Pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 25



2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ TUYẾT GIANG PHÁP LUẬT ÁP DỤNG TRONG CÁC HỢP ĐỒNG
MUA BẤN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ

Mã số : 30 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIỄN


8
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
8
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng
8
1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
9
1.1.1.3. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
14
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
19
1.1.3. Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại quốc
tế
21
1.2. Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
23
1.2.1. Khái niệm về luật áp dụng
23
1.2.2. Vai trò của luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
24
1.2.3 Xác định luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
27 1.2.3.1. Các nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
27
1.2.3.2. Căn cứ xác định luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng

2.2.3.1. Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo sự lựa
chọn của các bên
55 2.2.3.2. Luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo mối
quan hệ gắn bó nhất
65
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÁC HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN Ở
VIỆT NAM
79
3.1. Thực trạng áp dụng pháp luật và những hạn chế trong việc áp dụng
pháp luật đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam
79
3.1.1. Thực trạng áp dụng pháp luật đối với hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế ở Việt Nam.
79
3.1.2 Những hạn chế trong việc áp dụng pháp luật đối với hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế ở Việt Nam
85
3.2. Những đề xuất hoàn thiện việc áp dụng pháp luật đối với hợp đồng
mua bán quốc tế ở Việt Nam
92

KẾT LUẬN

99
PHỤ LỤC 1: Các hiệp định thương mại song phương Việt Nam đã ký
với các nước

các quyền và nghĩa vụ khác nhau của các bên hợp đồng mà hợp đồng không
có khả năng dự đoán trước hoặc nếu có thì tính minh bạch trong các điều
khoản của hợp đồng không cao, mà nguyên nhân chính là do pháp luật ở mỗi
nước là khác nhau. Vì vậy, một trong những điều quan trọng trước khi các
bên ký kết một hợp đồng thương mại quốc tế là các bên phải thông qua luật

2
sư tư vấn hoặc tự mình có được sự am hiểu nhất định về các vấn đề pháp lý
liên quan đến hợp đồng, nhất là việc hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi hệ
thống pháp luật nào để từ đó biết được các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng
thời có thể tránh được những bất đồng, tranh chấp không cần thiết có thể xảy
ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trên thực tế, để bảo vệ quyền lợi của
mình một cách tốt nhất, trong nhiều trường hợp, các bên thỏa thuận một cách
rõ ràng trong hợp đồng về pháp luật sẽ áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng
hóa của mình.
Trong điều kiện Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu
vực và thế giới, số lượng các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà trong
đó Việt Nam là một bên đang ngày càng tăng về số lượng và giá trị. Theo
nguyên tắc tự do hợp đồng, tự do thỏa thuận, các bên trong hợp đồng hoàn
toàn có quyền thỏa thuận luật áp dụng là pháp luật Việt Nam hay pháp luật
nước ngoài mà họ cho là phù hợp nhất đối với giao dịch của mình. Tuy nhiên,
việc các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế lựa chọn pháp luật
Việt Nam là không nhiều. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân là
pháp luật Việt Nam còn chưa tạo được niềm tin cho phía đối tác nước ngoài
cũng như cho chính các doanh nghiệp Việt Nam, nên hầu hết các hợp đồng
thương mại như vậy đều quy định dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài để điều
chỉnh. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần phải có sự đánh giá, nghiên cứu pháp
luật của mình để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo hành lang
pháp lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng,
đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động giao lưu thương mại giữa Việt Nam và

đồng dẫn đến những thua thiệt không đáng có Điều đáng quan tâm là mặc

4
dù chúng ta đã có khuôn khổ pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng
mua bán hàng hoá nói riêng (trong đó có hợp đồng mua bán có yếu tố nước
ngoài), nhưng một câu hỏi lớn đang được đặt ra là tại sao đa số các hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế mà Việt Nam là một bên lại lựa chọn pháp luật
nước ngoài để áp dụng? Thực tế này đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục tìm
hiểu một cách thấu đáo, kỹ càng hơn nữa về hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế, đặc biệt là vấn đề luật áp dụng cho hợp đồng
Nói tóm lại, việc nghiên cứu pháp luật áp dụng trong các hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam,
đồng thời đây là mối quan tâm lớn của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã,
đang và sẽ tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu và căn cứ lý luận của đề tài luận văn
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về hợp đồng chung đã có từ lâu nhưng
phạm trù hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dường như mới được quan tâm
nhiều trong thời gian gần đây, nhất là từ khi thực hiện chính sách đổi mới của
Đảng và Nhà nước. Trong số các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan có
thể kể đến như các cuốn sách “Hướng dẫn pháp luật hợp đồng thương mại”
của Thạc sỹ Đặng Văn Được (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, năm 2006);
“Hoàn thiện pháp luật về thương mại và hàng hải trong điều kiện Việt Nam
hội nhập kinh tế” của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Mơ (Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, năm 2002); “Hợp đồng thương mại quốc tế” của Giáo sư,
Tiến sỹ Nguyễn Trọng Đàn (Nhà xuất bản Thống kê, năm 1999); “Tìm hiểu
về pháp luật trong thương mại quốc tế” của Phó Tiến sỹ Lê Quang Liêm (Nhà
xuất bản Thống kê, năm 1996); các giáo trình giảng dạy của Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội do Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Bá Diến chủ biên như
“Giáo trình Tư pháp quốc tế” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm


