Hoạt động kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam trong bộ luật tố tụng hình sự của lào và của việt nam dưới góc độ so sánh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BOUNSY BOULOM

HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG HOẠT
ĐỘNG BẮT, TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
CỦA LÀO VÀ CỦA VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS NGUYỄN VĂN HUYÊN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của giáo
viên hướng dẫn khoa học và các đồng nghiệp. Các số liệu nêu trong luận văn là trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

BOUNSY BOULOM


4. VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

5. TTHS

: Tố tụng hình sự

6. BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự


MỤC LỤC
S.Tr
LỜI NÓI ĐẦU

1
CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẮT, TẠM GIỮ, TẠM GIAM

7

1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện
kiểm sát nhân dân trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam.

7



39

CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG VIỆC BẮT TẠM GIỮ, TẠM GIAM; PHƯƠNG HƯỚNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ HOẠT
ĐỘNG KIỂM SÁT CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẮT
TẠM GIỮ, TẠM GIAM Ở CỘNG HÒA DCND LÀO.

47

3.1. Thực trạng hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động
bắt tạm giữ, tạm giam ở Lào

47

3.2. Cải cách tư pháp và những vấn đề đặt ra trong việc hoàn thiện hoạt động
kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt tạm giữ, tạm giam ở Lào.

58

3.3. Phương hướng của việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động

62


kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt tạm giữ, tạm giam ở Lào.
3.4. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về hoạt
động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt tạm giữ, tạm giam ở

phạm đạt kết quả cao nhất, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
góp phần vào việc tăng cường pháp chế và trật tự pháp luật.
Các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử thi hành án được khách quan,
thuận lợi. Nhưng hiện nay việc hiểu và vận dụng các quy định pháp luật về
căn cứ, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn vẫn có không ít
những trường hợp không đúng pháp luật, như việc bắt, tạm giữ hình sự sau đó
chuyển xử lý hành chính; bắt, tạm giữ, tạm giam, oan sai xâm phạm đến các
quyền cơ bản của công dân. Ngược lại, có trường hợp cần thiết phải bắt nhưng
không bắt tạm giam dẫn đến nhiều vụ án không được điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án do người phạm tội bỏ trốn, đã gây nên sự hoài nghi của quần
chúng nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm sút uy tín của
các cơ quan bảo vệ pháp luật. Những sai sót, hạn chế nêu trên không thể


2

không nhắc tới hạn chế về chất lượng công tác thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt,
tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát, đảm bảo cho việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn phát huy được tác dụng trong ngăn ngừa tội phạm và đảm bảo các
hoạt động tố tụng về điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành thuận
lợi, nhanh chóng, giải quyết dứt điểm các vụ án, không để xảy ra oan sai. Thực
hiện tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ
phản ánh đích thực về vị trí, vai trò của cơ quan Viện Kiểm sát trong bộ máy
Nhà nước và trong hoạt động tố tụng hình sự của Việt Nam và của Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào. Tình hình trên cho thấy việc nghiên cứu có hệ thống
các quy định pháp luật về bắt, tạm giữ, tạm giam cũng như hoạt động kiểm sát
của Viện kiểm sát trong vấn đề này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Chính vì lý do đó tác giả quyết định chọn đề tài: “Hoạt động kiểm sát của

dân tối cao, do tác giả Bùi Đức Long và các thành viên thực hiện, nghiệm thu
năm 2010, đã khái quát quá trình hình thành, phát triển cùng những thành tựu,
hạn chế trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục
người chấp hành án phạt tù từ khi Viện kiểm sát nhân dân thành lập năm 1960
đến năm 2010.
Vấn đề liên quan đến kiểm sát tạm giữ, tạm giam còn có nhiều bài viết
đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Kiểm sát số 19/2012 có bài:
"Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số
loại tội phạm, thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng
tạm giam" của TS. Đỗ Văn Đương; tác giả Nguyễn Hải Phùng có bài viết:
"Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam và thi hành án
hình sự có cần ban hành "quyết định trực tiếp kiểm sát" không?", Tạp chí kiểm
sát, số 7/2012. Bên cạnh đó còn có bài viết của GS.TSKH Lê Cảm: "Những
vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư
pháp hình sự", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2010; bài viết của tác giả Vũ
Đức Chấp: "Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân", Tạp chí Kiểm sát, số 10/2008; bài viết của
PGS.TS Trần Văn Độ: "Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Khoa
học pháp lý, số 6/2010; bài viết của tác giả Bùi Đức Long: "Bàn về vị trí,


