Pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nước ở việt nam hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

SALONGXAY MOUNPHOXAY

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ VÙNG ĐẤT NGẬP NƢỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lƣu Ngọc Tố Tâm

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
luận, số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.
Xác nhận của giảng viên hƣớng dẫn

Tác giả

Salongxay Mounphoxay


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trƣờng Đại học Luật Hà

1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập
nước .......................................................................................................... 27
Kết luận Chƣơng 1 .......................................................................................... 30
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
VÙNG ĐẤT NGẬP NƢỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................... 31
2.1. Các quy định pháp luật về điều tra, lập quy hoạch bảo tồn và
phát triển bền vững các vùng đất ngập nƣớc ............................................... 31
2.1.1. Thực trạng quy định pháp luật về điều tra, lập quy hoạch
bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước ......................... 31
2.1.2. Đánh giá các quy định pháp luật về điều tra, lập quy hoạch
bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước ......................... 35
2.2. Các quy định pháp luật về bảo tồn vùng đất ngập nƣớc .......... 41
2.2.1. Thực trạng quy định pháp luật về bảo tồn vùng đất ngập
nước .......................................................................................................... 41


2.2.2. Đánh giá các quy định pháp luật về bảo tồn vùng đất ngập
nước .......................................................................................................... 48
2.3. Các quy định pháp luật về phát triển bền vững vùng đất ngập
nƣớc ............................................................................................................. 50
2.3.1. Thực trạng quy định pháp luật về phát triển bền vững vùng
đất ngập nước ........................................................................................... 50
2.3.2. Đánh giá các quy định pháp luật về phát triển bền vững
vùng đất ngập nước .................................................................................. 53
2.4. Các quy định pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý vùng đất
ngập nƣớc..................................................................................................... 56
2.4.1. Thực trạng quy định pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý
vùng đất ngập nước .................................................................................. 56
2.4.2. Đánh giá các quy định pháp luật về hệ thống cơ quan quản
lý vùng đất ngập nước .............................................................................. 58

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3....................................................................84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 85


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của loài ngƣời gắn liền với các vùng đất ngập nƣớc. Từ
thời nguyên thuỷ, con ngƣời đã thƣờng sống tập trung tại nơi đất đai mầu mỡ
thuộc các lƣu vực sông hay các vùng ven biển. Ngày nay, các vùng đất ngập
nƣớc đang là nơi cung cấp lúa gạo và thuỷ sản cho hơn một nửa dân số thế
giới. Đất ngập nƣớc còn là nơi có đa dạng sinh học cao và có nhiều chức năng
quan trọng khác đối với sự sống của loài ngƣời. Nó duy trì mực nƣớc ngầm,
tích trữ nƣớc nên có tác dụng kiểm soát lụt lội, cải thiện điều kiện vi khí hậu,
và có giá trị du lịch, kinh tế- xã hội,... Đất ngập nƣớc là mắt xích không thể
thiếu của sự sống trên trái đất, song nhiều vùng đất ngập nƣớc đã và đang bị
huỷ hoại trên toàn thế giới.
Các vùng đất ngập nƣớc đƣợc xem là có sự đa dạng sinh học cao nhất
trong tất cả các hệ sinh thái. Việt Nam là một trong những quốc gia rất giàu
tiềm năng đất ngập nƣớc cả về diện tích, chức năng và giá trị so với các nƣớc
trên thế giới. Với trên 10 triệu ha đất ngập nƣớc, phân bố ở hầu khắp mọi
vùng sinh thái, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cƣ, trong đó đất ngập nƣớc
trồng lúa chiếm khoảng 4,1 triệu ha. Hiện nay, 1/5 dân số nƣớc ta đang sống ở
vùng đất ngập nƣớc và phụ thuộc trực tiếp vào việc khai thác, sử dụng các sản
phẩm của đất ngập nƣớc1. Đất ngập nƣớc đã mang lại nhiều giá trị to lớn cho
bảo vệ môi trƣờng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Đồng thời,
những vùng đất này cũng là nơi giải trí, chốn tâm linh của nhiều làng quê từ
miền núi, đồng bằng đến vùng ven biển.
Việt Nam là thành viên của Công ƣớc Ramsar từ năm 1989. Ramsar là

