Nghiên cứu công bố thông tin về quản lý rủi ro của các Công ty thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam - Pdf 48

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VÕ HOÀNG TÙNG

NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ
QUẢN LÝ RỦI RO CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC
NGÀNH TÀI CHÍNH NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VÕ HOÀNG TÙNG

NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ
QUẢN LÝ RỦI RO CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC
NGÀNH TÀI CHÍNH NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hữu Cƣờng

Đà Nẵng - Năm 2018



RỦI RO ........................................................................................................... 15
1.4.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) .............................................. 16
1.4.2. Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) ........................................... 17
1.4.3. Lý thuyết chính trị (Political Theory) ........................................... 17
1.4.4. Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory) ...................... 18
1.4.5. Lý thuyết kinh tế thông tin (Information Economics Theory) ....... 19
1.5. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO ................ 19


1.5.1. Quy mô DN ..................................................................................... 20
1.5.2. Tỷ suất nợ........................................................................................ 21
1.5.3. Khả năng sinh lời ............................................................................ 21
1.5.4. Khả năng thanh toán ....................................................................... 22
1.5.5. Chủ thể kiểm toán ........................................................................... 23
1.5.6. Đặc điểm hội đồng quản trị ............................................................ 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 25
CHƢƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ................................................... 26
2.1. THỰC TRẠNG NGÀNH TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM ....................... 26
2.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ....................................................................... 28
2.3. XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ................................ 28
2.3.1. Quy mô doanh nghiệp ..................................................................... 28
2.3.2. Tỷ lệ nợ ........................................................................................... 29
2.3.3. Khả năng sinh lời ............................................................................ 30
2.3.4. Khả năng thanh toán ....................................................................... 30
2.3.5. Chủ thể kiểm toán ........................................................................... 31
2.3.6. Mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị .......................... 31
2.4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 32
2.4.1. Mô hình nghiên cứu ........................................................................ 32
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................ 35

KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCTC

Báo cáo tài chính

BGĐ

Ban giám đốc

CBTT

Công bố thông tin

CTCK

Công ty chứng khoán

DN

Doanh nghiệp

FEM

Mô hình tác động cố định


Công ty quản lý tài sản


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.
2.2.
2.3.

Bảng đo lƣờng mức độ công bố thông tin bắt buộc về
quản lý rủi ro
Bảng đo lƣờng mức độ công bố thông tin tùy ý về quản lý
rủi ro
Bảng đo lƣờng các biến độc lập trong mô hình

Trang
36
38
41

Bảng thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin về
3.1.

quản lý rủi ro của các doanh nghiệp ngành tài chính niêm


Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS phƣơng trình 1

52

3.7.

Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS phƣơng trình 2

54

3.8.

Bảng kết quả hồi quy mô hình FEM phƣơng trình 1

56

3.9.

Bảng kết quả hồi quy mô hình FEM phƣơng trình 2

58

3.10.

Bảng kết quả hồi quy mô hình REM phƣơng trình 1

60

3.11.


đầu.
Toàn cầu hóa cũng đã đặt ra một thách thức đối với lĩnh vực QLRR
trong ngành tài chính. Do các DN nói chung và ngành tài chính nói riêng luôn
mong muốn gia tăng về quy mô vì vậy rủi ro cũng gia tăng tỷ lệ thuận với quy
mô. Ngoài ra, các tổ chức tài chính đang phải đối mặt với nguy cơ gia tăng rủi
ro vì họ đang chấp nhận đầu tƣ vào các dự án có mức rủi ro cao hơn. Chẳng
hạn việc các ngân hàng đang mở rộng tín dụng cho ngƣời có thu nhập thấp,
ngƣời có thu nhập không đáng tin cậy cũng là minh chứng cho thực trạng này.
Việc đa dạng hóa sản phẩm nhƣ vậy có thể tác động tích cực đến lợi nhuận
nhƣng nó lại mang lại rủi ro lớn trong tƣơng lai. Ở nƣớc ta, theo đánh giá của
Moody's1 năm 2017 thì rủi ro của ngành ngân hàng Việt đƣợc coi là nghiêm
trọng nhất trong số các quốc gia đƣợc tổ chức này xếp hạng ở khu vực Châu
Á Thái Bình Dƣơng (Quỳnh Nhƣ, 2017). Trong bối cảnh này, các nhà đầu tƣ,

