SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG CÁC SẢN PHẨM LÀM TỪ MỤN XƠ DỪA TẠI TỈNH BẾN TRE - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***************

NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG
THỨC SỬ DỤNG CÁC SẢN PHẨM LÀM TỪ
MỤN XƠ DỪA TẠI TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012


Hội đồng chấm báo cáo tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại học Nông
Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các
phương thức sử dụng các sản phẩm làm từ mụn dừa tại tỉnh Bến Tre” do Nguyễn Thị
Hồng Phấn, sinh viên khóa 2008 - 2012, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường đã
bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _______________________________ .

TS. NGUYỄN VŨ HUY
Người hướng dẫn

Ngày

Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo

Ngày

thời gian thực hiện bài khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn các cô chú cùng các anh chị trong Sở Khoa Học Công
Nghệ và Môi Trường tỉnh Bến Tre, UBNND xã Khánh Thạnh Tân đã cung cấp số liệu
cần thiết giúp tôi hoàn thành khóa luận.
Cảm ơn những cơ sở, công ty kinh doanh mụn dừa xuất khầu trên địa bàn
nghiên cứu đã cung cấp những thông tin quý giá giúp tôi hoàn thành bài luận văn tốt
nghiệp.
Cảm ơn toàn thể các bạn lớp Kinh tế Tài Nguyên Môi Trường khóa 34 đã động
viên tinh thần và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường Đại học Nông Lâm
TPHCM, cũng như đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành tốt bài luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Phấn


NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN. Tháng 05 năm 2012. “So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế
của Các Phương Thức Sử Dụng Các Sản Phẩm từ Mụn Xơ Dừa tại Tỉnh Bến
Tre”.
NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN. May, 2012. “Economic Worthiness of Cocopeat
from Its Available Use in Ben Tre Province ”.
Nhằm cãi tạo đất và tăng năng suất cho cây trồng tại Bến Tre, Viện Khoa học
Kĩ Thuật Nông Nghiệp miền Nam kết hợp với Trung tâm ứng dụng Khoa học Công
nghệ và Môi Trường tỉnh Bến Tre, đã nghiên cứu và trồng thử nghiệm mô hình sử
dụng phân bón hữu cơ làm từ mụn xơ dừa cho một số loại cây trồng ở Thành phố Bến
Tre. Tuy nhiên, vì mô hình này mới chỉ đưa vào trồng thử nghiệm cho 1000m2 đối với
cây rau, 100 gốc đối với cây ca cao và cây có múi trong năm 2010 tại Thành Phố Bến
Tre, nên chưa được người dân biết nhiều và sử dụng phổ biến. Dựa vào kết quả khảo
nghiệm từ bài nghiên cứu trên, đề tài xác định được loại phân hữu cơ khoáng khi bón

ix

DANH MỤC PHỤ LỤC

x

CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

3

1.3. Phạm vi nghiên cứu

4

1.4. Cấu trúc khóa luận

4

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN

6


3.1.5. Một số quan điểm hiệu quả kinh tế

22

3.2. Phương pháp nghiên cứu

24

3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

24
v


3.2.2. Phương pháp phân tích

24

3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

27

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

28

4.1. Tình hình chung của việc sản xuất và sử dụng mụn dừa hiện nay ở Bến Tre

28



4.4. So sánh hiệu quả kinh tế của mụn dừa xuất khẩu với mụn dừa dùng làm phân
bón hữu cơ bón bổ sung cho cây trồng tại Bến Tre
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

42
46

5.1. Kết luận

46

5.2. Kiến nghị

48

TÀI LIỆU THAM KHẢO

50

PHỤ LỤC

vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APCC

Hiệp hội dừa Châu Á-Thái Bình Dương


Phân hữu cơ vi sinh

Sở KH&CN

Sở Khoa học và Công Nghệ

TBKT

Tiến bộ kỹ thuật

UBND

Uỷ ban nhân dân

Viện KHKTNNMN

Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam

VSV

Vi sinh vật

vii


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Cơ Cấu Kinh Tế Tỉnh Bến Tre (2009)

11

ha Bưởi

37

Bảng 4.5. Lợi Nhuận Tăng Thêm Khi Bón Bổ Sung Phân HCVS và HCK cho 1 ha
Bưởi

37

Bảng 4.6. Chi Phí Tăng Thêm Khi Bón Bổ Sung 2 Loại Phân Bón HCVS và HCK cho
1 ha Cam