Cũng nhƣ nhiều quốc gia khác, vùng đất ngập nƣớc thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau ở Việt Nam.
Dƣới góc độ khoa học tự nhiên, có nhiều công trình nghiên cứu về vùng đất
ngập nƣớc. Có thể kể đến nhƣ: Nguyễn Đình Hòa, Vũ Văn Hiến (2001), Du lịch
bền vững, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội; Hoàng Văn Thắng (2005), Đa
dạng sinh học, các chức năng chính và một số nhân tố tác động lên hệ sinh
thái đất ngập nước khu vực Bàu Sấu (Vườn Quốc gia Cát Tiên), Luận án Tiến
sĩ, Trƣờng Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội; Lê Diên Dực- Hoàng Văn
Thắng (2012), Đất ngập nước “các nguyên lý và sử dụng bền vững”, NXB
Nông nghiệp, Hà Nội;… Các công trình này nghiên cứu một vùng đất ngập


3

nƣớc cụ thể, hoặc nghiên cứu về vai trò của vùng đất ngập nƣớc đối với du
lịch và hoạt động sản xuất kinh tế của con ngƣời.
Dƣới góc độ khoa học pháp lý, tính đến thời điểm hiện tại, chƣa có công
trình nào nghiên cứu pháp luật về bảo vệ các vùng đất ngập nƣớc ở Việt Nam, đặc
biệt là nghiên cứu trên cơ sở quy định của Luật Bảo vệ môi trƣờng 2014 và các văn
bản có liên quan. Mà chỉ có các công trình nghiên cứu pháp luật về bảo vệ môi
trƣờng nói chung, bảo vệ các nguồn tài nguyên nhƣ nƣớc, rừng, không khí, khoáng
sản,… nói riêng. Có thể kể đến nhƣ: Nguyễn Hải Âu (2001), Pháp luật bảo vệ môi
trường rừng ở Việt Nam- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc
sĩ luật học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội; Hoàng Hiền Lƣơng (2009), Một số vấn đề
pháp lý về bảo vệ các loài động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, Khoá luận tốt
nghiệp, Trƣờng đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh (2006), Pháp luật về bảo vệ
nguồn nước những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, Khoá luận tốt nghiệp,
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, … Các đề tài này đã xây dựng đƣợc hệ thống lý luận
về bảo vệ môi trƣờng nói chung, bảo vệ môi rừng, bảo vệ nguồn nƣớc nói riêng… và
nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ các tài nguyên này đồng thời đề

Nam hiện hành về bảo vệ vùng đất ngập nƣớc.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu mà tác giả hƣớng tới khi thực hiện luận văn là làm rõ những vấn đề
lí luận chung nhất về bảo vệ vùng đất ngập nƣớc, phân tích những nội dung cơ bản
của pháp luật hiện hành về bảo vệ vùng đất ngập nƣớc trong đó có chỉ ra ƣu điểm và
bất cập của các quy định này. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ vùng đất
ngập nƣớc ở Việt Nam hiện nay.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để có thể xây dựng luận văn một cách logic và khoa học thì một hệ thống
câu hỏi đã đƣợc xây dựng và trả lời, cụ thể:
- Chƣơng 1: luận văn đã trả lời những câu hỏi nhƣ vùng đất ngập nƣớc là gì?
Vùng đất ngập nƣớc có chức năng và vai trò nhƣ thế nào đối với môi trƣờng và con
ngƣời? Hiện nay vùng đất ngập nƣớc ở Việt Nam đƣợc sử dụng và bảo tồn ra sao?
Ngoài những vấn đề chung về vùng đất ngập nƣớc, trong Chƣơng 1, luận văn còn
nghiên cứu những vấn đề chung về pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nƣớc. Với
phần này, tác giả đƣa ra những câu hỏi sau: tại sao phải bảo vệ vùng đất ngập nƣớc
bằng pháp luật, hiện nay vùng đất ngập nƣớc đƣợc quy định trong những văn bản
pháp luật nào của Việt Nam, và nội dung cơ bản của các quy định về bảo vệ vùng đất
ngập nƣớc trong các văn bản này là gì?


