Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận các doanh nghiệp tronh ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam . - Pdf 46

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THỊ NGỌC ÁNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN
LUÂN CHUYỂN ĐẾN LỢI NHUẬN CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng, Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THỊ NGỌC ÁNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN
LUÂN CHUYỂN ĐẾN LỢI NHUẬN CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRƯƠNG HỒNG TRÌNH

Đà Nẵng, Năm 2017

1.2.2 Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển ................................. 22
1.2.3 Nhân tố trong quản trị vốn luân chuyển ảnh hưởng đến khả năng
sinh lời doanh nghiệp ................................................................................ 23
1.2.4 Một số mô hình nghiên cứu trước đây ............................................. 28
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 ................................................................................ 41
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................................. 42
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG VIỆT NAM ............. 42


2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ..................................................................... 45
2.2.1 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu: .............................................. 45
2.2.2 Đo lường các biến: ........................................................................... 50
2.2.3. Mẫu dữ liệu...................................................................................... 53
2.2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết ............................... 53
2.3 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU .................................................................. 57
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................. 57
2.4.1 Nghiên cứu định lượng .................................................................... 57
2.4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu ......................................................... 60
2.4.3 Kiểm định các giả thuyết: ................................................................. 61
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 ................................................................................ 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 62
3.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU.................................................................. 62
3.1.1 Dữ liệu thu thập ................................................................................ 62
3.1.2 Mô tả thông tin mẫu ......................................................................... 62
3.2

PHÂN TÍCH MÔ HÌNH VÀ KIỂM ĐỊNH GIẢ THIẾT ...................... 65
3.2.1 Phân tích tương quan ........................................................................ 66
3.2.2 Phân tích hồi quy & kiểm định mô hình .......................................... 69


DAR

Kỳ thu tiền bình quân

DINV

Kỳ chuyển hóa tồn kho

D/E

Tỉ lệ nợ trên vốn cổ phần

FI

Chỉ số lạm phát

FS

Quy mô công ty

GROWTH

Tốc độ tăng trưởng

LEV

Hệ số đòn bẩy

ROA


Vốn luân chuyển


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

1.1

Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi doanh nghiệp
trong các nghiên cứu trước đây

14

1.2

Tổng kết các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi
qua các nghiên cứu trước đây

18

1.3

Tổng kết các nhân tố quản trị vốn luân chuyển ảnh
hưởng đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp qua các
nghiên cứu trước đây



3.1

Thống kê mô tả

61

3.2

Bảng ma trận tương quan giữa các biến

67

3.3

Ảnh hưởng giữa chu kỳ chuyển hóa tiền mặt và khả
năng sinh lợi doanh nghiệp

70

3.4

Ảnh hưởng của kỳ thu tiền bình quân đến khả năng sinh
lợi doanh nghiệp

73

3.5

Ảnh hưởng của kỳ chuyển hóa tồn kho đến khả năng

44

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố trong quản trị
2.3

vốn luân chuyển ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi doanh

49

nghiệp
2.4

Quy trình nghiên cứu

57


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, có rất nhiều cuộc tranh cãi lớn trong công tác
quản trị vốn luân chuyển giữa các công ty. Một số nhà nghiên cứu cho rằng
vốn luân chuyển là một nguồn tài nguyên có chi phí cao và mang lại ít lợi ích.
Vì vậy, để tối đa hóa lợi nhuận cổ đông, công ty không nên duy trì chính sách
vốn luân chuyển (Ali và Hassan, 2010). Tuy nhiên, nếu vốn luân chuyển
không tồn tại thì sẽ rất nguy hiểm vì nó làm giảm tính thanh khoản và có thể
dẫn đến những khó khăn khác nhau trong hoạt động điều hành. Các nhà
nghiên cứu khác ủng hộ quan điểm quản trị vốn luân chuyển rất cần thiết
trong hỗ trợ điều hành và quản lý các thành phần của vốn luân chuyển một

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là ngành hàng tiêu dùng mà cụ thể là các công ty
trong ngành thực phẩm & đồ uống được niêm yết trên cả hai sàn Sở Giao dịch
chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung các công ty trong ngành thực
phẩm & đồ uống trên sàn chứng khoán Việt Nam với dữ liệu dùng để thực
hiện luận văn được thu thập trong 10 năm từ 2005-2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê mô tả: Mô tả các khía cạnh liên quan đến các nhân tố trong
quản trị vốn luân chuyển và thông tin chi tiết về mỗi biến có liên quan.
- Phân tích tương quan Spearman: để đo lường mức độ liên kết giữa các
biến số khác nhau.
- Phân tích hồi quy: để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
nghiên cứu, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong quản trị vốn
luân chuyển đến khả năng sinh lợi các công ty trong ngành tiêu dùng được
niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.