đặc biệt là vấn đề pháp luật áp dụng trong các hợp đồng này ở Việt Nam trở
nên cần thiết, nhằm góp phần bổ sung và phát triển những kết quả nghiên cứu
trong điều kiện phát triển mới của Việt Nam.
3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài luận văn
Như đã đề cập ở trên, các công trình nghiên cứu về hợp đồng mua bán
hàng hóa tập trung ở các bài viết về một số vấn đề khác nhau của luật áp dụng
cho hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó có cả nội dung chọn luật áp dụng
cho hợp đồng. Trong luận văn này, tác giả không tham vọng nghiên cứu mọi
vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế mà chỉ tập trung làm sáng
tỏ một số vấn đề pháp lý liên quan đến việc chọn luật áp dụng cho các hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế xét từ góc độ các bên chủ thể tham gia hợp
đồng và từ phía các cơ quan giải quyết tranh chấp. Đồng thời, Luận văn cũng
đề cập đến một số thực trạng của việc chọn luật áp dụng cho hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm góp phần tìm hiểu, nâng cao nhận
thức, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến luật áp
dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế trên thế giới và ở Việt Nam; từ đó
đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như
công tác áp dụng pháp luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt
Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu truyền thống được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháp lý như:

7
phương pháp lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, trích dẫn, đối
chiếu, quy nạp, diễn dịch, khảo sát thực tế và lấy ý kiến của các chuyên gia để
làm rõ các vấn đề liên quan trong luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách quan niệm khác nhau về khái niệm
hợp đồng:
Theo pháp luật Hoa Kỳ, hợp đồng là một thỏa thuận giữa hai hoặc
nhiều người mà theo đó hình thành nên một nghĩa vụ phải làm hoặc không
được làm một việc cụ thể [62, tr.322].
Theo pháp luật của Pháp, hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc
nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm
hoặc không làm một việc nào đó (Điều 1101 Bộ luật Dân sự Pháp) [32, tr. 306].
Pháp luật của Trung Quốc quy định: “hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm
thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể
là thể nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở công bằng” (Điều 2 Luật
Hợp đồng Trung Quốc năm 1999) [53].
Pháp luật Liên bang Nga quy định: “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai
hoặc nhiều người nhằm thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
dân sự” (Khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga) [63]

9
Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng là
sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ (Điều 388) [5].
Như vậy, mặc dù được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng
pháp luật các nước đều quan niệm chung về hợp đồng, đó là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc thực hiện một việc, một nghĩa vụ nào đó. Nghĩa vụ hợp
đồng có thể phát sinh đối với một bên (hợp đồng đơn vụ) hoặc giữa các bên
với nhau (hợp đồng song vụ).
1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật các nước trên thế
giới có những cách tiếp cận không hoàn toàn không giống nhau:

bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (Khoản 8 Điều 3
Luật Thương mại năm 2005) [25]. Việc mua bán hàng hóa được thực hiện
trên cơ sở hợp đồng. Có thể thấy, ở Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa
cũng được hiểu là thỏa thuận giữa các bên mà theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, còn bên mua có
nghĩa vụ nhận hàng, nhận quyền sở hữu hàng và trả tiền cho bên bán. Cách
hiểu này cũng phù hợp với quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2005 về
hợp đồng mua bán tài sản.
Như vậy, mặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng
pháp luật các nước đều có một số điểm chung trong cách hiểu về hợp đồng
mua bán hàng hóa như sau:

