Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ tín dụng ở việt nam - Pdf 48

MỤC LỤC
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TOÁN BẰNG THẺ
TÍN DỤNG.....................................................................................................10
1.1.Khái niệm và đặc điểm của thẻ tín dụng:..........................................10
1.1.1. Khái niệm thẻ tín dụng:...............................................................10
1.1.2. Đặc điểm của thẻ tín dụng:..........................................................15
1.2. Phân loại thẻ tín dụng:........................................................................18
1.3. Khái niệm và đặc điểm thanh toán bằng thẻ tín dụng:...................22
1.3.1. Khái niệm:.....................................................................................22
1.3.2. Đặc điểm của thanh toán bằng thẻ tín dụng:.............................24
1.4. Vai trò của phương thức thanh toán bằng thẻ tín dụng..................26
Kết luận chương I..........................................................................................31
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN BẰNG
THẺ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..............................................32
2.1. Điều kiện phát hành thẻ tín dụng......................................................32
2.2. Trình tự, thủ tục thanh toán bằng thẻ tín dụng:..............................36
2.2.1. Quy trình phát hành thẻ:.............................................................37
2.2.2. Quy trình thanh toán thẻ trực tiếp tại Đơn vị chấp nhận thẻ:. 39
2.2.3.Quy trình thanh toán thẻ qua mạng Internet.............................41
2.2.4. Quy trình giao dịch với việc rút tiền mặt...................................43
2.3. Chủ thể tham gia hoạt động thanh toán bằng thẻ tín dụng............45
2.4. Quan hệ pháp lý phát sinh từ hoạt động thanh toán bằng thẻ tín
dụng:...........................................................................................................47
2.4.1. Quan hệ pháp lý giữa Tổ chức phát hành thẻ ( ngân hàng phát
hành thẻ ) và chủ thẻ tín dụng:.............................................................47

1




TCPHT

: Tổ chức phát hành thẻ.



NHPHT

: Ngân hàng phát hành thẻ.



NHNN

: Ngân hàng Nhà nước.



NN

: Nhà nước.



ĐVCNT

: Đơn vị chấp nhận thẻ.




KH

: Khách hàng

3


Phần mở đầu
1.

Tính cấp thiết của đề tài:
Lĩnh vực thẻ ngân hàng ở nước ta nói chung và thẻ tín dụng nói riêng

đang phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên,
chính sự phát triển này cũng đã tiềm ẩn rất nhiều vấn đề nảy sinh trong việc
đảm bảo quyền và các lợi ích cơ bản của các bên tham gia vào thị trường thẻ
ở nước ta. Hành lang pháp lý trong lĩnh vực thẻ tín dụng hiện nay đang có
nhiều lỗ hổng đáng lưu ý. Nắm bắt được yêu cầu cấp thiết trong việc cần bổ
sung nhiều qui định cụ thể hơn nữa để điều chỉnh các vấn đề phát sinh xung
quanh lĩnh vực thanh toán bằng thẻ tín dụng mà Pháp luật Việt Nam vẫn còn
đang thiếu, khóa luận với đề tài “ Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng
thẻ tín dụng ở Việt Nam “ ra đời với mong muốn được góp một phần nhỏ ý
kiến để có thêm nhiều cái nhìn sinh động và khách quan về lĩnh vực thanh
toán bằng thẻ tín dụng ở nước ta hiện nay.
2.

Tình hình nghiên cứu:
Khóa luận đã đi sâu tìm hiểu và khái quát chung được các kiến thức về


cùng với sự hạn hẹp về thời gian nghiên cứu, khóa luận chỉ tập trung tìm hiểu
về một số vấn đề pháp lý về lĩnh vực thanh toán bằng thẻ tín dụng chứ không
tìm hiểu sâu hơn về toàn bộ pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực thanh toán ngân
hàng nói chung. Khóa luận đã được nghiên cứu dựa trên sự tham khảo các
văn bản pháp luật chuyên ngành như: Bộ luật dân sự Việt Nam, Luật Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng…; cũng như tìm hiểu về
các nguồn thông tin trên các phương tiện truyền thông như: Tạp chí ngân
hàng Việt Nam, Thời báo Kinh tế Việt Nam, báo Thanh Niên, các trang web
chính thức của ngân hàng nhà nước, hiệp hội thẻ Việt Nam, các ngân hàng
thương mại trong nước cũng như nước ngoài…và các giáo trình, sách tham
khảo của các giảng viên khoa Luật, học viện Ngân hàng…
5.

Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận được thực hiện theo sự kết hợp của nhiều phương pháp

nghiên cứu khác nhau, như: phương pháp thống kê, thu thập tài liệu; phương
pháp so sánh; phương pháp tổng hợp, phân tích… Phương pháp thống kê đã
5


mang lại nhiều số liệu thực tiển khách quan về tình hình phát triển của các
giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng. Phương pháp thu thập tài liệu giúp
khóa luận có được nhiều nguồn thông tin khách quan bổ trợ cũng như có các
tư liệu quý giá để nghiên cứu đề tài. Ngoài ra, nhờ vào phương pháp so sánh
các số liệu về tình hình phát triển của thị trường thẻ ngân hàng qua các năm,
khóa luận đã có cái nhìn tổng quát hơn về đề tài nghiên cứu. Cuối cùng, khóa
luận đã kết hợp giữa phương pháp tổng hợp và phân tích để đưa ra những
nhận xét, đánh giá khách quan về đề tài nghiên cứu: “ Một số vấn đề pháp lý

tín dụng và quản lý nhà nước đối với hoạt động thanh toán bằng thẻ tín dụng.
Chương III “ Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thẻ tín
dụng ở Việt Nam “ đã nêu ra sự cần thiết của hoàn thiện pháp luật về thẻ tín
dụng; đánh giá về sự quản lý nhà nước về tội phạm thẻ hiện nay và đề xuất
một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẻ tín dụng như thống nhất hóa các
quy định về phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng trong một văn bản
pháp luật.
Thẻ tín dụng từ lâu đã trở nên phổ biến với người dân ở các nước trên
thế giới. Nhưng ở Việt Nam, thẻ ngân hàng nói chung và thẻ tín dụng nói
riêng mới được biết đến trong khoảng gần hai thập kỷ trở lại đây. Cùng với sự
phát triển ồ ạt và tăng trưởng đồng đều của hệ thống các Ngân hàng thương
mại hiện nay, số lượng thẻ tín dụng ở thị trường Việt Nam đang không ngừng
tăng lên một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, xét trên mặt bằng thế giới, số
lượng thẻ tín dụng ở thị trường thẻ Việt Nam là không nhiều. Trước đây, phần
đông đa số người dân nước ta vẫn chưa có thói quen sử dụng thường xuyên
thẻ tín dụng trong các giao dịch thanh toán tiêu dùng, thậm chí không ít người
vẫn lạ lẫm với chiếc thẻ tín dụng cũng như khá mơ hồ về các tính năng của
nó. Tình hình này đã được cải thiện rất nhiều nhờ vào sự cải tiến và nâng cao
chất lượng phục vụ của hệ thống Ngân hàng trong nước ngày một hiện đại,
mang nhiều tiện ích hơn cho khách hàng. Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO
đánh dấu một bước tiến dài lịch sử được thế giới ghi nhận của nền kinh tế
nước ta. Nền kinh tế thương mại Việt Nam tiến bước hòa nhập với thị trường
quốc tế. Các tập đoàn kinh tế lớn trên toàn cầu tiến hành các dự án đầu tư,
kinh doanh ở thị trường nội địa. Theo đó, các ngân hàng thương mại trong
nước đã nỗ lực không ngừng để bắt kịp với nhịp phát triển của hệ thống dịch
vụ NH ở các nước cường quốc kinh tế trên thế giới, để có thể đứng vững cũng
như cạnh tranh được với các NH nước ngoài đang xâm nhập thị trường kinh
7