38

Bảng 4.7. Doanh Thu Khi Bón Bổ Sung 2 Loại Phân HCVS và HCK cho 1 ha Cam 39
Bảng 4.8. Hiệu Quả Kinh Tế Khi Bón Bổ Sung Phân HCVS và HCK cho 1 ha Cam 39
Bảng 4.9. Lợi Nhuận Thu Được Khi Sử Dụng 1000Kg Phân Hữu Cơ Đối Với 2 Loại
Cây Trồng

40

Bảng 4.10. Ảnh Hưởng của Phân Hữu Cơ Làm Từ Mụn Dừa Đến Đất Canh Tác

41

Bảng 4.11. So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế của Hai Phương Thức Sử Dụng 900Kg Mụn
Dừa

45
viii

PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI
PHỤ LỤC 2. MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ MỤN DỪA TẠI ĐỊA PHƯƠNG

x


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bến Tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất Việt Nam, với tổng diện tích trên
52.467 ha, đạt sản lượng 413.278 triệu trái/năm (Báo cáo kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre,
2011). Đối với người dân Bến Tre cây dừa từ lâu đã gắn bó mật thiết với đời sống của
họ. Hiện nay, hầu hết các phụ liệu, phế phẩm từ cây dừa đã được tận dụng để tạo thành
sản phẩm hàng hóa, mang lại nguồn thu nhập cho người dân. Ở Bến Tre, giá trị kim
ngạch xuất khẩu các mặt hàng chế biến từ dừa chỉ đứng sau ngành thủy sản. Năm
2010, kim ngạch xuất khẩu từ dừa đạt 72 triệu USD. Sản phẩm làm từ dừa có mặt rộng
khắp hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (báo Đất Việt, 2011). Trong đó,
phải kể đến nghành sản xuất chỉ xơ dừa, đây là ngành đã được hình hành rất lâu và bắt
đầu phát triển từ năm 1996, cho đến những năm gần đây ngành sản xuất chỉ xơ dừa
mới thật sự phát triển mạnh, tập trung nhiều nhất ở các xã Khánh Thạnh Tân, Đa
Phước Hội, An Thạnh, Thành Thới B nằm dọc theo tuyến sông Thom với hơn 135 cơ
sở. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất chỉ xơ dừa đã để lại một phụ phẩm khác là mụn
xơ dừa, đây chính là phần còn lại sau khi tước lấy chỉ xơ dừa. Theo Sở Khoa học công
nghệ và môi trường tỉnh Bến Tre, mỗi ngày lượng mụn dừa thải ra từ các cơ sở sản
xuất xơ dừa từ 500-700 tấn/ngày. Mụn dừa có đặc điểm là có khả năng giữ một lượng
nước gấp 8 lần khối lượng của nó, khả năng hút nước và giữ nước tốt, nhả nước chậm,
xốp, lại có trữ lượng lớn, giá thành rẻ nhưng lại cồng kềnh nên việc xử lý gặp nhiều
khó khăn. Trước đây, chỉ một phần nhỏ mụn dừa được người dân địa phương sử dụng
kết hợp với trấu để ươm trồng cây giống, hoa kiểng, còn lại hầu như tất cả đều bị bỏ.
Phần lớn mụn dừa không có bãi chứa, hoặc có bãi chứa khi quá tải thì chủ cơ sở thải

Nam kết hợp với Trung tâm ứng dụng khoa học và công nghệ đã nghiên cứu hoàn
thiện công nghệ chế biến, sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ mụn xơ dừa, sản xuất
ra được các loại phân bòn hữu cơ sinh học có chất lượng cao với giá thành thấp hơn
với các sản phẩm cùng loại 5-10%, tiến hành trồng khảo nghiệm trên một số loại cây
trồng. Theo kết quả báo cáo của bài nghiên cứu này mô hình sử dụng phân bón hữu cơ