11
Thứ nhất, đó phải là một giao kết hay thỏa thuận giữa các bên.
Hợp đồng hay thỏa thuận giữa các bên chỉ có giá trị khi thể hiện đúng ý
chí của các bên khi giao kết. Sự thỏa thuận đó sẽ không có giá trị nếu đạt
được do bị nhầm lẫn, bị đe dọa hoặc bị lừa dối (Điều 131 và Điều 132 Bộ luật
Dân sự năm 2005, Điều 1109 Bộ luật Dân sự Pháp).
Sự thỏa thuận đạt được do bị nhầm lẫn có thể trở nên vô hiệu khi đó là
nhầm lẫn về nội dung của giao dịch hay nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng.
Tuy nhiên, sự nhầm lẫn đó sẽ không là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu nếu
là nhầm lẫn về chủ thể giao kết, trừ trường hợp người giao kết không có đủ
năng lực giao kết hợp đồng (Điều 1110 Bộ luật Dân sự Pháp); nếu một bên cố
ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch hay đối tượng của hợp
đồng thì thỏa thuận hay giao dịch đó cũng sẽ trở nên vô hiệu (Đoạn 2 Điều
131 Bộ luật Dân sự năm 2005).
Sự thỏa thuận đạt được do bị đe dọa cũng có thể trở nên vô hiệu khi
hành vi đó là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia
buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản. Việc đe dọa có thể hướng tới bản thân

nhất Hoa Kỳ (U.C.C) quy định: “khi mua bán, hợp đồng hoặc thỏa thuận bị
giới hạn đối với những vật có liên quan đến việc mua bán tại thời điểm hiện
tại hoặc trong tương lai”.
Thứ ba, có việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc vật từ người
bán sang người mua.

13
Sau khi giao kết hợp đồng, bên bán có nghĩa vụ giao hàng cũng như các
chứng từ liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng cho bên
mua; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán số tiền cho bên bán như
đã thỏa thuận. Việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản mua bán từ bên
bán sang bên mua thường được thực hiện tại thời điểm chuyển giao tài sản
(Điều 133 Luật Hợp đồng Trung Quốc năm 1999). Tuy nhiên, đối với những
tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền
sở hữu chỉ được chuyển giao cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục
đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2005, ngoại trừ một số loại tài sản mà pháp luật quy định
phải đăng ký quyền sở hữu như máy bay, tàu biển, ô tô, xe máy hoặc quyền
tài sản… thì việc mua bán hàng hóa được coi là hoàn tất và quyền sở hữu đối
với tài sản, hàng hóa được coi là đã chuyển từ người bán sang người mua kể
từ thời điểm giao hàng (Khoản 2 Điều 439).
Có thể thấy, hành vi giao nhận hàng hóa (đối tượng của hợp đồng) có
vai trò hết sức quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, vì nó có giá trị
pháp lý đối với chuyển giao rủi ro đối với tài sản, hàng hóa từ người bán sang
người mua. Về vấn đề này, Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:
“Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản mua bán cho đến khi tài sản được giao
cho bên mua, còn bên mua chịu rủi ro đối với tài sản mua bán kể từ khi nhận
tài sản, nếu không có thỏa thuận khác” (Khoản 1); “đối với hợp đồng mua bán
tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên
bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro


15
quốc tịch của các bên trong hợp đồng không có ý nghĩa trong việc xác định
“tính chất quốc tế” của loại hợp đồng này. Ví dụ: Hợp đồng mua bán hàng
hóa được ký kết tại Anh giữa một thương nhân Anh có nơi cư trú tại
Singapore và một doanh nghiệp Anh có trụ sở tại London; hàng hóa được
chuyển từ Singapore về Anh. Hợp đồng này hoàn toàn đủ điều kiện là hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của Công ước La-hay năm
1964 mặc dù các bên chủ thể có cùng quốc tịch.
Thứ hai, tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo Công
ước Viên năm 1980 (Công ước của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng Mua bán
Hàng hóa Quốc tế được ký kết tại Viên năm 1980).
Điều 1 Công ước Viên năm 1980 quy định:
“1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa
các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau: (i) khi các quốc gia
này là thành viên của Công ước, hoặc (ii) khi theo quy tắc tư pháp quốc tế thì
luật được áp dụng là luật của quốc gia thành viên Công ước.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau
không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan
hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng giữa các bên hoặc là từ
việc trao đổi thông tin giữa các bên.
3. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính
chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định
phạm vi áp dụng Công ước này” [22, tr. 300].
Từ quy định trên của Công ước Viên năm 1980 cho thấy, tính chất quốc
tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác định chỉ bởi một tiêu
chí duy nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các

