Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

---***---

LƯƠNG THỊ NGUYỆT MINH

LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

---***---

LƯƠNG THỊ NGUYỆT MINH

LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau Đại học Trường Đại
học Luật Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Lương Thị Nguyệt Minh
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

PGS. TS NÔNG QUỐC BÌNH


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

Bộ luật Dân sự

CISG

Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế

INCOTERMS


1.3. Nguyên tắc áp dụng luật trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế... 36
Chương 2. Luật áp dụng cho Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
theo một số Điều ước quốc tế ........................................................................... 45
2.1. Khái quát chung về công ước Viên 1980 và Quy tắc Rome I 2008 ...... 45
2.2. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế ............................. 47
2.3. Quy tắc Rome I 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng........ 55
Chương 3. Thực tiễn áp dụng luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế tại Việt Nam và một số kiến nghị........................................................ 61
3.1. Thực tiễn áp dụng luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại
Việt Nam............................................................................................................ 61
3.2. Một số kiến nghị để hoàn thiện hệ thống các quy phạm giải quyết
xung đột pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam........... 87
KẾT LUẬN............................................................................................... 94


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một
trong những vấn đề pháp lý phức tạp trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế, vì đây là cơ sở pháp lý tiền đề quan trọng nhất điều chỉnh quan
hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Việc nghiên cứu đề tài “Luật áp dụng trong Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” ở cấp độ luận văn
thạc sĩ luật học có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận cũng như thực tiễn, vì những
lý do sau:
Thứ nhất, ý nghĩa quan trọng về pháp lý, chính trị và xã hội của vấn đề
xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Về pháp lý, việc nghiên cứu góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về

được các yêu cầu của thực tiễn.
Thứ ba, sự cần thiết bảo đảm quyền tự do thỏa thuận chọn luật áp dụng
trong thực tiễn thi hành pháp luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam.
Trước xu thế quốc tế, đòi hỏi việc tôn trọng quyền tự do ý chí trong quan
hệ hợp đồng như một nguyên tắc mang tính chất nền tảng, trong pháp luật và
thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam còn tồn tại tình trạng chưa bảo đảm
quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận chọn luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng
một cách thực sự do chưa có các quy định cụ thể để thực thi quyền này, dẫn
đến hiện trạng các quy định về quyền mang nặng tính hình thức và thiếu tính
khả thi.
Thứ tư, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam cần xây dựng
một môi trường pháp lý an toàn, minh bạch, khuyến khích, tạo thuận lợi cho
quan hệ thương mại quốc tế. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về luật áp dụng
điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm tạo một khuôn khổ pháp
lý cho các quan hệ thương mại quốc tế phát triển. Đây là yêu cầu của thực
tiễn, không chỉ đối với các đối tác nước ngoài mà ngay cả đối với bên Việt
Nam cũng cần thiết có một môi trường pháp lý thuận lợi, an toàn cho các giao
dịch trên phạm vi quốc tế, tránh cho bên Việt Nam khỏi các rủi ro trên thường
trường quốc tế.
Thứ năm, sự cần thiết phát triển tri thức khoa học về vấn đề xác định luật
áp dụng trong giải quyết tranh chấp hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam.
Trong khoa học Tư pháp quốc tế Việt Nam hiện nay chưa có công trình


3

nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về vấn đề luật áp dụng điều
chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong khoa học Tư pháp quốc tế ở
các nước đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về luật áp dụng điều

4

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
a) Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong khoa học luật Tư pháp quốc tế Việt Nam có nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng thương mại nói chung ở
các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam chưa được nghiên cứu trực tiếp ở tất
cả các cấp độ. Mặc dù vậy, một số khía cạnh pháp lý liên quan đến luật áp
dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam đã được đề
cập một cách gián tiếp trong một số công trình nghiên cứu trong nước, như
một số công trình của các tác giả dưới đây:
- Tác giả Võ Sỹ Mạnh, Vi phạm cơ bản hợp đồng theo công ước Viên
năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện
các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học,
Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh.
- Nhóm tác giả, Hợp đồng thương mại, luận về luật kinh doanh, ĐH Mở
TP. Hồ Chí Minh
- Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Hường, Hiệu lực của Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ.
- Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Giang, Pháp luật áp dụng trong các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, luận văn thạc sỹ luật học, 2008, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Tác giả Ngô Thị Kiều Trang, Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
theo pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia
Hà Nội…
b) Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề luật áp dụng điều
chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khá đa dạng và phong phú. Nhìn
chung các công trình đã nghiên cứu được các vấn đề lý luận cơ bản về luật áp

selective Private International Law Developments of 2008, Legal Studies
Research Paper Series Working Paper No. 2009-01, January 2009.
c) Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề được tập trung nghiên
cứu, giải quyết trong luận văn
 Những vấn đề còn tồn tại
Thứ nhất, sự thiếu toàn diện và đầy đủ về nội dung và phạm vi nghiên
cứu
- Các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu nghiên cứu các vấn đề