5

- Chƣơng 2: luận văn nghiên cứu về thực trạng pháp luật Việt Nam hiện
hành về bảo vệ vùng đất ngập nƣớc. Các câu hỏi đƣợc trả lời trong phần này bao
gồm: pháp luật quy định nhƣ thế nào về điều tra, lập quy hoạch bảo tồn và phát triển
bền vững các vùng đất ngập nƣớc; về bảo tồn vùng đất ngập nƣớc; về phát triển bền
vững vùng đất ngập nƣớc? Những cơ quan nhà nƣớc nào có thẩm quyền và trách
nhiệm trong việc quản lý vùng đất ngập nƣớc? Và trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với

nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định pháp luật về vấn đề này.
Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho các nghiên cứu sau về vùng đất ngập nƣớc
dƣới góc độ pháp lý và cũng là tài liệu tham khảo có thể đƣợc sử dụng trong học tập
và giảng dạy luật ở Việt Nam.
Luận văn cũng giúp nâng cao nhận thức của ngƣời dân Việt Nam về chức
năng, vai trò của vùng đất ngập nƣớc đối với môi trƣờng và con ngƣời. Từ đó, nâng
cao ý thức, và trách nhiệm của họ trong bảo vệ các vùng đất ngập nƣớc.
Đồng thời, những kiến nghị đƣợc trình bày tại Chƣơng 3 của luận văn cũng
có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà lập pháp trong việc hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập nƣớc ở việt Nam.
Luận văn này là cơ sở quan trọng đánh giá quá trình học tập của học
viên trong chƣơng trình đào tạo Thạc sĩ của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu các vấn đề lí luận về vùng đất ngập nƣớc, thực
trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động bảo vệ đất ngập nƣớc ở Việt Nam, cũng nhƣ
những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này là bài học kinh nghiệm
quý giá cho việc bảo vệ vùng đất ngập nƣớc tại nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Khái quát chung về đất ngập nƣớc và pháp luật về bảo vệ
vùng đất ngập nƣớc
Chƣơng 2: Thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ vùng đất ngập
nƣớc ở Việt Namhiện nay
Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
vùng đất ngập nƣớc ở Việt Nam hiện nay