2


từ mụn dừa Bến Tre làm cho năng suất các loại cây trồng tăng từ 10-15,7% so với diện
tích từng loại cây đối chứng (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2011).
Hiện nay, Sở KH&CN đã và đang chuyển giao cho nông dân mô hình sử dụng
phân hữu cơ sinh học làm từ mụn dừa, nếu mô hình được áp dụng một cách đại trà sẽ
rất có lợi đối với người nông dân ở Bến Tre và người nông dân nói chung. Vì hầu hết
các vùng cây ăn trái, hoa kiểng đều cần sử dụng nhiều, nhất là trong xu thế hiện nay,
chủ trương chính phủ là tăng sử dụng phân bón hữu cơ, thay thế bớt nhu cầu sử dụng
phân bón hóa học. Và như vậy sẽ phải cần một lượng lớn mụn dừa cho sản xuất phân
bón mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng.
Như vậy, việc sử dụng phân bón hữu cơ sinh học từ mụn dừa sẽ góp phần cải
thiện đất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng và tăng thêm thu nhập cho người nông
dân. Tuy nhiên, mụn dừa ép khối để xuất khầu cũng đang được các nước trên thế giới
rất ưa chuộng, mang lại nguồn thu đáng kể cho các doanh nghiệp, tạo việc làm ổn định
cho người dân địa phương. Vậy, thực tế ở Bến Tre việc xuất khẩu mụn dừa ép khối so
với việc chế biến mụn dừa thành phân bón hữu cơ sinh học để bón cho cây trồng trong
Tỉnh thì phương thức nào sẽ mang lại hiệu quả cao hơn? Để trả lời cho câu hỏi này, đề
tài ”So sánh hiệu quả kinh tế của các phương thức sử dụng các sản phẩm từ mụn
dừa” được thực hiện. Đồng thời đưa ra một số một số giải pháp sử dụng nguồn nguyên
liệu này theo hướng mang lại hiệu quả tốt nhất.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung

tỉnh Bến Tre thực hiện. Đồng thời kết hợp với thu thập thông tin về tình hình sản xuất
và xuất khẩu mụn xơ dừa của một số cơ sở sản xuất mụn dừa ép khối tại các xã: Khánh
Thạnh Tân, Đa Phước Hội, Nhơn Thạnh và Hưng Khánh Trung B. Đây là những xã
tập trung nhiều cơ sở sản xuất mụn dừa ép khối để xuất khẩu.
1.3.2. Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện khóa luận được tiến hành như sau:
Thời gian từ 12/02/2012 – 30/03/2012: Thu thập tại địa bàn các thông tin và dữ
liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. Tiến hành viết đề cương chi tiết.
Thời gian từ 01/04/2012 – 01/05/2012: Soạn bảng câu hỏi chuyên sâu và định
lượng các thông tin cần thiết cho đề tài. Thu thập thông thứ cấp tại Sở khoa học công
nghệ và Môi trường tỉnh Bến Tre.
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số cơ sở sản xuất mụn dừa ép khối tại các xã
Khánh Thạnh Tân, Đa Phước Hội, Hưng Khánh Trung B, Nhơn Thạnh thuộc huyện
Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam, thành phố Bến Tre tỉnh Bến Tre.
Thời gian từ 02/05/2012 – 01/06/2012: Tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu thu
thập được để viết đề tài hoàn chỉnh.
1.4. Cấu trúc khóa luận
Đề tài được chia thành 5 chương. Chương 1: Trình bày lý do chọn đề tài, mục
tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt bố cục luận văn. Chương 2:
Giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đồng thời giới
thiệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre. Chương 3: Trình bày cơ sở lí
luận và phương pháp nghiên cứu, đưa ra các khái niệm, định nghĩa về lĩnh vực nghiên
cứu, các phương pháp được sử dụng trong đề tài. Chương 4: Đây là chương trình bày
các kết quả đạt được của đề tài. Chương 5: Dựa vào kết quả đạt được ở chương 4, từ
4


đó rút ra kết luận về các vấn đề đã thảo luận và đưa ra một số kiến nghị cho viện sản
xuất và sử dụng mụn xơ dừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre.


