đề tài: hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)

Đề tài:

HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TRONG PHÁP

LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ - THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG
HOÀN THIỆN THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Ths. MẠC GIÁNG CHÂU

TRẦN THÁI HƯNG

Bộ môn: Tư pháp

MSSV: S120028
Lớp: Luật hành chính - K38

Cần Thơ, tháng 12 năm 2014


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

tháng

năm 2014

SVTH: Trần Thái Hưng

2


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
‫٭٭٭‬
...........................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................

1.1.1.2. Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình .................................. 7
1.1.2. Các thuộc tính của nguyên tắc tranh tụng ......................................................... 9
1.1.3. Nội dung và phạm vi của nguyên tắc tranh tụng ............................................ 12
1.1.4. Nguyên tắc tranh tụng là tư tưởng chủ đạo trong cải cách tư pháp ................. 15
1.2. Cơ sở lý luận về nguyên tắc tranh tụng ..............................................................17
1.2.1. Tầm quan trọng của nguyên tắc tranh tụng...................................................... 17
1.2.2. Nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các
thời kỳ ........................................................................................................................ 18
1.2.2.1.Giai đoạn trước năm 1945.......................................................................... 18
1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003................................................................................................................. 20
1.2.2.3.Giai đoạn từ trước năm 1975 đến năm 1988 ............................................ 24
1.2.2.4. Giai đoạn từ sau năm 1988 đến nay......................................................... 25
CHƯƠNG 2...................................................................................................................28
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ HOẠT ĐỘNG
TRANH TỤNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ ............28
2.1. Giai đoạn điều tra..................................................................................................28
2.1.1. Hoạt động của Điều tra viên trong hoạt động tranh tụng hình sự ............ 28
2.1.1.1. Hoạt động hỏi cung bị can........................................................................ 28
2.1.1.2. Hoạt động thu thập chứng cứ ................................................................... 30
2.1.2. Hoạt động của kiểm sát viên trong động tranh tụng hình sự........................... 32
2.1.2.1 . Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra .................................. 32
2.1.2.2 .Kiểm sát các hoạt động điều tra ................................................................ 34
2.1.3. Hoạt động của người bào chữa, người bị tình nghi đến hoạt động tranh tụng
hình sự. ....................................................................................................................... 35
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng

4

3.1.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................... 63
3.1.2.1. Về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên............................................... 63
3.1.2.2. Về hoạt động tranh tụng của người bào chữa ........................................... 65
3.1.2.3. Về vai trò của Hội đồng xét xử trong hoạt động tranh tụng ..................... 66
3.2. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện hoạt động tranh tụng trong tố tụng hình sự
theo tinh thần cải cách tư pháp...................................................................................68
3.2.1. Về mặt pháp lý ................................................................................................. 68
3.2.1.1. Cần chính thức ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong tố
tụng hình sự ............................................................................................................ 68
3.2.1.2. Sửa đổi lại trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo hướng quy định
thủ tục tố tụng tranh tụng ....................................................................................... 69

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng

5


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

3.2.1.3. Sửa đổi các quy định về người bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự,
cụ thể....................................................................................................................... 69
3.2.1.4. Nên quy định bị cáo cũng có quyền đặt câu hỏi với những người tham
gia tố tụng khác....................................................................................................... 71
3.2.1.5. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 theo hướng Tòa án không có trách nhiệm
chứng minh tội phạm .............................................................................................. 71

thần tranh tụng mà Bộ Chính trị đề ra. Nhận thấy được tầm quan trọng đó mà
trong suốt những năm qua các Cơ quan bảo vệ pháp luật đã có rất nhiều cố gắng
trong việc bảo vệ an ninh, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
đạt được cũng bộc lộ nhiều thiếu sót, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự thông qua hoạt động tranh tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng, mà tựu
chung lại trong phiên tòa xét xử như oan, sai, bỏ lọt tội phạm mà vụ án của
Nguyễn Thanh Chấn, Bùi Minh Hải là một minh chứng.
Nhằm hướng tới xây dựng một nền tư pháp dân chủ, tiến bộ; Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp thời gian tới đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm
sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác….Việc phán quyết của Tòa án phải căn
cứ chủ yếu dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”1. Trong chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị yêu cầu: “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi
đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp..”. Quán triệt và triển khai thi hành
nội dung của nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử, vì đây là nguyên tắc
cơ bản đảm bảo hoạt động tranh tụng được công bằng, khách quan, kịp thời bảo
vệ lợi ích chính đáng của công dân.
Trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, những nhà lập pháp cũng
như các cơ quan bảo vệ pháp luật luôn kế thừa và phát huy để việc tranh tụng tại
1