6

về hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói chung và mới chỉ đề cập một cách gián
tiếp và thiếu hệ thống về một số nội dung liên quan đến vấn đề luật áp dụng
trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu ngoài nước về luật áp dụng trong hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế chỉ tập trung nghiên cứu nội dung các quy định của
luật pháp quốc tế và luật pháp các nước về luật áp dụng trong hợp đồng
thương mại quốc tế nói chung. Nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam
và thực tiễn áp dụng các quy định về xác định luật áp dụng điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam chưa được nghiên
cứu chuyên sâu và có hệ thống. Vấn đề cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc chọn
luật áp dụng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.
Thứ hai, sự tồn tại những quan điểm khác nhau về kết quả nghiên cứu
như:
- Những quan điểm khác nhau về khái niệm luật áp dụng điều chỉnh các
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Những quan điểm khác nhau về nội dung các quy định cụ thể về các
nguyên tắc xác định luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế.

các vấn đề pháp lý cơ bản về luật áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế tại Việt Nam bao gồm các nguyên tắc xác định luật áp dụng đối
với hợp đồng (về hình thức, về nội dung, năng lực chủ thể). Luận văn cũng
chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế mà không nghiên cứu hết các quy định về luật áp dụng đối
với tất cả các loại hợp đồng thương mại nói chung. Luận văn loại trừ việc
nghiên cứu vấn đề luật áp dụng đối với các hợp đồng có tính chất dân sự và
các hợp đồng có tính chất công giữa các quốc gia với nhau do phạm vi nghiên
cứu không cho phép.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là từ việc nghiên cứu các vấn đề lý
luận cơ bản, pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật quốc tế cũng như tại
Việt Nam về luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện và thực thi có hiệu quả việc xác định
luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn là: Cơ sở lý luận của việc xác định
luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Cơ sở pháp lý


8

của việc xác định luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
trong tư pháp quốc tế? Làm rõ vấn đề luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam trên tất cả các phương diện lý luận, quy
định và thi hành pháp luật trong Tư pháp quốc tế, làm sáng tỏ các yêu cầu và
giải pháp vấn đề luật áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
tại Việt Nam?
Cơ sở lý thuyết của luận văn là lý luận về học thuyết quyền tự do ý chí
trong quan hệ hợp đồng (Principle of party autonomy), theo đó các chủ thể

khái niệm, cơ sở, nguồn luật áp dụng và nội dung các nguyên tắc xác định luật
áp dụng điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam góp
phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học luật Tư pháp quốc tế Việt Nam nói
riêng, khoa học luật Tư pháp quốc tế trên thế giới nói chung về luật áp dụng
đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam.
b) Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là các luận điểm khoa học
trong việc phân tích pháp luật, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đóng góp về mặt lý
luận và thực tiễn, giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong việc xây dựng, thi
hành pháp luật Tư pháp quốc tế Việt Nam, trong chiến lược cải cách tư pháp,
cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật, trong đó có pháp luật Tư pháp quốc tế Việt Nam. Luận văn là tài liệu
tham khảo thiết thực trong nghiên cứu, giảng dạy, xây dựng và thi hành pháp
luật trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế tại Việt Nam.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Lý luận chung
Chương 2. Luật áp dụng cho Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo
một số Điều ước quốc tế
Chương 3. Thực tiễn áp dụng luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế tại Việt Nam và một số kiến nghị


10

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Luật áp dụng cho Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

sự”, trong đó quan hệ dân sự được hiểu là các quan hệ về dân sự, hôn nhân,
gia đình, kinh doanh thương mại, lao động…
Như vậy, pháp luật của các nước định nghĩa về hợp đồng đều có điểm
chung là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, hay nói cách khác yếu tố thống nhất
ý chí của các bên. Khi đối chiếu với định nghĩa hợp đồng của BLDS 2005 của
Việt Nam thì có thể nói, khái niệm hợp đồng của BLDS năm 2005 có nhiều
điểm giống BLDS Nga, Trung Quốc nhưng thể hiện tính ngắn gọn, xúc tích
và đầy đủ. Tuy nhiên, nếu như các nước Việt Nam, Nga, Trung Quốc nêu rõ
là “Hợp đồng dân sự” thì pháp luật các nước Hòa Kỳ, Pháp chỉ định nghĩa
“hợp đồng” mà không nêu là hợp đồng gì mặc dù quy định, định nghĩa về hợp
đồng được đưa ra trong các BLDS.
Như vậy, có thể hiểu hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự
(theo nghĩa rộng, tức là bên cạnh quan hệ thỏa thuận trong lĩnh vực dân sự
còn bao gồm cả các quan hệ kinh doanh, thương mại, lao động) có yếu tố
nước ngoài. Khi nghiên cứu Hợp đồng trong tư pháp quốc tế cần xác định
được các yếu tố nước ngoài được quy định như thế nào trong tư pháp quốc tế.
Có ba dấu hiệu quan trọng khi xem xét các yếu tố nước ngoài, đó là:
(i) các bên chủ thể ký kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau;
(ii) sự kiện pháp lý có liên quan như thiết lập, thay đổi, chấm dứt hợp
đồng diễn ra ở nước ngoài;
(iii) đối tượng của hợp đồng ở nước ngoài.
Điều 758 BLDS Việt Nam 2005 cũng đã ghi nhận các dấu hiệu này.
b) Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên chủ
thể về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên
với nhau trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong tư pháp quốc tế còn được biết đến là
hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng xuất nhập khẩu thương mại… là
một loại hợp đồng điển hình trong tư pháp quốc tế vì nó là hợp đồng mua bán
có yếu tố nước ngoài.