16
quốc gia khác nhau. Điều này khác với Công ước La-hay năm 1964, các yếu

nhau; Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển từ nước này
sang nước khác; Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là ngoại tệ đối với một
bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng.
Luật Thương mại năm 1997 quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa
một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài”
(Điều 80). Theo quy định này, việc xác định “tính chất quốc tế” của hợp đồng
mua bán hàng hóa chỉ dựa vào yếu tố quốc tịch của các bên tham gia ký kết.
Cách hiểu này khác xa so với các quy định trong các điều ước quốc tế và tập
quán thương mại quốc tế.
Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra tiêu chí để xác định “tính
chất quốc tế” của hợp đồng mua bán hàng hóa mà liệt kê những hoạt động
được coi là mua bán hàng hóa quốc tế. Cụ thể, Điều 27 của Luật quy định rõ
mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức: xuất khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa. Đồng
thời, Luật cũng xác định rõ thế nào là xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái
xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa tại các Điều 28, Điều 29 và
Điều 30, theo đó:
Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt
Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là
khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 28).

18
Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam
từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 28).
Tạm nhập, tái xuất hàng hoá là việc hàng hoá được đưa từ lãnh thổ
nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi
là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm
thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó

Về chủ thể của hợp đồng: chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế là các bên (người bán và người mua) có trụ sở thương mại đặt ở các
nước khác nhau. Ví dụ: Thương nhân A có trụ sở thương mại đặt tại Thái Lan
ký kết hợp đồng mua bán gạo với thương nhân B có trụ sở thương mại tại
Nhật Bản.
Về đối tượng của hợp đồng: hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế có thể được chuyển dịch qua biên giới giữa các quốc
gia. Ví dụ: Công ty C của Việt Nam ký hợp đồng với một Công ty D của Liên
bang Đức để xuất khẩu sản phẩm cá da trơn (catfish) sang thị trường EU.
Về địa điểm ký kết hợp đồng: Việc ký kết hợp đồng có thể diễn ra ở
nước ngoài đối với một hoặc cả hai bên. Ví dụ: Hợp đồng xuất khẩu sản phẩm
cá da trơn giữa Công ty C của Việt Nam và Công ty D của Đức nêu trên được
các bên ký kết tại một hội chợ hàng thủy sản tổ chức tại Thái Lan - là nước
ngoài đối với cả hai bên hợp đồng.

20
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc điểm về
địa điểm ký kết hợp đồng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã không
còn trở nên phổ biến, bởi lẽ tùy thuộc vào tính chất của mối quan hệ mà các
bên có thể tiến hành việc đàm phán, ký kết hợp đồng thông qua các công cụ
hỗ trợ như thư điện tử (email), fax, hoặc có trường hợp các bên không cần
ký kết hợp đồng mà chỉ cần thể hiện yêu cầu và sự chấp nhận theo thói quen
trong hoạt động thương mại. Trong những trường hợp như vậy, địa điểm ký
kết hợp đồng không có ý nghĩa đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Về đồng tiền thanh toán: Tiền tệ dùng để thanh toán theo hợp đồng có
thể là ngoại tệ đối với các bên. Ví dụ: Hợp đồng được giao kết giữa người bán
Việt Nam và người mua Trung Quốc, hai bên thoả thuận sử dụng đồng Đôla
Mỹ (USD) làm đồng tiền thanh toán. Lúc này, đồng Đôla Mỹ là ngoại tệ đối
với cả người bán Việt Nam và người mua Trung Quốc.
Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay,

Hoa Kỳ là 1.051 triệu USD [50, tr. 92]. Về cán cân thương mại giữa hai nước,
đặc biệt là giá trị thặng dư thương mại hai chiều của Việt Nam với Hoa Kỳ đã
tăng nhanh chóng. Theo số liệu của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ
(USITC), giá trị thặng dư thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ đã tăng từ
khoảng 600 triệu USD lên khoảng 7,5 tỷ USD từ năm 2001 đến 2006; theo số
liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, giá trị thặng dư thương mại tăng từ
khoảng 650 triệu USD lên khoảng 6,8 tỷ USD trong cùng thời kỳ [50, tr. 71].
Trong hoạt động thương mại quốc tế, các hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế chiếm giá trị, tỷ trọng khá lớn. Thực tế, hợp đồng mua bán hàng hóa
là phương thức bảo đảm an toàn cho giao dịch thương mại, là cam kết, giao

Trích đoạn Các nguồn luật khác Luật áp dụng cho năng lực chủ thể tham gia hợp đồng Luật áp dụng cho hình thức của hợp đồng Luật áp dụng cho nội dung hợp đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status