1

Moody's Investors Service: Tổ chức xếp hạng thống kê quốc gia (NRSNO)


2

cổ đông và các bên có liên quan có quyền và mong muốn đƣợc biết tất cả các
thông tin về rủi ro và QLRR của DN từ đó đƣa ra các quyết định có liên quan.
Tuy vậy, cho đến thời điểm hiện tại thì các nghiên cứu liên quan đến
QLRR và CBTT về QLRR chủ yếu là của các tác giả ngoài nƣớc, và tập trung
chủ yếu ở các nƣớc phát triển. Phần lớn các nghiên cứu này tập trung nghiên
cứu các đối tƣợng là các công ty thuộc nhóm ngành phi tài chính niêm yết.
Hiện nay, tại Việt Nam các nghiên cứu về CBTT về QLRR của các Công ty
thuộc ngành tài chính vẫn còn hạn chế.
Với các lí do trên, đề tài nghiên cứu của luận văn đƣợc chọn là: “Nghiên

Pooled Ordinary List Squares, Fix Effect Model và Random Effect Model.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
các từ viết tắt, danh mục các hình, các bảng và phụ lục, nội dung chính của
luận văn gồm 4 Chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về CBTT về QLRR
Chƣơng 2. Thiết kế nghiên cứu
Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu
Chƣơng 4. Hàm ý chính sách và kết luận
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Oliveira, Rodrigues và Craig (2001) đã thực hiện một nghiên cứu thăm
dò về CBTT rủi ro trong báo cáo hàng năm của các tổ chức tín dụng tại Bồ
Đào Nha. Nghiên cứu này đánh giá các hoạt động báo cáo rủi ro của 190 tổ
chức tín dụng ở Bồ Đào Nha dựa trên phân tích nội dung của từng báo cáo
thƣờng niên. Ngoài ra, các tác giả còn đánh giá mức độ thay đổi về công bố
rủi ro trƣớc và sau khi áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) số
7 và Basel II. Kết quả cho thấy rằng việc áp dụng IFRS đã làm tăng số lƣợng


4

thông tin liên quan đến rủi ro đƣợc công bố so với yêu cầu của chính sách Kế
toán ban đầu của Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, vị trí của các thông tin công bố
không đồng nhất. Các ngân hàng thƣơng mại thƣờng báo cáo về rủi ro trong
các phần cụ thể của báo cáo hàng năm. Ngƣợc lại, các công ty tài chính đã
cho thấy mức độ báo cáo thấp hơn và thông tin đƣợc phân tán trong suốt Báo
cáo thƣờng niên, làm giảm khả năng hiểu đƣợc. Tuy nhiên, khoảng trống của
nghiên cứu này là không phân tích chuyên sâu về chất lƣợng công bố; Khả
năng cung cấp thông tin về rủi ro có thể đƣợc báo cáo qua các phƣơng tiện
truyền thông khác ngoài báo cáo thƣờng niên (chẳng hạn nhƣ báo cáo giữa