7



8

habitat) thì đất ngập nƣớc là: "Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự
nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước
chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ
sâu không quá 6m khi thuỷ triều thấp đều là các vùng đất ngập nước" (Điều
1.1. Công ƣớc Ramsar, 1971). Định nghĩa này đã liệt kê các loại đất ngập
nƣớc dựa theo các yêu tố địa mạo, thủy văn, thổ nhƣỡng, động vật, thực vật,
hiện trạng sử dụng. Đây là những tiêu chí quan trọng để xác định các vùng đất
ngập nƣớc. Trong các yếu tố đó, chế độ thuỷ văn vẫn là yếu tố tự nhiên quyết
định và đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định, duy trì và quản lý
các vùng đất ngập nƣớc, đặc biệt là các vùng đất ngập nƣớc nƣớc ngọt nội
địa. Trong thực tế, có những vùng đất ngập nƣớc quan trọng chỉ ẩm ƣớt theo
mùa không ẩm ƣớt quanh năm.
Là thành viên của Công ƣớc Ramsar nên cách tiếp cận khái niệm đất
ngập nƣớc của pháp luật Việt Nam, về cơ bản là giống với Công ƣớc. Ở Việt
Nam, định nghĩa về đất ngập nƣớc đƣợc nêu tại Thông tƣ 18/2004/TTBTNMT về việc hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23
tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng
đất ngập nƣớc, theo đó:“Đất ngập nước là vùng ngập nước thường xuyên
hoặc tạm thời, nước chảy hoặc nước tù, nước ngọt, nước phèn, nước mặn
hoặc nước lợ. Đất ngập nước được phân thành đất ngập nước ven biển, đất
ngập nước nội địa.”
Nhƣ vậy, định nghĩa này đã liệt kê khá cụ thể các vùng ngập nƣớc. Ở
Việt Nam, tất cả các vùng ngập nƣớc dù là thƣờng xuyên hay tạm thời, dù
nƣớc chảy hay nƣớc tù, dù là nƣớc ngọt, nƣớc phèn, nƣớc mặn hay nƣớc lợ
đều đƣợc coi là đất ngập nƣớc và chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp
luật của Nhà nƣớc. Khác với hai định nghĩa về đất ngập nƣớc nêu trên, pháp
luật Việt Nam đã có sự phân loại đất ngập nƣớc. Theo đó, đất ngập nƣớc ở
Việt Nam đƣợc chia thành 2 nhóm chính: đất ngập nƣớc nội địa và đất ngập

rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp
xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thƣờng là nơi cƣ trú của nhiều loại rùa biển và đặc
biệt loài thú biển Dugon.
- Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống
các đảo rất phong phú. Vùng nƣớc ven bờ của hầu hết các đảo lớn đƣợc đánh
giá có mức độ đa dạng sinh học rất cao với các hệ sinh thái đặc thù nhƣ rạn
san hô, cỏ biển...


10

Ở Việt Nam, khi nói tới các vùng đất ngập nƣớc không thể không
nhắc tới hai vùng đất ngập nƣớc quan trọng là: Đất ngập nƣớc vùng đồng
bằng châu thổ sông Hồng và Đất ngập nƣớc châu thổ sông Cửu Long. Đất
ngập nƣớc ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha.
Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động
vật vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cƣ trú của nhiều loài chim
nƣớc. Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nƣớc 4.939.684 ha.
Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cƣ từ phía thƣợng nguồn
sông Mê Công. Những khu rừng ngập nƣớc và đồng bằng ngập lũ cũng là
những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở
đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái
rừng tràm ở vùng ngập nƣớc nội địa và hệ sinh thái cửa sông.
Mỗi kiểu hệ sinh thái đất ngập nƣớc đều có khu hệ sinh vật đặc trƣng
của mình. Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn
phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên.
Các vùng đất ngập nƣớc phân bố trải đều trên toàn quốc đã đem lại
nhiều lợi ích cho ngƣời dân địa phƣơng và môi trƣờng.
Nhƣ vậy, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã có sự quy định khá rõ
ràng về những vùng nƣớc đƣợc xác định là đất ngập nƣớc và có sự phân biệt

các bể lắng giữ lại trầm tích, các chất ô nhiễm, độc hại và chất thải nói chung,
góp phần làm sạch nƣớc và hạn chế ô nhiễm môi trƣờng nƣớc biển.
- Chức năng tích lũy chất dinh dưỡng: các vùng đất ngập nƣớc giúp
giữ lại các chất dinh dƣỡng (nitơ, photpho, các nguyên tố vi lƣợng...) cho vi
sinh vật, phát triển nguồn lợi thủy sản và lâm nghiệp, hạn chế bớt hiện tƣợng
phú dƣỡng nhƣ ở các vùng đất ngập nƣớc đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng
Sông Cửu Long và các thủy vực khác.
- Chức năng điều hòa vi khí hậu: các vùng đất ngập nƣớc, đặc biệt, ở
vùng có cỏ biển, rừng ngập mặn, rạn san hô đã góp phần đáng kể vào việc cân
bằng khí O2 và khí CO2 trong khí quyển, điều hoà khí hậu địa phƣơng (nhiệt
độ, độ ẩm, lƣợng mƣa) và giảm hiệu ứng nhà kính. Theo tính toán của Jim
Enright và Yadfon Association (2000), rừng ngập mặn có khả năng tích luỹ
CO2 ở mức độ cao, rừng ngập mặn 15 tuổi giảm đƣợc 90,24 tấn CO2/ha/năm,
tác dụng lớn làm giảm hiệu ứng nhà kính2.
- Chức năng hạn chế lũ lụt: đất ngập nƣớc (rừng ngập mặn, hồ tự
2