vào các gia dịch mà không phải xuất trình nhiều giấy tờ liên quan khác. Tính
năng tiện lợi này của thẻ đặc biệt hữu dụng khi tham gia vào các giao dịch
thanh toán ngân hàng, các giao dịch thanh toán tiêu dùng phát sinh thường
xuyên trong đời sống hàng ngày của người dân. Thẻ tín dụng ra đời đã thể
hiện đầy đủ các tính năng hoàn thiện đó.
Tín dụng được xem là hoạt động mang tính chất đặc trưng của các ngân
hàng nên thẻ tín dụng thường do Ngân hàng phát hành. Thẻ tín dụng không
chỉ đại diện cho hoạt động tín dụng ngân hàng mà nó còn có chức năng sử
dụng chủ yếu là để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, nhằm mục đích thanh
9


toán tiêu dùng. Do đó, thẻ tín dụng là một loại thẻ thanh toán khá phổ biến
hiện nay. Với những đặc tính chung nêu trên, thì thẻ tín dụng sẽ mang những
tính chất, đặc điểm của cả thẻ ngân hàng và thẻ thanh toán. Như vậy, có thể
tìm hiểu khái niệm thẻ tín dụng thông qua khái niệm, bản chất của thẻ thanh
toán và thẻ ngân hàng.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, thẻ thanh toán có thể được
hiểu là : ” chìa khóa đa năng để chủ thẻ kết nối với các chủ thẻ khác tham gia
hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được
thỏa thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thõa mãn nhu cầu của mình
”[21] . Như vậy, về phía chủ thể sử dụng thẻ thanh toán thì chỉ khi sở hữu và
sử dụng thẻ thanh toán để thực hiện các nhu cầu tiêu dùng của mình, mới có
thể tham gia vào hệ thống thanh toán thẻ và đương nhiên kết nối giao dịch với
các chủ thể khác theo một chu trình khép kín. Còn về phía các tổ chức phát
hành thẻ thì “ Thẻ thanh toán là một phương thức giao dịch ghi sổ những số
tiền thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống máy tính kết
hợp nối trung tâm thẻ với các điểm thanh toán ” [22]. Theo đó, thanh toán
bằng thẻ thanh toán được xem như là một phương thức giao dịch ghi sổ - một
nghiệp vụ qua ngân hàng kết hợp với sức mạnh của sự phát triển khoa học,

đã lần đầu tiên thể hiện khái niệm về thẻ ngân hàng. Theo đó, Thẻ ngân hàng
là công cụ thanh toán do tổ chức phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng
theo hợp đồng kí kết giữa tổ chức phát hành thẻ và chủ thẻ 3. Khái niệm này
thể hiện sự mở rộng hơn về chủ thể phát hành thẻ ( có thể hiểu không chỉ là
ngân hàng mới có quyền phát hành thẻ ), đồng thời nó cũng khẳng định hình
thức giao dịch là hợp đồng và cơ sở phát sinh các quyền, nghĩa vụ của các bên
là từ hợp đồng đã được kí kết. Quy chế này còn thể hiện sự rõ ràng về mặt
khái niệm qua sự phân tách thẻ ngân hàng thành 2 loại là thẻ thanh toán và thẻ
tín dụng. Tuy thẻ thanh toán và thẻ tín dụng đều là thẻ ngân hàng, phục vụ
cho mục đích thanh toán tiêu dùng, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau
về một vài đặc tính riêng. Theo đó, thẻ thanh toán là thẻ được Chủ thẻ sử
dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt trong phạm vi số dư
trên tài khoản tiền gửi của mình tại tổ chức phát hành thẻ 4. Nếu số tiền trong
tài khoản thẻ thanh toán được hình thành từ số tiền gửi của chủ thẻ, thì số tiền
2

Điều 24, “Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, quyết định số 22 /QĐ-NH1 ngày 21/02/1994

của Thống đốc Ngân hàng nhà nước
3

“ Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng”, Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN

ngày 19/10/1999 của thống đốc Ngân hàng nhà nước

11


trong tài khoản thẻ tín dụng lại được cấp từ số tiền cho vay của ngân hàng cho
chủ thẻ. Bởi Thẻ tín dụng được khái quát là loại thẻ cho phép Chủ thẻ thanh

ngày 19/10/1999 của thống đốc Ngân hàng nhà nước
6

“Quy chế phát hành, sử dụng, thanh toán và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thẻ ngân hàng”, Quyết định