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị, về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
thời gian tới

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng


lý do, động lực thôi thúc người viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu hoạt động tranh tụng người viết hướng tới làm sáng
tỏ những cơ sở lý luận, những quy định cũng như những bất cập của pháp luật có
liên quan đến hoạt động tranh tụng. Qua đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp
nhằm nâng cao hoạt động tranh tụng, nâng cao chất lượng xét xử tại các phiên
tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tranh tụng là một vấn đề rất rộng và phức tạp. Trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật có liên
quan đến hoạt động tranh tụng, cũng như việc áp dụng các quy định đó trong
thực tiễn theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng

8


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

4. Phương pháp nghiên cứu
Có thể nói, chất lượng của luận văn có được đánh giá cao hay không thì
phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp nghiên cứu. Bởi mỗi phương pháp đó quyết
định sự đúng đắn và khoa học của luận văn. Chính vì tầm quan trọng của sự lựa
chọn đó, người viết dựa trên những nhận thức, quan điểm của Đảng và Nhà nước về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội Chủ nghĩa. Đồng thời kết hợp các phương

SVTH: Trần Thái Hưng

9


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về nguyên tắc tranh tụng của luật Tố tụng Hình sự .
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc tranh tụng
1.1.1. Khái niệm tranh tụng
Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của
loài người. Loại tố tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy lạp cổ đại, sau đó được
áp dụng rộng rãi ở La Mã với thủ tục “ Hỏi đáp liên tục”. Cùng với thời gian, tranh
tụng được kế thừa, phát triển và được khẳng định và đến nay nó được áp dụng ở hầu
hết các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ
Ở Việt Nam thì khái niệm tranh tụng được hiểu ở các bình diện sau:
Về mặt lập pháp: Tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoăc giải
thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945
cho đến nay.
Về mặt ngôn ngữ: thì theo Đại từ điển tiếng Việt thì “tranh tụng” hiểu
theo nghĩa rộng “là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện việc
khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án”
Tranh tụng hiểu theo nghĩa hẹp: “ Là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên
đương sự với nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên”

xem xét, quyết định đưa ra bản án”
Theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Thái Phúc, Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh thì: “Tranh tụng là một quá trình xác định sự thật khách
quan về vụ án, đồng thời cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích, các
nhiệm vụ đặt ra của Luật Tố tụng hình sự và bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào
quá trình tố tụng hình sự có thể tham gia một cách có hiệu quả nhất chức năng của
mình ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự”
Vậy, với quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Thái Phúc thì khái niệm tranh
tụng được hiểu khá đầy đủ hơn về mặt lý luận.
1.1.1.2. Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình
Khái niệm tranh tụng trong khoa học tố tụng hình sự được hiểu ở hai
nghĩa: quá trình tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng. Ở góc độ chung nhất, tranh
tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau,
có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ các ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và
phản bác ý kiến lập luận của phía bên kia. Chức năng bào chữa và chức năng buộc
tội. Khi xuất hiện chức năng buộc tội thì tất yếu đòi hỏi xuất hiện chức năng bào
chữa. Đó chính là thời điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng.
Điều này có nghĩa rằng trong khi xét xử vụ án hình sự, và để đảm bảo sự
công bằng, sự bình đẳng cũng như bảo vệ quyền con người trong quá trình xét xử
thì đòi hỏi phán quyết của tòa án phải diễn ra vô tư, khách quan, Tòa án phải thực
sự là trọng tài trong cuộc tranh luận giữa hai bên đối trọng nhau để tìm ra sự thật
khách quan vụ án. Bên buộc tội ( Công tố viên), và bên gỡ tội( Luật sư bào chữa).
Tuy nhiên một phiên tòa sẽ không có ý nghĩa khi việc xét xử chỉ diễn ra phiến diện,
một phía là do các cơ quan tiến hành tố tụng với chức năng buộc tội bị cáo mà
không có sự tham gia bào chữa cho bị cáo là chức năng gỡ tội.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 11


quan, đảm bảo quyền lợi của công dân, tạo lòng tin cho nhân dân vào Ngành tư
pháp nước nhà.
1.1.2. Các thuộc tính của nguyên tắc tranh tụng
* Tính khách quan của nguyên tắc tranh tụng
Đây là thuộc tính của bất kỳ nguyên tắc nào của BLTTHS. Sự tồn tại của
nguyên tắc tranh tụng là sự phản ánh quy luật khách quan trong hoạt động TTHS.
2