đồng quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia
như quốc tịch, nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn
vốn thanh toán…
c) Xung đột pháp luật
Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều đặt chủ trương tham gia quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế lên hàng đầu. Quá trình hội nhập đó đã làm phát


13

sinh mối quan hệ không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa công dân và pháp
nhân nước này với công dân và pháp nhân nước khác trong nhiều lĩnh vực
kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình… Trong khi thực hiện
các mối quan hệ đó làm nảy sinh các mâu thuẫn, tranh chấp mà việc giải
quyết tranh chấp này liên quan đến pháp luật của các quốc gia khác nhau. Vậy
pháp luật quốc gia nào sẽ được áp dụng để giải quyết những mâu thuẫn, tranh
chấp đó. Không có một hệ thống pháp luật chung nhất cho tất cả các quốc gia
mặc dù hệ thống các Điều ước quốc tế đã và đang ngày càng được các quốc
gia xây dựng để tiến tới áp dụng thống nhất. Bởi vì sự khác biệt về chế độ
chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng tôn giáo… dẫn tới sự khác biệt về hệ
thống pháp luật giữa các quốc gia. Đối với các mâu thuẫn, tranh chấp giữa
công dân và pháp nhân của các quốc gia khác nhau sẽ có cách giải thích, áp
dụng pháp luật và xử lý khác nhau. Điều này dẫn tới hệ quả pháp lý khác
nhau, thậm chí trái ngược nhau và làm phát sinh một hiện tượng trong tư pháp
quốc tế gọi là hiện tượng xung đột pháp luật.
Theo đó, có thể hiểu xung đột pháp luật là hiện tượng khi hai hay nhiều
hệ thống pháp luật đồng thời có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp
luật. Vấn đề cần giải quyết là chọn một trong các hệ thống pháp luật để áp
dụng giải quyết quan hệ pháp luật trên.
Hoặc theo cách hiểu theo khái niệm của Mỹ: “Sự khác biệt giữa luật

(i) Phương pháp áp dụng quy phạm pháp luật thực chất
Đây là phương pháp sử dụng các quy phạm pháp luật thực chất để điều
chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế.
Quy phạm thực chất là quy phạm định sẵn các quyền, nghĩa vụ, biện
pháp chế tài đối với các chủ thể tham gia quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra, nếu
có sẵn quy phạm thực chất để áp dụng thì các đương sự cũng như cơ quan có
thẩm quyền căn cứ ngay vào quy phạm để xác định được vấn đề mà họ đang
quan tâm mà không cần phải thông qua một khâu trung gian nào.
Trong thực tiễn việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế được áp
dụng bởi các quy phạm thực chất thống nhất là quy phạm thực chất được xây
dựng bằng cách các quốc gia kí kết, tham gia các điều ước quốc tế hoặc chấp
nhận và sử dụng tập quán quốc tế.
Phương pháp này có tính ưu việt là làm cho mối quan hệ tư pháp quốc tế
được điều chỉnh nhanh chóng, các vấn đề cần quan tâm được xác định ngay,
các chủ thể của quan hệ đó và các cơ quan có thẩm quyền khi có tranh chấp sẽ

2

Từ điển Duhaime – http://www.duhaime.org/LegalDictionary/C/ConflictofLaws.aspx: "The branch of
English law known as conflict of laws is that part which deals with cases having a foreign element. By a
'foreign element' is meant simply a contact with some system of law other than English law. Such a contact
may exists, for example, because a contract was made or to be performed in a foreign country, or because a
tort was committed there, or because property was situated there, or because the parties are not English".
[truy cập: 03/08/2016].


15

tiết kiệm được thời gian, trong khi đó việc tìm hiểu pháp luật nước ngoài là
một vấn đề rất phức tạp và đòi hỏi nhiều công sức.