20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN ban hành

12


Như vậy, “ thẻ tín dụng “ đã được pháp luật nêu ra những khái niệm,
định nghĩa cơ bản. Tuy nhiên khái niệm trên vẫn chưa được thể hiện thống
nhất một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật. Theo đó, thẻ tín dụng và thẻ
thanh toán vẫn được khái quát hóa thông qua các đặc trưng cơ bản của chúng.
Vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì: “ Thẻ tín dụng là phương tiện thanh
toán do ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng phát hành theo thỏa thuận
với chủ thẻ nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín dụng tiêu dùng, cho phép chủ
thẻ thanh toán trong một hạn mức tiền nhất định qua việc xác lập quan hệ
thanh toán giữa chủ thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ, đồng thời cũng xác lập
quan hệ vay nợ giữa chủ thẻ với tổ chức đã phát hành thẻ ”.
Như vậy, không phải bất cứ chủ thể nào cũng được phép pháp hành thẻ
tín dụng. Chủ thể phát hành thẻ tín dụng ở Việt Nam phải là tổ chức được cấp
giấy phép của Thống đốc NHNN Việt Nam cho việc thực hiện hoạt động phát
hành thẻ và thanh tóan thẻ tín dụng. TCPHT đáp ứng được quy định ở đây là
NH hoặc tổ chức phi ngân hàng. Thẻ tín dụng được phát hành với mục đích
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của chủ thẻ - khách hàng giao dịch với các NH
hoặc tổ chức phi NH phát hành thẻ tín dụng. Chủ thẻ sẽ được TCPHT cấp
trước cho một số tiền nhất định trong tài khỏan theo đúng thỏa thuận với
TCPHT để sử dụng số tiền này thực hiện việc mua sắm hàng hóa, tiêu dùng
dịch vụ tại các ĐVCNT – chủ thể kinh doanh thương mại chấp nhận thanh

chủ thẻ của các TCPHT xác thực thì khách hàng được chấp nhận đơn yêu cầu
cấp thẻ tín dụng và được hướng dẫn tiến hành các thủ tục khác để trở thành
chủ thẻ tín dụng của TCPHT. Chủ thẻ dùng chính thẻ tín dụng của mình để tự
xác lập các giao dịch thương mại, dân sự, giao dịch thanh toán, tín dụng…
* Thẻ tín dụng được phát hành từ hợp đồng sử dụng thẻ theo thỏa
thuận giữa chủ thẻ và tổ chức phát hành thẻ.
Trước khi kí kết hợp đồng sử dụng thẻ giữa chủ thẻ và tổ chức phát
hành thẻ thì chủ thẻ phải có đơn yêu cầu được cấp thẻ tín dụng gửi đến tổ
chức phát hành thẻ. Theo đó, chủ thẻ phải chứng minh được năng lực chủ thể,
khả năng tài chính, khả năng trả nợ của mình như: đủ độ tuổi, có địa chỉ rõ
ràng, có nguồn thu nhập ổn định, vững vàng, có tài sản bảo đảm thuộc sở hữu,
14


có uy tín trong quan hệ tín dụng... Sau khi đã thẩm định các thông tin và xác
thực tư cách khách hàng của chủ thẻ, đồng thời nhận thấy đáp ứng đủ các điều
kiện được vay, Tổ chức phát hành thẻ tiến hành xác nhận cho người yêu cầu
thông qua việc cấp thẻ tín dụng cho khách hàng. Việc này đồng nghĩa là tổ
chức phát hành cam kết thanh toán hộ cho chủ thẻ mỗi khi phát sinh giao
dịch. Hợp đồng sử dụng thẻ còn bao gồm điều kiện, trình tự, thủ tục để thực
hiện thanh toán qua trung gian như: mở tài khoản thẻ, cam kết thanh toán, các
điều khoản về xác nhận nợ, tài sản bảo đảm, nguồn trả nợ cũng như hạn mức
tín dụng, phương thức xử lý khi chậm thực hiện nghĩa vụ…
* Thẻ tín dụng luôn gắn liền với một tài khoản ngân hàng nhất
định
Hạn mức tín dụng của thẻ tín dụng chính là phạm vi số tiền mà ngân
hàng cấp cho chủ thẻ vay trong tài khoản thẻ. Tài khoản này do chủ thẻ đứng
tên và mở tại tổ chức phát hành thẻ ( nếu tổ chức phát hành thẻ cũng là ngân
hàng ) hoặc tại một ngân hàng mà tổ chức phát hành thẻ ủy quyền ( nếu tổ
chức phát hành thẻ không phải là ngân hàng ). Khi sử dụng thẻ tín dụng để