Xem Bộ luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga, Nxb Proooxxpcc, Mat1xcova, 2001

3

Xem A.P. Rưgiacốp: Tố tụng hình sự, Nxb Norma Mat1xcova, 2004

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 12


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

Quy luật này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chúng ta. Quả thực như vậy,
hoạt động tố tụng hình sự từ cổ chí kim luôn là hoạt động không tách rời, gắn bó
hữu cơ của ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử. Sự tồn tại của chức năng này
tất yếu đòi hỏi sự tồn tại của hai chức năng kia. Mỗi chức năng tồn tại và vận động
trong chừng mực tồn tại và vận động của các chức năng còn lại. Sự khác biệt giữa
các mô hình tố tụng là chính ở chỗ các chức năng này có sự tách bạch với nhau và


SVTH: Trần Thái Hưng 13


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

chúng mới thực sự có vai trò định hướng cho hành vi của các chủ thể tham gia vào
hoạt động tố tụng. Vấn đề tiếp theo là kỹ thuật lập pháp thể hiện nguyên tắc cơ bản
của luật như thế nào. Thông thường các nguyên tắc cơ bản được xác định một cách
rõ ràng về tên gọi, nội dung chính của nó ngay trong một điều luật ở chương “ Các
nguyên tắc cơ bản” hoặc “ Những quy định chung”. Có trường hợp có điều luật gọi
tên, thừa nhận nguyên tắc cơ bản nhưng không ghi nhận nội dung chính của nó. Các
quy phạm tiếp theo cụ thể hóa, thể hiện nội dung của nguyên tắc cơ bản. Cũng có
trường hợp khi mở luật ra chúng ta không tìm được một nguyên tắc nào chính thức
gọi tên nguyên tắc cơ bản nhưng những nội dung chính của nó đã được thể hiện, ghi
nhận trong nhiều điều khác của luật. Các kỹ thuật lập pháp khác nhau trong chừng
mực nhất định nào đó thể hiện mức độ nhận thức của nhà lập pháp về vấn đề cụ thể.
Về hình thức, tại chương 1: “ Những nguyên tắc cơ bản” của Bộ luật tố
tụng Hình sự hiện hành không có điều luật nào ghi nhận về nguyên tắc tranh tụng.
Vấn đề cốt lõi mà chúng ta quan tâm ở đây là những nội dung của nguyên tắc tranh
tụng có được ghi nhận trong các điều luật hay không? Xung quanh vấn đề này thì ở
nước ta còn có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo quan điểm của Tiến sĩ Luật học Khuất Văn Nga, Trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng cả
về phần “ xác” lẫn phần “ hồn”, có nghĩa là không thừa nhận nó cả về tên gọi cũng
như những nội dung của nó trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành. Cụ thể, có tác
giả phản đối bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào hệ thống các nguyên tắc vận hành