3

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Là cơ sở giúp doanh nghiệp xác định đúng đắn tầm quan trọng và những
tác động của các nhân tố trong quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi
doanh nghiêp. Từ đó, có những chính sách cụ thể để cải thiện chất lượng
quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên
cứu này hy vọng có thể làm cơ sở cũng như tài liệu tham khảo cho các nghiên
cứu liên quan hay các nghiên cứu tiếp theo.
6. Bố cục bài nghiên cứu
Ngoài mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết.

QTVLC đối với khả năng sinh lợi doanh nghiệp, tác giả sử dụng mô hình của
Sajid Gul và cộng sự (2013) trong “Working Capital Management and
Performance of SME Sector”. Trong mô hình này có các nhân tố trong
QTVLC như chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền bình quân, kỳ chuyển hóa
tồn kho, kỳ thanh toán nợ phải trả ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp. Khả năng sinh lợi doanh nghiệp trong nghiên cứu được đánh giá bằng
chỉ tiêu ROA.
Izadinia và Taki (2010), Mathuva (2010) cũng tìm thấy mối quan hệ
nghịch biến giữa chu kỳ luân chuyển tiền và lợi nhuận gộp biên. Makori và
Jagongo (2013) cũng khẳng định rằng có một mối quan hệ tiêu cực giữa khả
năng sinh lợi và kỳ thu tiền bình quân và chu kỳ luân chuyển tiền, nhưng lại
có mối quan hệ tích cực giữa khả năng sinh lợi và kỳ chuyển hóa tồn kho và
kỳ thanh toán nợ phải trả. Hơn nữa, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu,
quy mô doanh nghiệp cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh
lợi của công ty. Công ty có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm
kỳ thu tiền bình quân, tăng kỳ chuyển hóa tồn kho đến một mức độ hợp lý,
kéo dài thời gian trả nợ nhưng không đừng làm gia tăng căng thẳng mối quan
hệ của họ với các chủ nợ.


5

Rezazadeh và Heydarian (2010) điều tra các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Tehran trong những năm 1998-2007. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng có một mối liên quan giữa khả năng sinh lợi và kỳ phải
luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân. Giảm lượng hàng tồn kho và
rút ngắn thời gian khoản phải thu sẽ cải thiện khả năng sinh lợi của công ty.
Taani (2012) xác định tác động của quản trị vốn luân chuyển và đòn bẩy
tài chính đến hiệu quả tài chính của các công ty bởi biến lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA). Bằng phương pháp phân

sàn chứng khoán New York. Sử dụng dữ liệu từ 2005-2007, các tác giả không
tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa kỳ thanh toán nợ phải trả, kỳ
chuyển hóa hàng tồn kho và khả năng sinh lợi công ty. Tương tự như vậy, họ
còn cho rằng không có mối liên quan giữa quy mô doanh nghiệp và khả năng
sinh lợi nhưng nhận thấy một mối liên hệ tiêu cực giữa kỳ thu tiền bình quân
và khả năng sinh lợi. Nó cho thấy rằng các nhà quản lý có thể nâng cao khả
năng sinh lợi của các công ty của họ bằng cách giảm số ngày phải thu từ
khách hàng.
Rezazadeh và Heydarian (2010) điều tra các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Tehran trong những năm 1998-2007. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng có một mối liên quan giữa khả năng sinh lợi và kỳ chuyển
hóa tồn kho, kỳ thu tiền bình quân. Giảm lượng hàng tồn kho và rút ngắn thời
gian phải thu khách hàng sẽ cải thiện khả năng sinh lợi của công ty.
Mathuva (2010) xem xét ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến
khả năng sinh lợi doanh nghiệp với mẫu gồm 30 doanh nghiệp niêm yết trên
sàn chứng khoán Nairobi (NSE) cho giai đoạn 1993 - 2008. Nghiên cứu này
chỉ ra rằng có tồn tại một mối quan hệ ngược chiều rất đáng kể giữa kỳ thu
tiền bình quân và khả năng sinh lợi. Thực tế là các công ty có khả năng sinh
lợi cao hơn có thời gian thu tiền ngắn từ khách hàng.