trong báo cáo thƣờng niên của các công ty ở Anh. Nghiên cứu này khảo sát
CBTT rủi ro của 79 báo cáo thƣờng niên của công ty phi tài chính ở Anh vào
năm 2000 bằng cách sử dụng phƣơng pháp phân tích nội dung. Nghiên cứu
tìm thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ CBTT về rủi ro (phi tài
chính và tài chính) với quy mô công ty, và mối quan hệ ngƣợc chiều giữa số
lƣợng CBTT với mức độ rủi ro về môi trƣờng của công ty. Tuy nhiên, nghiên
cứu mới chỉ khảo sát trên báo cáo thƣờng niên của các công ty phi tài chính
và các nhân tố đƣợc đƣa vào vẫn còn hạn chế.
Amran, Bin và Hassan (2009) nghiên cứu CBTT về QLRR trong báo cáo
thƣờng niên của Malaysia. Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá mức
độ của việc CBTT rủi ro trên Báo cáo thƣờng niên của các công ty Malaysia
bằng cách tập trung vào phần phi tài chính của các Báo cáo. Phƣơng pháp
đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích nội dung. Tổng cộng 100 báo
cáo thƣờng niên của các công ty niêm yết đã đƣợc phân tích để đánh giá mức
độ CBTT về rủi ro và kiểm tra mối quan hệ của nó với đặc thù của công ty và
chiến lƣợc đa dạng hóa. Ngoài ra, lý thuyết các bên liên quan đã đƣợc sử
dụng để giải thích mối liên hệ giữa các biến. Nghiên cứu đã phát hiện ra quy
mô công ty có ảnh hƣởng và đã đƣợc chứng minh bằng các kết quả hồi quy.
Kết quả này phù hợp với dự đoán của các tác giả và nó đƣợc giải thích từ lý


6

thuyết các bên liên quan. Cụ thể, khi công ty phát triển về quy mô, nó sẽ thu
hút nhiều bên liên quan quan tâm hơn đến các vấn đề của công ty, từ đó yêu
cầu CBTT về QLRR cũng tăng lên. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ khảo sát
ban đầu về CBTT về QLRR thực tế tại Malaysia, vì vậy chỉ một vài biến đƣợc
sử dụng trong nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu này sử dụng lại danh mục
đánh giá của Linsley và Shrives (2006).
Elzahar và Hussainey (2012) nghiên cứu các yếu tố quyết định của việc

Malaysia.
Kolmatsui, Legenzova và Seilius (2016) đã đánh giá rủi ro và thông tin
QLRR của các công ty niêm yết tại Nasdaq OMX Baltic và Euronext
Brussels. Mục đích chính của nghiên cứu này là đánh giá sự khác biệt giữa
CBTT rủi ro và QLRR giữa các công ty niêm yết tại Nasdaq OMX Baltic và
Euronext Brussels và xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến những khác biệt đó.
Các tác giả đã sử dụng kết hợp phƣơng pháp định tính và định lƣợng bằng
cách phân tích nội dung, cũng nhƣ các phân tích hồi quy. Kết quả cho thấy
các công ty niêm yết tại Euronext Brussels công bố nhiều thông tin về QLRR
và rủi ro hơn. Thông tin liên quan đến rủi ro và QLRR có tính định tính, chủ
yếu tập trung vào các sự kiện trong quá khứ hoặc hiện tại ở cả hai sàn. Các
công ty CBTT về các rủi ro nhiều hơn là về QLRR và chỉ có quy mô công ty
và sự hiện diện của các công ty kiểm toán là những yếu tố quan trọng ảnh
hƣởng đến CBTT về QLRR và rủi ro của các Công ty.
Samanta và Dugal (2016) đã nghiên cứu đánh giá bản chất và đặc điểm
của báo cáo QLRR theo quy định của các ngân hàng tƣ nhân và ngân hàng
công ở Ấn Độ. Báo cáo CBTT năm 2012-2013 của 38 của ngân hàng đƣợc
lựa chọn để về nội dung theo yêu cầu của Basel II. Kết quả cho thấy phần lớn
CBTT của các ngân hàng tập trung vào rủi ro tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn và
số lƣợng CBTT khác nhau giữa các ngân hàng. Trong số ba loại rủi ro lớn (thị
trƣờng, tín dụng và hoạt động), công bố rủi ro trong hoạt động là ít nhất, các


8

ngân hàng hầu nhƣ chỉ công bố tối thiểu về một số khía cạnh chính của rủi ro
hoạt động. Ngoài ra, các tác giả quan sát thấy rằng quy mô tài sản và thu nhập
ròng tỷ lệ thuận với mức độ công bố theo quy định.
Zéghal và El Aoun (2016) đã điều tra tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính đối với vấn đề QLRR trong các ngân hàng lớn nhất của Mỹ. Nghiên