6


thích hợp hơn trong trồng trọt. Do đó, xét về mặt hiệu quả kinh tế thì sử dụng mạt xơ
dừa loại 1 sẽ đỡ tốn thời gian và chi phí xử lý nước do đó cho hiệu quả kinh tế cao
hơn. Hỗn hợp mụn xơ dừa và EM Bokashi 7% với thời gian ủ là 20 ngày cho kết quả
tốt trong việc nuôi trồng nấm bào ngư.
Trong báo cáo tóm tắt của bài nghiên cứu “Hiệu quả của phân hữu cơ từ mụn
dừa trên năng suất bắp trồng trên đất nghèo dinh dưỡng”, 2008, do Trung tâm giống
Cây Trồng tỉnh Bến Tre kết hợp với nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Nông Nghiệp &
Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ thực hiện. Kết quả cho thấy mụn dừa sau
khi xử lý với nước vôi giảm được 97% hàm lượng tannin, sau đó kết hợp các loại vật
liệu khác có sẵn tại địa phương như bã bùn mía, xác mía, vỏ trấu, ít phân bò và nấm
Trichoderma để ủ thành phân hữu cơ vi sinh. Trên đất giồng cát, sử dụng ở mức 10
tấn/ha phân hữu cơ từ mụn dừa ở hai dạng mụn dừa kết hợp xác mía và mụn dừa kết
hợp vỏ trấu thì đồng thời giảm được 30% lượng phân vô cơ theo khuyến cáo, giúp tăng
năng suất bắp có ý nghĩa so với bón phân vô cơ theo khuyến cáo và theo liều lượng
cao như tập quán của người dân. Như vậy, việc kết hợp mụn dừa với một số vật liệu
khác và nấm Trichoderma để ủ thành phân hữu cơ là rất có ý nghĩa, không chỉ giúp
giảm ô nhiễm môi trường mà còn góp phần cải thiện hiệu quả năng suất cây trồng trên
đất nghèo dinh dưỡng.
Báo cáo “ Nghiên cứu sử dụng chế phẩm EM sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ
xơ dừa - ứng dụng để trồng hoa cúc”, 2008, của Nguyễn Thị Thu Ngân và Trần Thị
Duyên Anh. Kết quả cho thấy xơ dừa với tỷ lệ phun EM : 0,5 lít/kg xơ là tỷ lệ phù
hợp với quá trình ủ thành phân hữu cơ vi sinh. Cây hoa cúc khi được bón phân hữu cơ
này sẽ rút ngắn được thời gian thu hoạch được 15 ngày, đồng thời năng suất cũng cao
hơn so với cây đối chứng như chiều cao trung bình tăng từ 10 đến 15cm, lượng hoa
tằng từ 5 đến 8 hoa và nở đồng đều hơn, cành lá xum xuê, thân cây chắc chắn, cứng
cáp hơn.
Nghiên cứu “ Xử lý mạt dừa sau trồng nấm bào ngư bằng xạ khuẩn”, 2008, của

2.2. Tổng quan về tỉnh Bến Tre
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Bến Tre là tỉnh nằm ở phía Đông vùng ĐBSCL, với diện tích tự nhiên là
2.356,85 km2, chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL. Toàn tỉnh được chia thành 9 đơn
vị hành chính, bao gồm thành phố Bến Tre – trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế,
văn hóa xã hội của tỉnh và 8 huyện: Ba Tri, Bình Đại, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng
Trôm, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam và Thạnh Phú. Bến Tre có ranh giới hành chính:
8


- Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang.
- Phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh.
- Phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài trên 65 km.
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bến Tre

Nguồn:
b. Khí hậu, thời thiết
Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ
rệt: mùa mưa (tháng 5-11) với gió mùa Tây Nam, mùa khô (tháng 12-4) với gió màu
Đông Bắc. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung
bình hàng năm từ 260C – 270C. Với vị trí nằm tiếp giáp biển Đông, nhưng Bến Tre ít
chịu ảnh hưởng của bão lũ, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm… Đây là điều kiện
thuận lợi cho việc đầu tư, sản xuất, kinh doanh và du lịch của Tỉnh.
c. Địa hình
Bến Tre có địa hình tương đối bằng phẳng, rãi rác có những cồn cát xen kẽ với
ruộng vườn, bốn bề sông nước bao bọc. Địa hình tỉnh có độ cao trung bình từ 1 - 2m
so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao chênh lệch khá
lớn, tối đa là 3,5 m. Về cơ bản, địa hình Bến Tre có thể chia thành:
9


10


g. Tài nguyên biển
Nằm ở hạ lưu sông Mêkông giáp với biển Đông, Bến Tre là tỉnh có nhiều lợi
thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biển nên thuận lợi cho việc đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng về sinh thái
và tập tính.
2.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
a. Kinh tế: Do yếu tố địa hình và các điều kiện tự nhiên nên hoạt động kinh tế
chính của địa phương là Nông –Lâm-Ngư nghiệp.
Bảng 2.1. Cơ Cấu Kinh Tế Tỉnh Bến Tre (2009)
Lĩnh vực

Tỉ lệ (%)

Nông – Lâm – ngư nghiệp

49,07

Dịch vụ - thương mại

33,90

Công nghiệp – Xây Dựng

17,03
100,00


dân trí, chất lượng cuộc sống, xóa đói giàm nghèo ít nhất là ở vùng nông thôn, Công
tác xây dựng nâng cao chất lượng đội ngủ cán bộ quản lý cũng được đặc biệt quan
tâm.
e. Y tế: Công tác khám và điều trị ở các bệnh viện từng bước được nâng lên,
trang thiết bị khám chữa bệnh tiếp tục được đầu tư nâng cấp, một số thiết bị kỹ thuật
cao cũng đã được đầu tư từ nguồn tài trợ của các dự án, các kỹ thuật mới về lâm sàng
và cận lâm sàng đã và đang được triển khai áp dụng đạt hiệu quả.