4

nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án hình sự",
Tạp chí Kiểm sát, số 23/2010.
- Gần đây có công trình nghiên cứu đáng chú ý của Nguyễn Thị Thu
Phượng: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt,
tạm giữ, tạm giam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; của
Nguyễn Vũ Quang: “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân

CHDCND Lào về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt
động bắt tạm giữ, tạm giam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như tổng hợp, phân tích,
diễn giải, chứng minh, đối chiếu, so sánh pháp luật, quy nạp, hệ thống hóa.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và
những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự về hoạt
động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt tạm giữ, tạm giam ở
CHDCND Lào.
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là:
a)Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật tố tụng hình sự về
hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt tạm giữ, tạm
giam;
b)Nghiên cứu và so sánh các quy định của pháp luật hiện hành của Việt
Nam và Lào về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt
tạm giữ, tạm giam;
c) Đưa ra những nguyên tắc, phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm
hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát
nhân dân trong việc bắt tạm giữ, tạm giam ở Cộng hòa DCND Lào.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt
động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam ở
Việt Nam và ở Cộng hòa DCND Lào;
- Luận văn đã nghiên cứu và so sánh một cách đầy đủ, có hệ thống các
quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và Lào về hoạt động kiểm sát của
Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động bắt tạm giữ, tạm giam;



xét xử, thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, Cơ quan điều tra và
các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi
chung là CQĐT), VKS và Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình
hoặc người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS có thể áp dụng các
BPNC: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc
tài sản có giá trị để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh.
Theo từ điển Tiếng Việt, ngăn chặn là "chặn lại ngay từ đầu, không để
cho gây tác hại"1. Theo cách hiểu chung nhất, BPNC là một trong các biện
pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy
nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm
tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ,
ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây
cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án hình sự2.
Có thể khẳng định rằng, BPNC trong TTHS là một nhóm các biện pháp
cưỡng chế TTHS chứ không phải là biện pháp chấp hành hình phạt tù. Tuy
vậy, việc áp dụng BPNC mà đặc biệt là bắt, tạm giữ, tạm giam có ảnh hưởng
rât lớn đến quyền lợi của cá nhân người bị áp dụng, nhất là quyên nhân thân
và quyên tự do cá nhân. Do đó, áp dụng BPNC này không chỉ phải tuân theo
trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ mà còn phải dựa trên những căn cứ nhât định

1
2

HoàngPhê,TừđiểnTiếngViệt,NXB.ĐàNẵng,năm1998,tr.671
NXB.Tưpháp,Từđiểngiảithíchthuậtngữluậthọc,tr.69.


8

để xem xét tính cần thiết của việc áp dụng. Vậy các BPNC bắt, tạm giữ, tạm

hành án. Ngoài ra do việc bắt, tạm giữ, tạm giam ảnh hưởng trực tiếp đến các
quyền cơ bản của công dân nên khi các cơ quan tư pháp (Cơ quan Điều tra,
Tòa án) áp dụng các BPNC này, VKS thực hiện nhiệm vụ của mình bằng việc
kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho việc ra quyết định, tổ chức
thực hiện các BPNC này được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất đồng
thời đảm bảo các quyền và lợi ích họp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam
được tôn trọng và bảo vệ. Cụ thể như: Khi phát hiện tội phạm và người thực
hiện hành vi phạm tội, CQĐT áp dụng các BPNC bắt, tạm giữ, VKS thực hiện
việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, quyết định gia hạn
tạm giữ của CQĐT, đồng thời VKS cũng tiến hành hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của CQĐT trong việc bắt, tạm giữ như kiểm sát về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục ra lệnh, quyết định và việc tố chức thực hiện, kiếm sát
việc thực hiện chế độ đối với người bị bắt, tạm giữ, kiểm sát hoạt động lấy lời
khai của người bị tạm giữ.
Qua phân tích trên, có thể rút ra khái niệm hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân
là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Viện kiểm sát từ khi tạm giữ, tạm giam
và kết thúc khi chấm dứt việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với các cơ quan, đơn
vị, các cá nhân có thẩm quyền trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam nhằm đảm