/>

12

nhiên, hồ nhân tạo...) có thể đóng vai trò nhƣ bồn chứa lƣu giữ, điều hoà
lƣợng nƣớc mƣa và dòng chảy mặt, góp phần giảm lƣu lƣợng dòng chảy lũ và
hạn chế lũ lụt ở các vùng lân cận. Ở Việt Nam, những vùng đất ngập nƣớc có
chức năng chính là hạn chế lũ lụt có thể kể đến nhƣ hồ Hòa Bình, hồ Thác Bà,
hồ Trị An,...
- Chức năng sản xuất sinh khối: tất cả các vùng đất ngập nƣớc là nơi
sản xuất sinh khối, tạo nguồn thức ăn cho các loại thuỷ sản, gia súc, động vật
hoang dã hoặc vật nuôi. Ngoài ra, một phần các chất dinh dƣỡng này có từ các
động thực vật đã chết sẽ đƣợc các dòng chảy bề mặt chuyển đến các vùng hạ

to lớn về khoa học, văn hóa giáo dục và phục vụ du lịch sinh thái, mang lại lọi
ích về kinh tế và xã hội. Trong các loài chim làm tổ ở rừng tràm thì loài già
đẫy Java có số lƣợng rất ít, là loài quý hiếm không chỉ đối với Việt Nam mà
còn đối với khu vực ASEAN và thế giới. Nhƣng hiện nay, Việt Nam chỉ gặp
chúng làm tổ ở Vƣờn quốc gia U Minh, Cà Mau; Loài sếu đầu đỏ cũng là loài
chim vô cùng quý ở Đông Nam Á đã xuất hiện và thích nghi với môi trƣờng ở
Vƣờn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp; Vạc hoa chỉ
gặp ở hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - khu Ramsar vừa đƣợc công nhận năm 2011;
Cò thìa cũng chỉ có ở khu Ramsar Xuân Thủy, tỉnh Nam Định 3... Nhờ sự định
cƣ và phát triển của các loài sinh vật quý, hiếm, độc đáo này đã là một nguyên
nhân thu hút khách du lịch trong nƣớc và quốc tế ngày càng đông.
Kết quả của các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong
Việt Nam và quốc tế cho đến nay đã thống kê sơ bộ có khoảng 12.115 loài
thủy sinh vật phân bố ở môi trƣờng biển, môi trƣờng nƣớc lợ và các vùng
nƣớc nội địa cùng với hơn 300 loài động vật có xƣơng sống chuyên sống
trong môi trƣờng nƣớc, hoặc có chu kỳ sống thích nghi liên quan với các hệ
sinh thái đất ngập nƣớc. Chẳng hạn, thú có 47 loài thuộc 11 họ, 4 bộ; chim có
170 - 180 loài thuộc 42 họ nằm trong 20 bộ; bò sát có 35 loài thuộc 6 họ và
hầu hết 162 loài lƣỡng cƣ thƣờng sống và phát triển trong môi trƣờng đất
ngập nƣớc. Trong số này đã ghi nhận 60 loài thuộc diện có nguy cơ bị đe dọa
có tên trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 nhƣ rái cá lông mƣợt, rái cá vuốt
bé, mèo cá, hƣơu đầm lầy, voọc bạc, voọc mông trắng, voọc đầu vàng, dơi
ngựa lớn, bò biển, cá ông chuông, cá heo, sếu cổ trụi, vạc hoa4... Đây là nguồn
gen tự nhiên có giá trị bảo tồn cao đang hiện hữu trong các hệ sinh thái đất
3
4