với quan điểm trên. Cần nói rõ là Bộ luật tố tụng hình sự chưa có một điều luật gọi
đích danh nguyên tắc tranh tụng trong số những nguyên tắc cơ bản nhưng phần “
hồn” của nó đã hiện diện trong các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành
mặc dù còn nhiều hạn chế cần được hoàn thiện. Điều này cũng giống như nguyên
tắc hai cấp xét xử. Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa ghi nhận nguyên tắc này
với tư cách là một nguyên tắc cơ bản nhưng toàn bộ nội dung của nguyên tắc nêu
trên đã thể hiện sự tranh tụng. Về lý luận cũng như luật thực định chúng tôi cho
rằng không ai có thể phủ nhận nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Việt
Nam hiện hành. Vì vậy tác giả luận văn này không đồng ý với nhận định “ Bộ luật
tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định nguyên tắc hai cấp xét xử” và coi việc bổ
sung nguyên tắc này như một nguyên tắc mới. Đã đến lúc chúng ta cần phải sửa đổi
kỹ thuật lập pháp và bổ sung hoàn thiện những nội dung của nguyên tắc tranh tụng.
Đây sẽ là một bước tiến mới của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần
cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền- Nhà nước tổ
chức và quản lý theo pháp luật và đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm
quyền con người, quyền công dân.
1.1.3. Nội dung và phạm vi của nguyên tắc tranh tụng
* Nội dung của nguyên tắc tranh tụng
Trong khoa học tố tụng hình sự gần như có sự nhất trí về những nội dung
của nguyên tắc tranh tụng:
Có sự tách bạch giữa các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Tranh
tụng đòi hỏi các chức năng khác nhau phải do các chủ thể khác nhau thực hiện. Một
chủ thể không thể đồng thời thâu tóm trong tay mình nhiều chức năng khác nhau.
Trong các chức năng nói trên thì chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là
những chức năng đối trọng với nhau, do vậy tranh tụng là tranh tụng giữa hai bên:
bên buộc tội và bên bào chữa. Tòa án thông qua việc thực hiện chức năng xét xử là
trọng tài trong quá trình tranh tụng giữa các bên, giải quyết cuộc tranh cải ( tranh
luận) giữa các bên. Tòa án phải được giải phóng khỏi những chức năng không phải
là chức năng xét xử. “ Sẽ là sai lầm nếu cho rằng chức của Tòa án không chỉ là xét
xử mà bao gồm cả buộc tội và bào chữa nữa… Tòa án phải làm sáng tỏ tất cả các

chức năng của mình – chức năng xét xử thì xét cho cùng, vai trò, uy tín của Tòa án
được đề cao một số người rất khó chấp nhận hình ảnh của Tòa án của Nhà nước
chúng ta như là “ trọng tài”, không phải là cơ quan đấu tranh chống tội phạm. Quan
điểm này không có gì mới. Nó đã từng tồn tại ở Liên Xô trước kia, vào những năm
60 của thế kỷ trước. Hãy thử nhìn xem sự ra đời của Tòa hành chính, Tòa án lao
động ở nước ta nói lên điều gì nêú không phải là vai trò trọng tài giải quyết một
cách khách quan nhất những xung đột lợi ích pháp lý giữa công dân với các cơ quan
Nhà nước ? Vụ án hình sự là gì nếu không phải là xung đột lợi ích pháp lý giữa Nhà
nước – mà đại diện là cơ quan thực hiện chức năng buộc tội như cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát và một bên là công dân- người đã bị truy tố về những hành vi có dấu
hiệu của tội phạm, Tòa án cũng như những cơ quan bảo vệ pháp luật khác có nhiệm
vụ đấu tranh phòng chống tội phạm nhưng Tòa án thực hiện nhiệm vụ này thông
qua chức năng xét xử với vai trò trọng tài. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với
nhiệm vụ hoạt động tố tụng hình9 sự ở nước ta là “ xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 16


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

Sự bình đẳng giữa các bên trong tiến trình tranh tụng. Đối với mô hình tố
tụng pha trộn thì sự bình đẳng thực sự giữa các bên chỉ được thừa nhận ở trước Tòa
án. Đây chính là nét đặc thù của nguyên tắc tranh tụng trong mô hình tố tụng này.
Điều này có ý nghĩa là ở trước giai đoạn xét xử, sự bình đẳng giữa các bên có những

nên cũng không thể nói là phiến diện. Thí dụ, khi thân chủ của mình bị khởi tố bị
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 17


