích có thể điều chỉnh
(DA) là khoản dồn tích do nhà quản lý thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh
lợi nhuận trong kỳ mới chính là thước đo phù hợp để đánh giá các nhà quản lý
doanh nghiệp có điều chỉnh lợi nhuận hay không. (Nguyễn Anh Hiền, Phạm
Thanh Trung, 2015) Do đó, việc đo lường ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi
nhuận là đo lường thông qua biến dồn tích có thể điều chỉnh DA [2].
Trong mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận
đến TSSL trên cổ phiếu đo lường thông qua biến DA, các biến quy mô công
ty và tỷ số giá trị thị trường và giá trị sổ sách cũng thường được đưa vào mô
5
hình nghiên cứu.
Nghiên cứu của Oduma (2015), đưa ra mô hình ảnh hưởng của nhân tố
Aras và Yilmaz (2008) trong nghiên cứu về tác động của Tỷ suất cổ tức
trên giá cổ phiếu (DY), Tỷ suất giá trị thị trường trên thu nhập (P/E) và tỷ số
giá trị sổ sách và giá trị thị trường (B/M) đến TSSL trên cổ phiếu của 12 thị
trường cổ phiếu mới nổi, đã chỉ ra rằng, tỷ số B/M và DY có ý nghĩa trong
việc dự đoán TSSL trên cổ phiếu, tuy nhiên tỷ số B/M có ý nghĩa hơn cả, P/E
ít có ý nghĩa hơn 2 tỷ số còn lại. Nghiên cứu còn cho thấy, sự kết hợp khác
nhau của những nhân tố này làm cho phân tích có ý nghĩa hơn [11].
Trong nghiên cứu của Kheradyar, Ibrahim và Mat Nor (2011) về mối
quan hệ giữa TSSL trên cổ phiếu và các tỷ số tài chính: Tỷ suất cổ tức trên giá
cổ phiếu (DY), Tỷ suất thu nhập trên giá cổ phiếu (EY) và Tỷ số giá trị sổ
sách và giá trị thị trường (B/M), tác giả kết luận cả 3 chỉ số đều có động đến
TSSL trên cổ phiếu, trong đó, tỷ suất B/M có ảnh hưởng nhiều hơn 2 tỷ số
còn lại đối với TSSL trên cổ phiếu. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp cả ba tỷ
số này sẽ đưa ra dự đoán chính xác về TSSL hơn nghiên cứu đơn lẻ mỗi chỉ
số. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp cả ba tỷ số này sẽ đưa ra dự đoán chính
xác về TSSL hơn là chỉ nghiên cứu đơn lẻ mỗi chỉ số [19].
Phân tích của Bukit (2013) về tác động của giá trị giá trị thị trường so
với giá trị sổ sách (M/B), Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR), tỷ suất sinh lợi trên vốn
chủ (ROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), thu nhập trên mỗi cổ
phần (EPS) đến TSSL trên cổ phiếu tại Indonesia đã cho thấy M/B, DPR,
ROA và EPS có ảnh hưởng đến TSSL trên cổ phiếu trong khi đó ROE không
có ảnh hưởng trong mô hình. M/B, DPR và EPS có tác động cùng chiều còn
ROA có tác động ngược chiều dến TSSL trên cổ phiếu.Trong đó ROA, DPR
7
và M/B có tác động nhiều nhất đến TSSL trên cổ phiếu trên thị trường
Indonesia [13].
Nhân tố tỷ suất cổ tức cũng được chỉ ra có mối quan hệ với TSSL trên cổ
phiếu ở thị trường trong nghiên cứu của Safari (2009) ở thị trường Malaysia,
và mô hình Fama, như trong các nghiên cứu của Phạm Hữu Hồng Thái và Lê
Dũng Hiệp (2016), Võ Hồng Đức và Mai Duy Tân (2014), Trương Đông Lộc
và Dương Thị Hoàng Trang (2014).
Hành vi quản trị lợi nhuận cũng đã được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam,
chủ yếu là các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi
nhuận. Có các phương pháp nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận đã được
nghiên cứu để áp dụng tại Việt Nam, Phùng Anh Thư (2016) đã thực hiện
kiểm định mức độ phù hợp của bốn mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi
nhuận phổ biến trên thế giới gồm mô hình của Jones (1991), mô hình
Modified Jones của Dechow, Sloan, Sweeney (1995), mô hình của Kothari,
Leone and Wasley (2005) và mô hình Phạm Thị Bích Vân (2012). Qua đó,
nhận diện mô hình thích hợp nhất để nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận
của các công ty tại Việt Nam là mô hình của Kothari, Leone and Wasley
(2005) [8].