thời điểm mà tổ chức phát hành thẻ ấn định. Chính có lẽ vì phát sinh từ quan
hệ vay nợ mà thuật ngữ “ tín dụng ” được dùng để đặt tên cho loại thẻ thanh
tóan này.
* Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán phổ biến không dùng tiền mặt
trong hệ thống thanh toán thẻ tuần hoàn
Có thể thấy việc thẻ tín dụng được sử dụng như là một công cụ thanh
toán mà qua đó, chủ thẻ có thể kết nối được với các chủ thể khác trong cùng
một hệ thống thanh toán với các bên có liên quan được kết nối chặt chẽ với
nhau theo một số nguyên tắc cơ bản thống nhất chung trong. Các tổ chức phát
hành phát hành thẻ sẽ có trách nhiệm cung cấp thông tin và hướng dẫn cách
sử dụng các máy móc công nghệ phục vụ cho việc thanh tóan bằng thẻ tín
dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ, cũng như thỏa thuận với NHTTT để sử
dụng cùng loại máy móc công nghệ với ngân hàng thanh toán thẻ. Các bên
tham gia trong hệ thống thanh toán thẻ tín dụng thường đã có mối quan hệ
thân tín hoặc uy tín trong lĩnh vực phát hành, lưu hành và thanh toán thẻ. Hiện
16


nay, mạng lưới các tổ chức hoạt động thẻ tín dụng được mở rộng ở nhiều
nước trên thế giới và hệ thống thẻ tín dụng phổ cập toàn cầu mang lại nhiều
tiện ích phục vụ cho các nhu cầu vui chơi, giải trí, mua sắm, học tập, du lịch,
chữa bệnh… của hàng triệu người ở khắp mọi nơi với sự chính xác và an toàn
cao. Việc sử dụng thẻ tín dụng đã khắc phục được rất nhiều điều bất tiện khi
thanh tóan bằng tiền mặt, nhất là với những chủ thẻ hay dịch chuyển, sinh
hoạt ở nhiều địa điểm khác nhau như: thương nhân, du khách, du học sinh,
vận động viên chuyên nghiệp…
1.2. Phân loại thẻ tín dụng:
Thẻ tín dụng được chia thành nhiều loại để thuận tiện trong quá trình
lưu thông, tiêu dùng thẻ theo các tiêu chí như : công nghệ sản xuất, hạn mức
tín dụng, phạm vi hoạt động của thẻ, chủ thể phát hành, chức năng thanh

Theo đó, thẻ tín dụng có 2 loại sau đây:
- Thẻ vàng ( Golden Card ) là loại thẻ hạng ưu, phù hợp với mức sống
và nhu cầu tài chính của KH có thu nhập cao, được phát hành cho những đối
tượng uy tín, có địa vị xã hội, có khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi
tiêu lớn như: vụ trưởng trở lên ở các bộ của chính phủ, giám đốc của các
doanh nghiệp liên doanh, trưởng bộ phận kinh doanh tại các công ty 100%
vốn nước ngoài... Điểm nổi trội là có hạn mức tín dụng lớn. Hiện nay ở các
NHTM Việt Nam, hạn mức tín dụng của thẻ vàng tối đa là 50 triệu VNĐ [32],
[33], [34].
- Thẻ thường ( Standard card ): là loại thẻ Tín dụng với hạn mức tín
dụng thấp hơn, phổ thông, phổ biến, sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới theo
nhu cầu tiêu dùng cá nhân là chủ yếu. Thẻ này được phát hành cho nhiều đối
tượng thuộc tầng lớp dân cư có thu nhập ổn định nhưng thấp hơn các đối
tượng chủ thẻ của thẻ Vàng. Hiện nay, các NHTM ở Việt Nam thường đồng ý
cấp hạn mức tín dụng tối đa cho loại thẻ thường là 20 triệu VNĐ [32], [33], [34].
* Phân loại theo phạm vi sử dụng:

18


Tính tiện lợi nhỏ gọn của thẻ tín dụng giúp cho chủ thẻ có thể mang thẻ
tín dụng bên người ở bất cứ đâu. Bên cạnh đó, việc liên kết, thống nhất của hệ
thống thẻ toàn cầu khiến cho các chủ thẻ có thẻ thực hiện các giao dịch ở mọi
nơi trên thế giới, chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp của mỗi quốc gia.
Theo đó, thẻ tín dụng có 2 loại là:
- Thẻ nội địa: thẻ được giới hạn theo phạm vi quốc gia, đồng tiền giao
dịch là đồng tiền nội tệ của mỗi quốc gia, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng, mua sắm hàng hóa nội địa của dân cư trong mỗi quốc gia. Các TCPHT
nội địa thường là các NHTM hoạt động kinh doanh trong nước.
- Thẻ quốc tế: thẻ được sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán.

đầu phát triển của thẻ tín dụng nhưng hiện nay đang dần bị thay thể bởi thẻ
on-line để giảm bớt rủi ro và tranh chấp, cũng như để thay đổi công nghệ hiện
đại hơn.
- Thẻ on-line: là thẻ có tính năng kết nối trực tiếp vào hệ thống thanh
toán điện tử giữa đơn vị chấp nhận thẻ với các tổ chức thanh toán thẻ thông
qua mấy móc hiện đại như EDC, ATM…Đơn vị chấp nhận thẻ vẫn phải nộp
các hóa đơn, chứng từ hợp lệ ( Hóa đơn đã được cà các thông tin dập nổi trên
thẻ, chứng từ có chữ ký của chủ thẻ…) thì mới được tổ chức thanh toán thẻ
thanh toán lại. Tuy nhiên, giá trị giao dịch thì đã được khấu trừ ngay vào tài
khoản của chủ thẻ ngay sau giao dịch thẻ thông qua hệ thống thanh toán điện
tử. Các rủi ro đối với đơn vị chấp nhận thẻ sẽ được giảm thiểu hơn so với thẻ
off-line. Với sự tiện dụng và an toàn cao, hiện đại, thẻ on-line đang được ưa
chuộng và sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới.
* Phân loại theo tính chất tài khoản thẻ:
- Thẻ hạn mức thấu chi: là loại thẻ gắn liền với một loại thanh toán của
chủ thẻ nhưng tài khoản này được cấp một hạn mức thấu chi - tức là chủ thẻ
có thể sử dụng vượt quá số tiền thực có trên tài khoản thẻ. Số tiền vượt quá
được coi là khoản nợ đối với tổ chức phát hành thẻ và không được vượt quá
hạn mức thấu chi đươc cấp cho chủ thẻ.
- Thẻ hạn mức tín dụng: là loại thẻ không gắn liền với tài khoản thanh
toán của chủ thẻ mà chỉ gắn với tài khoản chuyên được theo dõi dư nợ và thu
20


nợ. Tài khoản này được cấp hạn mức tín dụng để chủ thẻ sử dụng trong phạm
vi hạn mức tín dụng đó.
* Phân loại theo chủ thể nắm giữ thẻ:
- Thẻ công ty: là loại thẻ do một tổ chức yêu cầu tổ chức phát hành thẻ
phát hành. Người sử dụng thẻ là người được tổ chức đó ủy quyền và có tên in
nổi trên thẻ cùng với tên của tổ chức. Tổ chức yêu cầu phát hành thẻ phải chịu