13

bảo việc tạm giữ, tạm giam được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật
bảo đảm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của người
bị tạm giữ, tạm giam và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ không bị vi
phạm.
1.2. Nội dung của pháp luật tố tụng hình sự của Lào và Việt Nam
về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bắt tạm giữ,
tạm giam

trong trường hợp khẩn cấp, bổ sung thêm biện pháp tạm hoãn xuất cảnh và sửa
đổi đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thành đặt tiền để bảo đảm.Theo
Bộ luật TTHS Lào năm 2009 thì biện pháp ngăn chặn gồm bắt tạm giữ, bắt
tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú.
Thứ hai, quy định về nhiệm vụ, thẩm quyền của chủ thể bắt, tạm giữ,
tạm giam.
Theo quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2003 thì Thủ trưởng,
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các
cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án
Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử là chủ thể có thẩm quyền ra lệnh,
quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, ra lệnh tạm giam. Thủ trưởng, Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung
đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng, chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển là chủ thể có thẩm quyền ra lệnh bắt
người trong trường hợp khẩn cấp, ra lệnh tạm giữ. Đối với người đang thực
hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị
đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến
cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ
quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp Công an xã, phường, thị
trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu
giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên
bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của
pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền. Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt


15

của toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm sát. Vì vậy, pháp luật


16

quy định rất chặt chẽ trình tự, thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam. Trừ bắt người
phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì việc bắt người phải có lệnh;
người thi hành lệnh phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt; không được
bắt người vào ban đêm; khi tiến hành bắt người phải có người chứng kiến và
phải lập biên bản về việc bắt. Đối với việc tạm giữ phải có lệnh viết của những
người có thẩm quyền. Lệnh tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn
tạm giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản. Trong vòng 24 giờ, lệnh tạm
giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Khi kiểm sát việc tạm giữ, nếu
xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát
ra quyết định huỷ bỏ lệnh tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị bắt. Thời hạn
tạm giữ không được quá ba ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
Trong trường hợp cần thiết, cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ
nhưng không quá ba ngày và trong trường hợp đặc biệt lại có thể gia hạn tạm
giữ lần hai nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều
phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi
nhận được đề nghị gia hạn, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc
quyết định không phê chuẩn. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố
bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Đối với việc tạm giam phải
có lệnh của người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Lệnh
tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường
hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi
hành; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét
xử. Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra

pháp ngăn chặn khác. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt như phạm tội
nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và
có căn cứ cho rằng nếu không tạm giam thì người đó có thể trốn hoặc cản trở
việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội thì mới tạm giam họ.
Đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ là người bị bắt trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang. Đối với người bị bắt khi phạm
tội quả tang mà sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị bắt
có nơi cư trú rõ ràng và không có biểu hiện bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc cản
trở việc điều tra thì không cần tạm giữ.


18

1.3. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật tố
tụng hình sự của Lào về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân
trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào là quốc gia độc lập nằm trong khu vực
Đông Nam Á, có đặc điểm địa lý, kinh tế – xã hội và chính trị riêng. Sau
kháng chiến chống Mỹ, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã lãnh đạo đất nước
và nhân dân khôi phục và phát triển kinh tế đồng thời với việc xây dựng pháp
luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội đang ngày càng phát triển đa dạng ở
Lào trong đó việc xây dựng chế định bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình
sự nói riêng được chú trọng. Năm 1977 Hội đồng Bộ trưởng Lào đã ban hành
Nghị định số 115/1977/NĐ-HĐBT quy định về điều tra các vụ án hình sự
trong đó có quy định nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan điều tra về bắt
giữ, bắt giam những người có Lệnh tạm giữ hoặc Lệnh tạm giao cách ly khỏi
xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt
tù hoặc án tử hình. Nghị định cũng quy định Viện Kiểm sát có trách nhiệm
phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giam, giữ, cải tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status