16

Khi có tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
chúng có thể được điều chỉnh bởi pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau như
pháp luật quốc gia của các chủ thể hợp đồng, pháp luật của nước nơi ký kết
hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi phát sinh tranh chấp, nơi có tài sản là
đối tượng của hợp đồng…
Nguyên nhân của xung đột pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế cũng như nguyên nhân chung của xung đột pháp luật trong tư pháp
quốc tế. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến xung đột pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế. Một là tồn tại hai hay nhiều hệ thống pháp luật
khác nhau, là hệ thống tồn tại trên một lãnh thổ tương đối độc lập về mặt tư
pháp giữa nhiều quốc gia hay một quốc gia (có hệ thống tiểu bang) hay một
quốc gia như Bỉ hay Iran (hai cộng đồng tôn giáo) hay Pháp, Canada (một số
tỉnh có quy phạm pháp luật riêng) cùng điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế. Hai là mỗi hệ thống tồn tại đều chứa đựng quy phạm điều
chỉnh mối quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khác nhau.
Tất cả các vấn đề liên quan tới hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nếu
có tranh chấp xảy ra đều có thể xảy ra các xung đột pháp luật do pháp luật
điều chỉnh của mỗi khu vực pháp lý khác nhau về các phần đó có sự khác
nhau. Xung đột pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường
được chia thành các nội dung cụ thể với các cách giải quyết xung đột pháp
luật về từng phần. Dưới đây chỉ đề cập đến hiện tượng xung đột pháp luật đối
với ba khía cạnh của hợp đồng là xung đột pháp luật về xác định tư cách chủ
thể của hợp đồng, xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng và xung đột
pháp luật về nội dung của hợp đồng.
a) Xung đột pháp luật về xác định tư cách chủ thể của hợp đồng
Trước khi nghiên cứu vấn đề xung đột pháp luật về xác định tư cách chủ
thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì cần phải xác định chủ
thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là những đối tượng nào. Chủ thể

hầu hết các ngành luật (trừ một số loại giao dịch cụ thể cho phép người từ đủ
18 tuổi trở lên được phép thực hiện với các điều kiện và thời hạn cụ thể5), hay
3

Age of majority (độ tuổi trưởng thành, tuổi thành niên), xem tại các trang
https://en.wikipedia.org/wiki/Age_of_majority#Age_21; http://www.protection-of-minors.eu/en/cat1.php;
[truy cập: 03/08/2016].
4
BLDS
Pháp
2004
bản
dịch
tiếng
Anh,
tại
https://www.legifrance.gouv.fr/content/download/1950/13681/version/3/.../Code_22.pdf
[truy
cập:
03/08/2016].
5
Xem nội dung bản sửa đổi bổ sung BLDS Singapore năm 2009 tại trang
http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;page=0;query=Id%3Ac439ecde-57f1-463d-a084-


18

Nhật Bản (Điều 4 BLDS Nhật Bản năm 18966) là từ đủ 20 tuổi trở lên, ở Hàn
Quốc (Điều 4 BLDS Hàn Quốc7 năm 2015, hiệu lực từ ngày 4/2/2016) là từ
đủ 19 tuổi trở lên. Khi đó, một cá nhân người Pháp hay Việt Nam ký kết hợp

http://law.go.kr/engLsSc.do?menuId=0&subMenu=5&query=%EB%AF%BC%EB%B2%95#liBgcolor0
[truy cập: 03/08/2016].


19

xung đột về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của cá nhân dựa trên chế độ
đãi ngộ quốc dân, tức là người nước ngoài ở tại Việt Nam cũng có các quyền
và nghĩa vụ như công dân Việt Nam tại Việt Nam8. Tại Điều 762 quy định
năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo
pháp luật của nước mà người đó là công dân. Trong trường hợp người nước
ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành
vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam. Như
vậy, có thể khẳng định, tùy theo từng trường hợp cụ thể mà pháp luật Việt
Nam quy định năng lực hành vi của các bên chủ thể khi tham gia ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định theo luật quốc tịch của chủ thể
(lex nationalis) hay theo luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus).
Theo như hầu hết các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký
kết, Việt Nam và các nước thống nhất việc xác định năng lực pháp lý và năng
lực hành vi của cá nhân dựa vào quy phạm luật quốc tịch. Ví dụ theo Điều 17
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Lào năm 1999 quy định: “năng
lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của nước ký
kết mà cá nhân đó là công dân”; hay Điều 19 Hiệp định tương trợ tư pháp
Việt Nam – Nga năm 1998 và Điều 22 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam
– Mông Cổ năm 2002 cũng quy định tương tự như vậy.
Đối với chủ thể là pháp nhân, theo quy định tại Điều 765 BLDS Việt
Nam năm 2005, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được
xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập. Trường
hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt
Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status