toán gián tiếp, thanh toán ngay và thanh toán trả chậm, thanh toán bằng tiền
mặt hoặc các giấy tờ có giá và thanh toán không dùng tiền mặt qua các trung
gian thanh toán…
Thanh toán bằng thẻ tín dụng tức là việc sử dụng thẻ tín dụng như một
công cụ thanh toán không dùng tiền mặt qua các trung gian thanh toán
( thường là các ngân hàng thương mại ). Theo đó thẻ tín dụng cho phép chủ
thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo
thỏa thuận của tổ chức phát hành thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, sử
dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung
ứng. Mục đích chính nhất mà thẻ tín dụng hướng tới đó là thanh toán các hóa
đơn tiền hàng, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ trong hạn mức tín dụng
cho phép. Số tiền trong tài khoản của chủ thẻ chính là mức vốn tín dụng mà
ngân hàng phát hành đã cấp cho chủ thẻ. Đây là đặc điểm để phân biệt giữa
thẻ tín dụng và các loại thẻ khác cũng có chức năng thanh toán ( ví dụ như:
thẻ ghi nợ, thẻ trả trước…). Với số tiền đã được ngân hàng ứng trước trong tài
khoản thẻ tín dụng này, chủ thẻ có thể thiết lập các giao dịch thanh toán ở bất
cứ đơn vị chấp nhận thẻ nào với điều kiện giá trị giao dịch không vượt quá
hạn mức tín dụng của thẻ.
Như vậy, “ Thanh toán bằng thẻ tín dụng là phương thức thanh toán
qua ngân hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín dụng tiêu dùng, thanh
toán trong một hạn mức tiền nhất định qua việc xác lập quan hệ thanh
toán giữa chủ thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ, giữa đơn vị chấp nhận thẻ với
ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành,… trên cơ sở quan hệ vay nợ
đã được xác lập giữa chủ thẻ với tổ chức đã phát hành thẻ ”.
7

Điều 290 Bộ luật dân sự Việt Nam - 2005

22


23


trình thanh toán bù trừ giữa ngân hàng phát hành thẻ với ngân hàng thanh
toán thẻ về hoạt động kinh doanh thẻ ( có thể thông qua các tổ chức thẻ quốc
tế ). Các quá trình này có thể được thực hiện lần lượt ( ngân hàng thanh toán
trả tiền cho đơn vị chấp nhận thẻ rồi được thanh toán lại tiền từ ngân hàng
phát hành thẻ, sau một thời điểm thì ngân hàng phát hành thẻ truy đòi tiền từ
chủ thẻ ) hoặc tiến hành đồng thời. Theo đó, phần tiền mặt giá trị chênh lệch
của các thương vụ đã được thực hiện bằng thẻ sẽ được chuyển đổi qua lại
giữa các thành viên tham gia quá trình thanh toán thẻ trên cơ sở ghi “ Nợ ” ở
tài khoản chủ thẻ và ghi “ Có ” ở tài khoản thích hợp ( tài khoản đơn vị chấp
nhận thẻ )
* Thanh toán bằng thẻ tín dụng là thể hiện quan hệ cam kết thanh toán
liên hoàn
Cam kết thanh toán liên hoàn có thể được hiểu là cam kết của các tổ
chức trung gian cho đơn vị chấp nhận thẻ. Khi tiến hành giao dịch thẻ tín
dụng, tài khoản chủ thẻ đã bị ghi “ nợ ” nhưng chủ thẻ không phải thanh toán
ngay cho tổ chức phát hành thẻ. Khi đó, tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ
cũng chưa được báo “ có ” mà đơn vị chấp nhận thẻ chỉ mới nhận được cam
kết sẽ thanh toán của các đơn vị trong hệ thống thanh toán thẻ ( tổ chức phát
hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ, tổ chức thẻ quốc tế…) Đầu tiên là cam kết
của Tổ chức thanh toán thẻ - đơn vị trực tiếp quản lý tài khoản và cung cấp
dịch vụ thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ. Sau đó là cam kết của tổ chức
phát hành thẻ - đơn vị trực tiếp quản lý tài khoản chủ thẻ và cung cấp dịch vụ
thanh toán cho chủ thẻ. Căn cứ vào số dư nợ trong tài khoản chủ thẻ đã phát
sinh giao dịch, tổ chức phát hành thẻ cam kết thanh toán cho tổ chức thanh
toán thẻ. Nếu tổ chức phát hành thẻ và tổ chức thanh toán thẻ không có mối
liên hệ trực tiếp thì cam kết thanh toán này còn liên quan đến các đơn vị trung
gian như: ngân hàng đầu mối, tổ chức thẻ quốc tế…Nếu ngân hàng phát hành

nhất [23].

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status