7

Azam và Haider (2011) đã tiến hành một nghiên cứu về tác động của
công tác quản trị vốn luân chuyển đến hiệu suất của các công ty cho các tổ
chức phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi trong khoảng thời
gian của năm từ năm 2001 đến năm 2010. Bằng cách sử dụng phân tích tương
quan xác định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu suất của
doanh nghiệp. Vòng quay hàng tồn kho có một mối quan hệ ngược chiều với
cả hai chỉ số lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, có nghĩa

Taani (2012) xác định tác động của quản trị vốn luân chuyển và đòn bẩy
tài chính đến hiệu quả tài chính của các công ty bởi biến thu nhập ròng, lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lợi trên tài sản. Bằng phương
pháp phân tích hồi quy đa biến, sử dụng dữ liệu trên 45 công ty trong lĩnh vực
công nghiệp tại Jordan. Kết quả nghiên cứu cho biết quản trị vốn luân chuyển,
đòn bẩy tài chính và quy mô doanh nghiệp có liên quan đáng kể đến thu nhập
ròng. Tuy nhiên, quản trị vốn luân chuyển không có tác động đáng kể đến lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tài sản.
Napompech (2012) đã kiểm tra tác động của quản trị vốn luân chuyển
đến khả năng sinh lợi của 255 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng
khoán của Thái Lan từ 2007- 2009. Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa khả
năng sinh lợi và quản trị vốn luân chuyển. Ngoài ra, kỳ chuyển hóa tồn kho và
kỳ thu hồi khoản phải thu cũng có mối tương quan ngược chiều đáng kể đến
khả năng sinh lợi. Vì vậy, các nhà quản lý có thể làm tăng khả năng sinh lợi
của các công ty của họ bằng cách rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ
chuyển hóa tồn kho, và kỳ thu hồi khoản phải thu.
Riêng ở Việt Nam, PGS.TS Vương Đức Hoàng Quân và ThS. Dương
Diễm Kiều (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền
và khả năng sinh lợi của 29 doanh nghiệp thuộc 4 ngành dược phẩm, ngành
thép, ngành thực phẩm và ngành thủy sản niêm yết trên sàn chứng khoán
TP.HCM (HOSE) với giai đoạn tập trung là từ năm 2010 đến 2014. Kỳ thu


9

tiền bình quân cao nên cũng kéo theo xu hướng chiếm dụng vốn của nhà cung
cấp. Điều này cũng thể hiện được việc quản lý vốn luân chuyển chưa hiệu quả
ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lợi các doanh nghiệp. Về kỳ chuyển
hóa hàng tồn kho, khi doanh nghiệp quản trị hàng tồn kho kém, kỳ luân
chuyển hàng tồn kho quá cao cũng ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lợi

lường lợi nhuận cũng mang hàm ý là đo lường khả năng sinh lợi.
Là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì
cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng
thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi
hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính,
thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho
một hoặc một tập hợp tài sản.
Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập
hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh
nghiệp nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng
được hai đòi hỏi cấp bách:
- Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư).
- Trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.
Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được trích
chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ .Nếu không tính tới
thuế và lãi, khả năng sinh lợi của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm


11

bảo vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng
vốn và trả lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh
vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Nếu khả năng sinh
lợi không đủ lớn, doanh nghiệp sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu
của nhiều yếu tố sản xuất kinh doanh khác nhau. Thặng dư khi đó sẽ không
đủ để duy trì cân bằng tài chính.
Khả năng sinh lợi của tài sản chỉ là một phần vấn đề nảy sinh từ khả năng
sinh của các nguồn vốn thực hiện. Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động của
doanh nghiệp do các cổ đông gánh chịu. Lợi nhuận mà họ thu được không chỉ