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

can thì Luật sư đã khiếu nại cho rằng quyết định khởi tố là trái pháp luật vì thân chủ
chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Thủ trưởng cơ quan điều tra chấp nhận
khiếu nại, ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, đình chỉ vụ án. Vậy sự
tranh tụng ở đây là không chính thức? Sự tranh tụng ở đây là một quá trình và xuất
hiện của Tòa án trong quá trình này chỉ là sự xác nhận sự tranh tụng đã lên đến đỉnh
điểm, đòi hỏi phải có trọng tài để giải quyết.
Thừa nhận nguyên tắc tranh tụng từ cả giai đoạn trước khi xét xử là phù
hợp với lý luận, với luật thực định và định hướng cải cách tư pháp ở nước ta. Cũng
như những nguyên tắc cơ bản khác, sự thể hiện nội dung của mỗi nguyên tắc ở các
giai đoạn tố tụng có thể không đồng đều, có những hạn chế nhất định. Thí dụ,
nguyên tắc xét xử trực tiếp, công khai được thực hiện đầy đủ ở phiên tòa sơ thẩm,
nhưng ở các cấp xử tiếp theo có những hạn chế nhất định. Tranh tụng ở giai đoạn
trước xét xử có thể có những điều kiện hạn chế hơn tranh tụng ở phiên tòa sơ thẩm
nhưng chúng ta không thể phủ nhận nó được.
1.1.4. Nguyên tắc tranh tụng là tư tưởng chủ đạo trong cải cách tư pháp
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định
nhiệm vụ trọng tâm là : “ Nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm
của các cơ quan và cán bộ”, trong đó có nhiệm vụ trọng tâm là “ nâng cao chất
lựơng chất lượng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với

lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư
pháp..”. Tiếp theo đó Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử được đảm bảo”. Như vậy, dù Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa
quy định tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng nhưng tinh thần
của nó đã thể hiện rải rác ở một số điều luật, và đây còn là một nội dung mang tính
Hiến định trong Hiến pháp 2013 “ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm
bảo”. Bởi lẽ, tầm quan trọng của nguyên tắc này có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả
các hoạt động tố tụng từ giai đoạn khởi tố cho đến khi Hội đồng xét xử ra phán
quyết cuối cùng bắng một bản án đúng ngừơi, đúng tội, đúng pháp luật, ảnh hưởng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ
quan tiến hành tố tụng cũng như niềm tin của nhân dân vào Ngành tư pháp nước ta.
Chính vì lẽ đó mà nội dung cải cách tư pháp trong thời gian tới là làm sao cho hoạt
động xét xử phải diễn ra khách quan, dân chủ với nhau giữa các chủ thể tiến hành tố
tụng, Tòa án chỉ đóng vai trò là trọng tài, và phán quyết của Tòa án chỉ căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa mà các bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tranh luận
công khai tại phiên tòa. Bởi trong giai đoạn xét xử là giai đoạn quan trọng để các
bên buộc tội và gỡ tội có cơ hội làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án với sự chứng
kiến và phân xử công bằng của Tòa án. Bên cạnh đó các chủ thể tiến hành tố tụng
thấy đựơc khả năng tranh tụng của mình như thế nào để từ đó học hỏi rút kinh
nghiệm và khắc phục những hạn chế yếu kém. Nếu mỗi chủ thể tiến hành tố tụng
thực hiện nghiêm túc tinh thần tranh tụng theo Nghị quyết số 08 mà Bộ Chính trị đề
cập thì chất lượng cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa sẽ diễn ra dân chủ,
phán quyết của Tòa án sẽ kết tội đúng người, đúng pháp luật, giảm đi thực trạng
oan, sai. Đồng thời nâng cao vị thế của Ngành tư pháp, tạo niềm tin của nhân dân
vào Nhà nước pháp quyền, Nhà nước “ của dân, do dân, vì dân”. Mặc dù Bộ luật tố
tụng hình sự hiện hành đã có những sửa đổi nhưng vẫn chưa toàn diện và cụ thể,
điều quan trọng trong những khiếm khuyết đó là Bộ luật tố tụng hình sự chưa ghi
nhận tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong xét xử, điều này đã ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động xét xử của những người tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến
quyền lợi của bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến uy tín và lòng tin của nhân dân vào

buộc tội và bào chữa. Theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị thì “ “ Khi xét xử Tòa án phải đảm bảo cho các công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của
Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn và
những ngừơi có quyền và lọi ích hợp pháp”. Như vậy, Tòa án chỉ có chức năng xét
xử là chính, Tòa án cũng có quyền tham gia vào tranh luận nhưng với tư cách là
trọng tài chỉ gợi mở cho các bên tranh luận. Phán quyết của Tòa án chủ yếu căn cứ
vào kết quả tranh tụng công khai tại tòa, trên cơ sở đánh giá, xem xét đầy đủ các
chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa. Việc tranh tụng tại phiên tòa chủ yếu chỉ do hai
bên đối trọng với nhau thực hiện là bên buộc tội ( Kiểm sát viên) và bên gỡ tội (
Luật sư, người bào chữa).