12


CHƯƠNG 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Cơ sở lý luận
3.1.1. Khái niệm mụn xơ dừa
Mụn xơ dừa là một thành phần có trong vỏ trái dừa, chiếm khoảng 70% trong vỏ
dừa ( nguồn APCC). Trong quá trình dùng máy để tách lấy chỉ xơ dừa sẽ cho ra 2 phần
riêng biệt là chỉ xơ dừa và mụn dừa (mụn xơ dừa là phần bị nghiền nát của vỏ dừa hay
còn gọi là bụi cám dừa). Mụn xơ dừa có ưu điểm là nguyên liệu có trữ lượng lớn, xốp,
sạch bệnh, khả năng hút nước và giữ nước tốt, nhả nước chậm, và có giá thành rẻ. Tuy
nhiên, trong mụn xơ dừa lại có hàm lượng lignin khá cao chiếm tỷ lệ 60-70%, lignin là
phức hợp polymer của các phân tử phenylpropane, chúng liên kết đan chéo nhau rất
phức tạp, chính vì vậy mà lignin rất khó bị phân hủy. (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2011).
Theo TAPPI (1988), mụn xơ dừa là chất hữu cơ và có thể tái sử dụng. Độ pH
của mụn xơ dừa là 5,5. Chất lượng của mụn xơ dừa không bị ảnh hưởng nếu độ pH
thấp hơn. Mụn xơ dừa có một số tính chất và thành phần hóa học được trình bày trong
bảng 3.1.

13


Tanin (thuộc loại pyrocatechic-tanin không thủy phân)

8,0-8,5%

%N

0,5

%P

0,3

%K

0,4

EC(dS/m)

0,8
Nguồn: Tổng hợp tài liệu

3.1.2. Mụn dừa ép khối
Mụn dừa sau sau khi được tách ra từ vỏ dừa sẽ có độ ẩm từ 60-70%. Thông qua
quá trình sấy khô và xử lý làm giảm độ ẩm xuống còn khoảng 20%, mụn dừa sẽ được
đưa vào máy ép thủy lực với lực ép khoảng 200kg/cm2 tạo thành các khối ép có kích
thước tùy ý. Thông thường mụn xơ dừa thường được ép khối theo qui cách như
sau:dạng viên 30 x 30 x 15 cm, trong lượng : 5kg/viên, Sản phẩm dạng đóng bao
bigbag (Jumbo)- Bao bigbag 400kg- 500kg/bao dạng rời không ép (chỉ nén vô bao
bigbag).

Phân chuồng khác

Nguồn : Tổng hợp tài liệu
Hình 3.1 thể hiện nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ cho một số rau màu và cây
hàng niên ở tỉnh Bến Tre do Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ
tỉnh Bến Tre tổ chức khảo sát một số huyện trong Tỉnh. Kết quả điều tra cho thấy nông
dân đã nhận thức được giá trị quan trọng của phân hữu cơ đối với cây trồng. Phân hữu
cơ sử dụng chủ yếu là từ chất thải chăn nuôi. Cụ thể, như phân bò được sử dụng nhiều
nhất 52/90 hộ sử dụng, phân heo 30/90 hộ sử dụng, 8/90 hộ còn lại là sử dụng phân
gà, phân cút, phân dơi, phân trùn (Hình 1). Bên cạnh đó phụ phẩm có nguồn thực vật
được sử dụng nhiều nhất là mụn dừa có 18/90 hộ chiếm có sử dụng chiếm 20%, mụn
dừa được sử dụng làm phân hoặc dùng để phối trộn với các nguyên liệu khác như phân
bò, phân gà, phân cút (Hình 2). Tuy nhiên, người dân chỉ sử dụng phân bón theo tập
quán địa phương chứ không theo quy trình liều lượng nào cả. Từ kết quả điều tra trên
cho thấy người dân cũng từng bước nhận thấy được cần thiết của phân hữu cơ trong
nông nghiệp. Vì vậy, nếu phân bón hữu cơ từ mụn xơ dừa thực sự mang lại hiệu quả
cao hơn so với các phương thức sử dụng mụn dừa khác thì khả năng người dân chấp
nhận mô hình hình sử dụng phân bón hữu cơ từ mụn xơ cho cây trồng sẽ rất cao.
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status