Achmad, Faisal và Oktarina (2017) đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh
hƣởng đến thực tế CBTT tự nguyện của các công ty tại Indonesia. Nghiên cứu
này xem xét ảnh hƣởng của quản trị DN và đặc điểm công ty đến việc CBTT
về rủi ro của các công ty đại chúng tại Indonesia. Tổng cộng 118 báo cáo
thƣờng niên đã đƣợc phân tích bằng cách sử dụng phƣơng pháp phân tích nội
dung. Nghiên cứu đã vận dụng danh mục kiểm tra của Linsley và Shrives
(2006) và mở rộng thêm để đo lƣờng mức độ CBTT về rủi ro. Kết quả cho
thấy chỉ số CBTT về rủi ro trung bình là 32%. Phân tích thống kê cho thấy
quy mô công ty kiểm toán, quy mô công ty và hoạt động tài chính tác động
tích cực đến mức độ CBTT về rủi ro. Ý nghĩa của các phát hiện này cho thấy
thực tế về quản trị DN ở Indonesia không đủ khuyến khích các công ty CBTT
về rủi ro nhiều hơn. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tình hình
CBTT về rủi ro hiện tại và vai trò của các công ty kiểm toán trong việc tăng
cƣờng CBTT về rủi ro ở Indonesia - một nƣớc đang phát triển.


10
CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
1.1. CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
1.1.1. Công bố thông tin
Theo Sổ tay CBTT dành cho công ty niêm yết của Sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội (2013): “Công bố thông tin đƣợc hiểu là phƣơng thức để thực
hiện quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng
đầu tƣ có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời”.
“Tầm quan trọng của việc công bố thông tin của công ty bắt nguồn từ
việc đó là một phƣơng tiện giao tiếp giữa nhà quản lý với các nhà đầu tƣ bên
ngoài và những ngƣời tham gia thị trƣờng nói chung” (Hassan & Marston,

Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo
cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện
trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo
cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.
Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế
toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo
kịp thời, đúng hoặc trƣớc thời hạn quy định, không đƣợc chậm trễ.
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong BCTC phải rõ
ràng, dễ hiểu đối với ngƣời sử dụng. Ngƣời sử dụng ở đây đƣợc hiểu là ngƣời
có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình.
Thông tin về những vấn đề phức tạp trong BCTC phải đƣợc giải trình trong
phần thuyết minh.


12

Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán
trong một DN và giữa các DN chỉ có thể so sánh đƣợc khi tính toán và trình
bày nhất quán. Trƣờng hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần
thuyết minh để ngƣời sử dụng BCTC có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế
toán, giữa các DN hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế
hoạch.
b. Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính
BCTC là một trong các công cụ để DN truyền tải thông tin về tình hình
hoạt động của DN ra bên ngoải và đƣợc xem nhƣ là công cụ hữu ích nhất của
DN trong việc truyền tải thông tin đến các đối tƣợng quan tâm trên thị trƣờng.
Ngoài ra, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 - Chuẩn mực chung cũng quy
định rõ các yếu tố cơ bản của BCTC. Theo đó, BCTC phản ánh tình trạng tài

(Bộ Tài chính, 2015).
1.1.3. Quản lý rủi ro
COSO2 định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp “là một quy trình đƣợc
thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp
dụng trong quá trình xây dựng chiến lƣợc doanh nghiệp thực hiện xác định
những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hƣởng đến doanh nghiệp đồng thời
quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đƣa ra mức độ đảm bảo trong
việc đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp”. Trong khi đó, rủi ro đƣợc định
nghĩa là tập hợp của các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó cũng
nhƣ hậu quả của nó
Quy trình quản lý rủi ro đƣợc thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn
kết với việc xây dựng và thực thi chiến lƣợc của DN. Về cơ bản, quy trình
QLRR cần chứa đựng những giai đoạn hay bƣớc công việc cơ bản nhƣ xác
2