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu trước đây của Nguyễn Anh
Hiền, Phạm Thanh Trung (2015) về mô hình phù hợp nhất để nhận diện hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam. Các
tác giả cũng có kết luận mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) là
phù hợp nhất tại Việt Nam [2].
Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình của Kothari,
Leone and Wasley (2005) để nhận diện biến dồn tích có thể điều chỉnh trong
đo lường ảnh hưởng hành vi quản trị lợi nhuận đến TSSL trên cổ phiếu tại
Việt Nam, kết hợp đồng thời với các biến thuộc về tài chính công ty.
9
Từ cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, Có
thể thấy, đã có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi
trên cổ phiếu và mối quan hệ giữa TSSL trên cổ phiếu và hành vi quản trị lợi
nhuận tại các quốc gia khác trên thế giới. Trong các nghiên cứu này, mô hình
đến kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế
toán [18].
Theo hai định nghĩa trên, có thể nhận thấy hành vi quản trị lợi nhuận
được xem như là một can thiệp có mục đích và có chủ tâm của BCTC, nhằm
ảnh hưởng đến cái nhìn của nhà đầu tư về các hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Các định nghĩa này tập trung vào việc quản trị lợi nhuận cho các mục
đích quản trị mà chưa chỉ rõ được một trong những mục đích tiêu cực của
quản trị lợi nhuận là sự gian lận tài chính (Patricia and Skinner, 2000). Theo
đó, quản trị lợi nhuận là hành động có mục đích, cố ý, sự trình bày sai lệch
hay sự bỏ sót những thông tin hoặc số liệu kế toán trọng yếu nhằm gây hiểu
nhầm hoặc khi xem xét cùng với các thông tin có sẵn khác thì sẽ làm cho
người sử dụng BCTC thay đổi quyết định hoặc xét đoán của mình [24].
11
Nhà quản lý có quyền sử dụng các xét đoán chủ quan của mình trong
việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước tính để phản ánh một cách
đúng đắn bản chất kinh tế và kết quả hoạt động của DN. Tuy nhiên, có thể
nhận thấy, hành vi quản trị lợi nhuận thường mang nghĩa tiêu cực vì thường
làm sai lệch thông tin về lợi công bố trên BCTC do vận dụng không đúng đắn
các chính sách và ước tính kế toán và thời điểm ghi nhận nghiệp vụ làm sai
lệch bản chất của nghiệp vụ.
NQL sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong việc thực hiện các
ước tính về các sự kiện kinh tế tương lai được phản ánh trong BCTC của DN,
chẳng hạn ước tính về thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cố định, tổn thất
có thể của các khoản phải thu không thu hồi được, hoặc tổn thất từ việc giảm
giá của hàng tồn kho. Cùng với việc thực hiện nhiều ước tính, NQL cũng phải
sử dụng đánh giá chủ quan của mình để quyết định việc lựa chọn các chính
sách kế toán. Cùng xử lý một vấn đề của một đối tượng kế toán, NQL có thể
nhiều lựa chọn khác nhau, chẳng hạn, việc lựa chọn giữa phương pháp khấu
được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời
điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS số 01) [3].
Chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ hình thành nên biến kế toán mà
các nhà nghiên cứu gọi là biến kế toán dồn tích. Hay nói cách khác, biến kế
toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Do phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách xác thực, kế
toán theo cơ sở dồn tích chính là cơ sở quan trọng chi phối phương pháp ghi
nhận các đối tượng kế toán trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, do doanh thu và
chi phí có thể được ghi nhận khi tiền chưa được thu hay chi, dẫn đến vấn đề
quan trọng luôn cần phải xem xét đó là doanh thu và chi phí đã thực sự phát
sinh chưa và nếu đã phát sinh rồi thì đã được ghi nhận chưa.
Kế toán cần phải ghi nhận doanh thu khi doanh thu đã thực sự phát sinh
và chi phí cần phải được ghi nhận phù hợp với việc tạo ra doanh thu trong kỳ
13
kế toán. Việc áp dụng nguyên tắc phù hợp bảo đảm cho lợi nhuận được đo
lường một cách xác thực, phản ánh đúng đắn kết quả hoạt động của DN. Việc
thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích dẫn đến thời điểm các khoản doanh thu
và chi phí được nhận khác với kế toán theo cơ sở tiền như sau:
- Doanh thu chưa thu tiền: Doanh thu phát sinh được ghi nhận trước khi
tiền thu được.