Ngoài ra, còn có các hệ số phản ánh khả năng sinh lợi : lợi nhuận ròng,
tỷ suất lợi nhuận gộp (GROSSPR)…Tuy nhiên, trong các nghiên cứu thì chỉ
tiêu được dùng nhiều và phổ biến nhất là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và
lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Nhìn chung, ROA và ROE là hai hệ số
được sử dụng phổ biến nhất. Các hệ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu
quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh khả năng sinh lợi
mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua. Vì thế, nhóm này
là cách nhìn về quá khứ hoặc đánh giá khả năng sinh lợi ngắn hạn của doanh
nghiệp.
b. Các hệ số giá trị thị trường (hệ số về tăng trưởng tài sản)
Một số nghiên cứu sử dụng lợi nhuận trên doanh thu (ROS) , hoặc lợi
nhuận trên vốn đầu tư (ROI) . Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cách sử
dụng ROI thực ra chính là ROA, như trong nghiên cứu của Shah, Butt &
Saeed (2011).
Lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI): là thước đo hiệu suất sử dụng để đánh
giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Nó là một trong những chỉ tiêu phổ
biến nhất được sử dụng để đánh giá các kết quả tài chính, đầu tư kinh doanh.


13

Để đo lường khả năng sinh lợi của công ty thì công thức được sử dụng để tính
toán là
ROI = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản.
Lợi nhuận trên doanh thu (RO S): là một tỷ lệ sử dụng rộng rãi để đánh
giá hiệu suất hoạt động của một doanh nghiệp. ROS cho biết bao nhiêu lợi
nhuận của một doanh nghiệp làm ra sau khi trả chi phí biến đổi như: tiền
lương, nguyên vật liệu…Tỷ lệ này rất khác nhau đối với các ngành khác nhau
nhưng lại rất hữu ích cho việc so sánh giữa các công ty khác nhau trong cùng
một ngành.

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi doanh nghiệp trong
các nghiên cứu trước đây
Thời

Đất

gian

nước

1 Deloof

2003

Bỉ

Tỷ suất lợi nhuận gộp (GROSSP)

2 Gill và cộng sự

2010

USA

Tỷ suất lợi nhuận gộp (GROSSP)

3 Padachi

2006



8

Rezazadeh và
Heydarian

9 Azam và Haider

Chỉ tiêu đo lường lợi nhuận

Pakistan Lợi nhuận hoạt động ròng

Nigerian

Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi
nhuận trên vốn đầu tư (ROIC)
Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và
Lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROIC).
Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và

2010

Nigeria Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
(ROE)

2011

Lợi nhuận trên tài sản (ROA)




Tobin's Q; ROA

13 Denis và Denis

1994

USA

ROA; ROE; Tobin's Q

14 Perrini và cộng sự

2008

Italy

Tobin's Q

15 Le và Buck

2011

Lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

2011

Lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROA)

16

các khoản lãi phát sinh.
Tỷ lệ tài sản cố định / tổng tài sản (TG): Theo Nousheen Tariq Bhutta1,
Arshad Hasan (2013), một công ty với số lượng lớn tài sản cố định thì khả
năng sinh lợi có xu hướng cao hơn vì có thể nó sẽ gia tăng giá trị tài sản trong
tương lai. Nhưng hệ số đòn bẩy có tác động tích cực liên quan đến tài sản hữu
hình và có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận. Vì vậy, có một mối quan hệ tiêu
cực giữa tài sản hữu hình và lợi nhuận.
Quy mô công ty (FS): Nếu quy mô của công ty tăng thì khả năng khả
năng sinh lợi còn tăng. Theo Nousheen Tariq Bhutta1, Arshad Hasan (2013),
có mối quan hệ tích cực giữa quy mô công ty và khả năng sinh lợi doanh
nghiệp.
Tốc độ tăng trưởng (GROWTH): các công ty có tốc độ phát triển tốt thì
khả năng sinh lợi sẽ tăng. Nếu có một sự gia tăng trong tổng tài sản có nghĩa
là tốc độ tăng trưởng cao và khả năng sinh lợi có xu hướng tăng. Tuy nhiên,
theo một suy luận khác thì khi công ty quyết định mở rộng kinh doanh hoặc
công việc làm ăn đang tăng trưởng tốt, nhu cầu về tài sản cố định và tài sản
ngắn hạn sẽ tăng. Vì vậy nhu cầu vốn luân chuyển sẽ tăng để bù đắp cho công
việc kinh doanh trong dài hạn. Điều này có thể mang lại rủi ro cho doanh
nghiệp.
Quản trị vốn luân chuyển (WCM): đây là nhân tố ảnh hưởng đến khả
năng sinh lợi được rất nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều nước phân tích như
Deloof (2003) đã sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) làm thước đo quản



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status