/> />

14


5

/>

15

+ Khả năng lọc nƣớc thải: một vùng đất ngập nƣớc có giá trị khoảng
vài chục hecta sẽ có khả năng lọc và xử lý nƣớc thải tƣơng đƣơng với một
trạm xử lý nƣớc nhiều triệu USD. Một vai trò hết sức quan trọng của đất ngập
nƣớc đó là khả năng xử lý ô nhiễm mà đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ. Ngày nay,
đa phần, nguồn nƣớc thải sinh hoạt đều qua các hệ thống cống rãnh song các
hệ thống này thƣờng dùng chung với hệ thống thoát nƣớc mƣa thải trực tiếp
ra môi trƣờng tự nhiên, ao hồ, sông suối hoặc thải ra biển. Hầu nhƣ không có
hệ thống thu gom và trạm xử lý nƣớc thải sinh hoạt riêng biệt nào. Việc sử
dụng mô hình đất ngập nƣớc nhân tạo để xử lý nƣớc thải sinh hoạt trở nên
ngày càng phổ biến, vừa có thể thay thế và bổ sung những công nghệ hóa học
tuy mang tính công nghệ cao nhƣng lại tốn kém.
+ Nạp và ổn định nƣớc ngầm: nƣớc đƣợc thấm từ các vùng đất ngập
nƣớc xuống các tầng ngập nƣớc trong lòng đất, nƣớc đƣợc giữ ở đó và điều
tiết thành dòng chảy bề mặt ở vùng đất ngập nƣớc khác cho con ngƣời sử
dụng.
+ Hạn chế ảnh hƣởng lũ lụt: đất ngập nƣớc hạn chế ảnh hƣởng lũ lụt
bằng cách giữ và điều hoà lƣợng nƣớc mƣa nhƣ “bồn chứa” tự nhiên, giải
phóng nƣớc lũ từ từ, từ đó có thể làm giảm hoặc hạn chế lũ lụt ở vùng hạ lƣu.
+ Điều hòa khí hậu, chống xói mòn, ổn định bờ biển, chắn gió bão, bồi
tụ đất đai.... Nhiều nghiên cứu cho thấy, đất ngập nƣớc có thể làm giảm
những tác động từ biến đổi khí hậu, mặc dù chúng chỉ chiếm 6-8% diện tích
bề mặt Trái đất. Chính bởi giá trị quan trọng đó, thông điệp cho Ngày Đất
ngập nƣớc Thế giới (02/02 hàng năm) là “Chăm sóc vùng đất ngập nƣớc –

nghề cá thế giới, đứng thứ 12 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản và
thứ 7 về giá trị xuất khẩu thủy sản6. Hàng chục cảng cá đã đƣợc xây dựng và
đƣa vào sử dụng tại các địa phƣơng ven biển và nhiều đảo lớn trên các vùng
biển của đất nƣớc... Sự phát triển nhanh, bền vững của kinh tế thủy sản, đặc
biệt là sự lớn mạnh của lực lƣợng sản xuất, nuôi trồng, khai thác thủy sản và
các cơ sở hạ tầng nghề cá đã giúp cho đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của bà
con ngƣ dân đƣợc cải thiện rõ rệt; đồng thời, góp phần xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển và các địa bàn ven biển,
hải đảo ngày càng vững chắc.
- Sản xuất nông nghiệp: phần lớn diện tích đất ngập nƣớc của Việt
Nam đƣợc sử dụng để trồng lúa, đặc biệt là tại đồng bằng Sông Hồng và đồng
6