- Chi phí chưa chi tiền: Chi phí phát sinh được ghi nhận trước khi tiền
được chi ra.
- Doanh thu chưa thực hiện: Doanh thu được ghi nhận sau khi tiền đã
thu vào.
- Chi phí trả trước: Chi phí được ghi nhận sau khi tiền đã chi trả.
Việc ghi nhận doanh thu và chi phí trong trường hợp này có thể chịu ảnh
tức. Do đó, khi các công ty đang gần hạn mức và có khả năng vi phạm chúng
thì các nhà quản lý có động cơ sử dụng các kỹ thuật quản trị lợi nhuận để tăng
thu nhập nhằm nới lỏng hoặc trì hoãn sự hạn chế áp đặt bởi các thỏa thuận
vay nợ dựa trên thu nhập.
b. Đạt được những yêu cầu trong hợp đồng thù lao nhà quản lý
Hầu hết các hợp đồng giữa với nhà quản lý doanh nghiệp đo lường thành
quả của nhà quản lý bằng các con số kế toán như doanh thu hoặc lợi nhuận,
các điều khoản này có thể hướng nhà quản trị đến việc quản trị lợi nhuận để
đạt được các thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp này, quản trị lợi
nhuận được thực hiện vì những lợi ích cá nhân, NQL sẽ được hưởng nhiều
quyền lợi khi hoàn thành các chỉ tiêu được giao, chẳng hạn như các khoản
thưởng, đề bạt, tăng lương, và cả việc giữ được vị trí của mình. Do đó, nếu
không hoàn thành các chỉ tiêu lợi nhuận, NQL có thể điều chỉnh tăng lợi
nhuận để đạt được các chỉ tiêu này, hoặc khi đã đạt vượt chỉ tiêu lợi nhuận
nhưng mức thưởng có giới hạn, NQL có thể điều chuyển bớt lợi nhuận sang
năm sau. Mặt khác, NQL cũng có thể sở hữu cổ phiếu của DN. Khi này, nếu
muốn bán đi số cổ phiếu nắm giữ và thu lợi được mức cao, NQL cũng có thể
điều chỉnh lợi nhuận tăng để tác động vào giá cổ phiếu nhằm thu lợi.
15
c. Tránh các điều khoản quy định và tối thiểu hóa chi phí pháp lý,
chi phí thuế hiện hành
Liên quan đến thuế, DN phải đóng thuế thu nhập DN dựa trên lợi nhuận
phải chịu thuế. Mặc dù, ngày nay, kế toán cho mục đích thuế và kế toán cho
mục đích cung cấp thông tin đã có sự tách biệt, nếu muốn giảm thuế, một khả
năng xảy ra là DN tránh báo cáo lợi nhuận kế toán ở mức cao để hợp lý hóa
hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận chịu thuế, từ đó giảm số thuế thu nhập phải
nộp.
DN cũng có thể điều chỉnh lợi nhuận nhằm tránh công bố các mức lợi
khoản lợi nhuận bằng tiền. Tuy nhiên, đối với khoản lợi nhuận dồn tích thì
nhà quản lý có thể điều chỉnh khi sử dụng nguyên tắc cơ sở dồn tích trong kế
toán. Trên lý thuyết, nguyên tắc cơ sở dồn tích nhằm đảm bảo doanh nghiệp
phản ánh đúng doanh thu, chi phí trong kỳ nhằm bảo đảm lợi nhuận được
phản ánh một cách trung thực và hợp lý. Trong thực tế, nguyên tắc này có thể
bị lợi dụng để thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận như ghi nhận doanhthu
khi chưa phát sinh nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc sử dụng việc
trích lập các khoản dự phòng, chi phí phải trả, phân bổ chi phí trả trước nhằm
gia tăng hay giảm bớt chi phí trong kỳ.
Do đó, các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng hành vi quản trị lợi
nhuận của các công ty xuất phát từ các khoản lợi nhuận dồn tích hay còn gọi
là các khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA). TA còn được gọi tắt là biến kế
toán dồn tích.
Khoản dồn tích trong lợi nhuận (TA) được tính bằng cách lấy tổng lợi
nhuận kế toán sau thuế trừ dòng tiền thuần HĐKD:
TA = Lợi nhuận sau thuế - dòng tiền thuần HĐKD
Tuy nhiên, không thể sử dụng biến TA để đo lường mức độ điều chỉnh
lợi nhuận một cách trực tiếp do trong đó có các khoản dồn tích phù hợp với