5

Phan văn Sơn. Viện trưởng Viện thực hành công tố.. tại Đà Nẵng( Viện phúc thẩm 2), đề xuất giải pháp
triển khai thi hành nguyên tắc tranh tụng trong ngành kiểm sát nhân dân.Tạp chí kiểm sát số 06/2014

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 20


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

Nguyên tắc tranh tụng một mặt đảm bảo quyền bình đẳng, mặt khác
khẳng định và đề cao vai trò quan trọng của Tòa án trong việc đảm bảo quyền giữa

vụ kiện), người kiện gọi là nguyên cáo, người bị kiện gọi là bị cáo, người bị tạm
giam chờ xét xử bị gọi là tù nhân, thực tế bị coi là kẻ phạm tội dù chưa được xét
xử công khai.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 21


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

Về thủ tục tranh luận và quyền bào chữa của bị cáo, Bộ luật Hồng Đức
quy định mang tính chất nguyên tắc luận tội và định tội danh đối với bị cáo phải
viện dẫn đúng căn cứ pháp lý về hinh thức và nội dung ( Điều 26 Chương Đoán
ngục, các quan xử án phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho bị cáo biết về tội
danh đã định, cũng như phân tích, lập luận cho bị cáo hiểu về hành vi phạm tội của
họ để họ “ phục tội”. Nếu như bị cáo chưa nhận tội thì vụ án tiếp tục được xét hỏi
và tranh luận cho ra lý lẽ thì mới được klết tội ( Điều 64 Chương Đoán ngục).
Đồng thời, Bộ luật cũng không cho phép những quan phụ phẩm ( Thẩm phán giúp
việc) tại phiên tòa xét xử công khai cố ý không “ tranh biện” về sau nghị án đưa ra
ý kiến khác với nội dung vụ kiện đã được làm rõ ( Điều 63 Chương Đoán ngục).
Chúng ta cũng thấy rõ quy định nhằm tránh oan sai trong việc xét xử hình sự ở
Điều 34 Chương Đoán ngục, là trường hợp án xử vào tội nhẹ, nhưng xét về tình,
về lý nếu thấy đáng nghi ngờ thì phải giao cho quan xét xử ở cấp phúc thẩm xét
hỏi bị cáo làm cho họ nhận tội. Nếu họ không chịu nhận tội thì cho phép họ được
bào chữa, rồi xét xử lại kỹ càng. Như vậy quyền bào chữa của bị cáo chỉ xuất hiện
khi họ không nhận tội. Có thể thấy thủ tục xét xử hình sự theo Bộ luật Hồng Đức
coi trọng là bị cáo có nhận tội hay không nhận tội, điều này có ý nghĩa mở ra hoặc

1.2.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003.
Khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được thành lập, bản Hiến pháp
năm 1946 ra đời, rất nhiều Sắc lệnh được ban hành để thiết lập, xây dựng và củng
cố thể chế chính trị, trong đó có mục tiêu đảm bảo hoạt động có hiệu quả của hệ
thống cơ quan tư pháp nói chung, coi trọng việc thiết lập các thủ tục xét xử hình
sự. Cụ thể, về thủ tục tranh luận được đặt ra sớm nhất tại Điều 26 Sắc lệnh số
51/SL ngày 17/4/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa: “ Khi ra
phiên tòa, ông biện lý cũng như bị cáo cùng bên dân sự nguyên cáo, có quyền yêu
cầu tòa thi hành mọi phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật. Khi cuộc thẩm vấn
ở phiên tòa diễn ra xong rồi, ông biện lý thay mặt xã hội buộc tội bị can. Bao giờ
ông biện lý cũng nói sau dân sự nguyên cáo. Bên bị cáo nói sau cùng, trước khi tòa
tuyên án. Tòa không bắt buộc phải xử theo lời yêu cầu của ông biện lý. Ngày nay “
ông biện lý” gọi là Kiểm sát viên. Sắc lệnh gọi hoạt động của bên công tố là “
buộc tội” ( ngày nay không được gọi trực tiếp là buộc tội mà là hoạt động luận
tội). Có thể thấy quy định trên dù còn đơn giản nhưng đã hình thành nên thủ thục
tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, được tiếp nối sau xét hỏi, đã thể hiện
nguyên tắc tranh luận là phải dựa trên cơ sở lời buộc tội và bên buộc tội chỉ được
có ý kiến sau ý kiến của các đương sự.
Thủ tục xét hỏi và tranh luận được ghi nhận rõ ràng hơn ở Thông tư số
22- HCTP ngày 18/12/1957 của Bộ tư pháp trả lời một số điểm về quyền bào
chữa, cụ thể: “Sau khi Công tố viện luận tội, người bào chữa được trình bày lời
bào chữa của mình, đề ra những điểm không đồng ý với Công tố viện và biện bác,
xuất phát từ quan điểm bảo vệ pháp luật, chính sách và quyền lợi chính đáng của
bị can. Sau khi người bào chữa nói xong mà Công tố viện đáp lại thì người bào
chữa có quyền trả lời”, quy định “ tại phiên tòa, người bào chữa được hỏi tất cả
những người công khai tại phiên tòa, sau khi xin phép ông Chánh án. Ở phiên tòa,
nếu có hiện tượng khôngdân chủ, trấn áp bị cáo làm mất đi quyền tự do bào chữa,
thì người bào chữa được đề nghị với Tòa án chấm dứt ngay”. Văn bản này lần đầu
tiên quy định thủ tục người bào chữa có quyền xét hỏi bị cáo và những người được