/>

17

bằng Sông Cửu Long. Lợi thế này đã đƣa Việt Nam trở thành quốc gia xuất
khẩu gạo lớn hàng đầu thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, tính đến năm 2015, trung bình hàng năm Việt Nam sản xuất tới 45 triệu
tấn lúa (tƣơng đƣơng 26-27 triệu tấn gạo), xuất khẩu từ 6-7 triệu tấn gạo7.
Đây là con số rất lớn, đóng góp không nhỏ vào GDP quốc dân;
- Các hoạt động giải trí và du lịch: Doanh thu từ các hoạt động vui
chơi và du lịch trên các vùng đất ngập nƣớc tại các nơi nhƣ Vịnh Hạ Long,
đảo Cát Bà, đảo Phú Quốc, Côn Đảo, các bãi biển đẹp tại Phan Thiết và Vũng
Tàu, động Phong Nha – Kẻ Bàng, công trình kỉ niệm lịch sử tại rừng quốc gia
U Minh Thƣợng, các khu du lịch sinh thái của khu bảo tồn thiên nhiên đất
ngập nƣớc Xuân Thủy và Vƣờn quốc gia Ba Bể, …. hiện đã tăng lên trong
những năm gần đây nhờ thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong và ngoài
nƣớc.

điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và các mục tiêu phát triển mà Chính phủ đề ra
cho từng vùng và từng tỉnh. Việc sử dụng đất theo quy mô hộ gia đình còn
nhiều tồn tại mà quan trọng nhất là thiếu vốn đầu tƣ và sự hiểu biết về sử
dụng đất ngập nƣớc, nên đã gặp thất bại trong các vụ nuôi tôm và để lại hậu
quả về môi trƣờng.
Hiện nay, vẫn chƣa có quy chế quản lý đất ngập nƣớc riêng phù hợp
với đặc thù của các loại hình đất ngập nƣớc. Các vƣờn quốc gia và Khu bảo
tồn là các khu đất ngập nƣớc hoặc có một phần diện tích là đất ngập nƣớc vẫn
phải tuân theo Quy chế Quản lý rừng đặc dụng. Ở các khu này chƣa có khái
niệm “sử dụng khôn khéo” Đất ngập nƣớc, vì hoạt động chính vẫn là bảo tồn.
Hầu hết, các khu này còn rất khó khăn về vốn đầu tƣ, hàng năm nhận
đƣợc nguồn kinh phí hạn chế từ ngân sách tỉnh là chủ yếu. Ngoài ra, một số
nơi cũng đƣợc sự hỗ trợ từ nguồn viện trợ của các chính phủ (gián tiếp hoặc
trực tiếp) thông qua các dự án do các tổ chức quốc tế triển khai thực hiện. Các
khu đất ngập nƣớc hầu nhƣ không có kinh phí để tổ chức việc giám sát, thu
thập số liệu, đánh giá diễn biến tài nguyên sinh vật. Do đó, không thể có số
liệu cụ thể thuyết minh diễn biến về đa dạng sinh học.
Trong nhiều năm trở lại đây, việc khai thác và sử dụng nguồn tài
nguyên Đất ngập nƣớc đang diễn ra một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch. Khai
hoang để trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, mở rộng các khu dân cƣ, đô thị hóa,
khu công nghiệp, phát triển giao thông, …làm cho diện tích đất ngập nƣớc tự
nhiên bị thu hẹp, tài nguyên suy giảm; xói lở, bồi tụ, môi trƣờng bị ô nhiễm
nghiêm trọng (ô nhiễm dầu, các kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, ô nhiễm
các vi sinh vật gây bệnh).


19

Thứ hai, thực trạng bảo tồn đất ngập nước ở Việt Nam hiện nay:
Năm 1989, Việt Nam đã chính thức tham gia Công ƣớc Ramsar, là

www.mekongwetlands.org/.../GENERAL%20policy%20.../V.G.5.11.06.%202006.11..



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status