Hội đồng các tổ chức tài trợ Ủy ban Treadway


14
định rủi ro, mô tả rủi ro, lƣợng hóa rủi ro, phân tích rủi ro, xếp hạng rủi ro,
đánh giá rủi ro, lập báo cáo về rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình
trình QLRR.
1.1.4. Công bố thông tin về quản lý rủi ro
CBTT về QLRR là việc thông báo đến công chúng đầu tƣ về các loại rủi
ro công ty đang và sẽ phải đối mặt và cách thức công ty đối phó với những rủi
ro đó nhƣ thế nào nhằm tạo niềm tin với công chúng đầu tƣ về khả năng đối
phó với rủi ro của DN, từ đó thu hút tài trợ từ các nhà đầu tƣ.
Nội dung CBTT liên quan đến QLRR bao gồm:
Nhận diện các loại rủi ro nhƣ: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, thị
trƣờng bao gồm: biến động lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro giá cả hàng hóa, rủi ro

mức độ quan trọng khác nhau đối với ngƣời sử dụng và do vậy đƣợc gán bởi
các trọng số khác nhau khi đánh giá mức độ CBTT. Chẳng hạn, nếu một mục
thông tin không đƣợc công bố sẽ đƣợc gán giá trị bằng không (0), bằng (1)
nếu là công bố định tính, và bằng (2) nếu là công bố bao gồm cả định tính và
định lƣợng.
Trong luận văn này phƣơng pháp đo lƣờng bằng thang đo không có
trọng số đƣợc áp dụng để đo lƣờng mức độ CBTT về QLRR bắt buộc và tùy
ý.
1.4. LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ
RỦI RO
Trên thực tế, mức độ CBTT về QLRR của các DN là khác nhau do nhiều
yếu tố. Đó có thể là do mục đích của nhà quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin
của ngƣời sử dụng hoặc do sự chênh lệch về mặt chi phí bỏ ra và lợi ích mang


16
lại khi CBTT về QLRR... Sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT
về QLRR có thể đƣợc lý giải theo nhiều lý thuyết khác nhau. Các nghiên cứu
trƣớc đây sử dụng nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích sự chênh lệch về
mức độ CBTT về QLRR cũng nhƣ sự ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ
CBTT về QLRR. Các lý thuyết đƣợc sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu
trƣớc đây gồm: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí chính
trị, lý thuyết chi phí sở hữu, và lý thuyết kinh tế thông tin.
1.4.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Lý thuyết đại diện đƣợc phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công
bố năm 1976. Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên
đƣợc ủy quyền (cổ đông/chủ sở hữu công ty và nhà quản lý/ban giám đốc công
ty). Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của
mình, thì chắc chắn rằng ngƣời quản lý DN sẽ không hành động vì lợi ích tốt
nhất cho ngƣời chủ sở hữu, mà trái lại, họ luôn có xu hƣớng tìm kiếm lợi ích cá

dụng thông tin tài chính nhƣ là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trƣờng. Vì
vậy các DN cần phải CBTT ra thị trƣờng một cách tự nguyện và đƣa các tín
hiệu đến các nhà đầu tƣ. CBTT là một trong những công cụ mà DN có thể sử
dụng tạo sự khác biệt về chất lƣợng hoạt động của bản thân DN so với các
DN khác.
Lý thuyết tín hiệu giải thích hành vi của các nhà quản lý khi họ thể hiện
khả năng xác định, đo lƣờng và QLRR thông qua việc báo cáo nhiều thông tin
về rủi ro hơn. Do đó, họ có thể tạo sự khác biệt giữa mình với những nhà
quản lý khác (Elshanididy, Fraser & Hussainey, 2013).
1.4.3. Lý thuyết chính trị (Political Theory)
Lý thuyết chi phí chính trị đƣợc công bố lần đầu bởi Watts và
Zimmerman vào năm 1978. Lý thuyết về ảnh hƣởng của chính trị cho rằng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status