quy định trách nhiệm phải bồi thường đối với những việc phạm pháp mà bị cáo là
công nhân, viên chức hoặc thành viên của tổ chức đã gây ra trong khi thi hành
nhiệm vụ. Bộ luật tố tụng hình hiện hành không ghi nhận chính thức, cụ thể tư
cách tham gia tố tụng của người có trách nhiệm bồi thường mà chỉ xác định tư
cách “phụ” của họ là giám hộ trong vụ án có bị cáo, người bị hại là vị thành niên.
Do đó đã gây ra không ít tình huống lúng túng trên thực tế.
Thứ ba, việc xác định tư cách tham gia tố tụng “tư cách nhân chứng” đối
với người đại diện cơ quan đoàn thể trong tố tụng trong trường hợp khi họ cần
trình bày trước Tòa án nhân dân về chế độ, thể lệ, quy tắc.. mà bị cáo đã vi phạm
hoặc cung cấp cho Tòa án những nhận xét của mình về thái độ lao động hoặc tư
cách đạo đức của bị cáo đã cho thấy tính dứt khoát, rõ ràng, khác với pháp luật tố
tụng hình sự hiện hành, khi thì xác định họ là nguyên đơn dân sự hoặc chỉ mời đến
phiên tòa mà không xác định tư cách tham gia tố tụng của họ. Ngoài ra, Thông tư
số 16 lần đầu ấn định quyền được tham gia cuộc thẩm vấn và tranh luận ở phiên
tòa sơ thẩm của người bị hại khi xảy ra những sự việc gây thiệt hại cho họ; của
người có tài sản, người có quyền lợi liên quan đến việc phạm pháp về vấn đề tài
sản, quyền lợi của họ, của người có trách nhiệm bồi thường khi họ làm giám hộ
cho bị cáo, người bị hại là vị thành niên. Về việc xét hỏi của Hội thẩm nhân dân:
Thông tư số 2421 – TC ngày 29/12/1961 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 24


Hoạt động tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện theo tinh thần cải cách tư pháp

Luận văn tốt nghiệp

việc thực hiện chế độ Hội thẩm nhân dân quy định tại điểm 2, mục III như sau: “

xét hỏi bị cáo thì đại diện Viện kiểm sát nhân dân và người bào chữa có thể yêu
cầu Hội đồng xử án hỏi thêm một vài vấn đề cần hỏi ngay. Sau cùng chủ tọa phiên
tòa hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có trách nhiệm bồi thường, người
có tài sản, quyền lợi có liên quan đến việc phạm pháp, giám định viên có muốn hỏi
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Trần Thái Hưng 25


Trích đoạn Hoạt động thu thập chứng cứ 1 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Về hoạt động tranh tụng của người bào chữa Về vai trò của Hội đồng xét xử trong hoạt động tranh tụng Sửa đổi lại trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo hướng quy định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status