BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI THỊ THU HUYỂN
VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ HẰNG
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Đào Thị
Hằng – người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Luật
Lao động - Khoa Pháp luật Kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội đã ân cần
dạy dỗ và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại
trường.
Học viên thực hiện
NLĐ
Người lao động
BHYT
Bảo hiểm y tế
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, phương pháp 3
nghiên cứu của đề tài
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
14
1.2.2. Quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
19
Kết luận chương 1
25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT 26
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
2.1. Quy định các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội và thực tiễn 26
thực hiện
2.1.1. Các hành vi vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội và thực tiễn 26
thực hiện
2.1.2. Các hành vi vi phạm quy định về hưởng bảo hiểm xã hội và thực tiễn 35
thực hiện
2.1.3. Hành vi vi phạm quy định về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 41
và thực tiễn thực hiện
2.2. Quy định về hình thức xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm 45
xã hội và thực tiễn thực hiện
2.3. Quy định về thẩm quyền và thủ tục xử lý đối với hành vi vi phạm 53
pháp luật về bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện
2.3.1. Về thẩm quyền xử phạt
53
3.2.4. Kiến nghị về tổ chức thực hiện
68
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về vi 69
phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
3.3.1. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
69
3.3.2. Nâng cao vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền của 70
người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
3.3.3. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức của NLĐ
72
3.4. Một số giải pháp khác
72
Kết luận chương 3
74
KẾT LUẬN
75
1
Theo dõi tình hình vi phạm pháp luật về BHXH trong thời gian qua cho
thấy, tính chất vi phạm ngày càng phổ biến, mức độ vi phạm ngày càng cao
không chỉ gây ảnh hưởng lớn tới NLĐ, người thụ hưởng, tới việc tăng trưởng
và bảo toàn quỹ BHXH mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, kế
hoạch Nhà nước giao cho ngành BHXH. Mặc dù đã có sự vào cuộc của các cơ
quan ban ngành, mặc dù nhận được sự quan tâm rất lớn của các “phương tiện
thông tin đại chúng” song tình hình vi phạm pháp luật về BHXH lại chưa bao
giờ “hạ nhiệt”; ngược lại nó lại trở lên “nóng bỏng” hơn bao giờ hết. Thực tế
cũng chứng minh được rằng, các vấn đề liên quan đến “vi phạm pháp luật về
BHXH” luôn tốn nhiều “giấy mực” nhất của các cơ quan truyền thông, thu
hút được sự chú ý đông đảo của xã hội, đặc biệt là lực lượng lao động.
Với mong muốn đi sâu tìm hiểu vi phạm trong lĩnh vực BHXH và các
hành vi vi phạm trên thực tế từ đó đề ra một số giải pháp khắc phục nhằm bảo
vệ quan hệ BHXH và góp phần ổn định, phát triển nền kinh tế xã hội; tác giả
luận văn đã chọn đề tài “Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội theo pháp
luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về BHXH không phải là vấn đề mới mẻ vì đây là một
chế độ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển toàn diện của an sinh xã hội, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc gia. Nhưng các đề tài, bài viết đi sâu
nghiên cứu vi phạm pháp luật về BHXH theo pháp luật lại không nhiều. Với
những phạm vi, mức độ khác nhau đã có một số công trình nghiên cứu, bài
viết đề cập tới vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, điển hình như:
- Bài viết “Một số ý kiến trao đổi về hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã
hội Việt Nam” của tác giả Lê Quyết Thắng, đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội
- Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về BHXH ở Việt Nam.
- Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện quy định về vi phạm trong lĩnh vực
BHXH và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực
tế.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu: các quy định pháp luật về những hành vi vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH của người lao động, người sử dụng lao
động và tổ chức bảo hiểm xã hội.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở các văn bản pháp luật về BHXH, kết hợp với việc nghiên
cứu các công trình đã được công bố, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành,
tác giả nhận thấy các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH được quy định một
phần trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Nghị định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BHXH. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả
tập trung nghiên cứu các dạng hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, nguyên
nhân cũng như các biện pháp khắc phục. Các số liệu liên quan sử dụng trong
luận văn được tổng hợp trên cả nước giai đoạn 2010 – 6/2016, đặc biệt chú
trọng đến thực tiễn vi phạm ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa….
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích các vấn
đề liên quan đến vi phạm pháp luật về BHXH.
- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu để đánh giá thực trạng vi
phạm pháp luật về BHXH.
Khái quát chung về vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
Trong đời sống xã hội tồn tại nhiều chuẩn mực đan xen, tác động lẫn
nhau (chuẩn mực chính trị, chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực chân thiện
mĩ…). Theo đó, bất kỳ hành vi nào của con người làm sai lệch chuẩn mực
cũng đều là hành vi vi phạm. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, các yêu
cầu của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật (công dân, cán bộ, công
chức, cơ quan tổ chức nhà nước…) tự giác nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn xảy ra nhiều vi
phạm pháp luật. Những hành vi vi phạm đó không chỉ xâm phạm trực tiếp tới
các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến tính
nghiêm minh của pháp luật. Theo quan niệm chung, vi phạm pháp luật được
hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp
lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được
pháp luật xác lập và bảo vệ. Vi phạm pháp luật mang trong mình những đặc
trưng riêng biệt vốn có như:
- Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Tức là những xử sự thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định.
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, vi phạm những quy định
trong các quy phạm pháp luật.
- Vi phạm pháp luật là hành vi gây thiệt hại cho xã hội; những thiệt hại
này được coi là thiệt hại nói chung chứ không phải là những thiệt hại riêng đối
với những vật cụ thể.
- Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi, tức là khi thực hiện hành vi trái
pháp luật, chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi
đó, đồng thời điểu khiển được hành vi của mình. Như vậy, chỉ có những hành
6
7
lại, không phải mọi hành vi trái pháp luật đều bị coi là vi phạm pháp luật; chỉ
có những hành vi nào có lỗi mới có thể bị coi là vi phạm pháp luật.
Thứ ba, năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể. Vi phạm pháp luật
phải là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp
lý thực hiện. Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng phải chịu trách nhiệm
pháp lý của chủ thể đối với hành vi của mình. Năng lực trách nhiệm pháp lý
của các chủ thể được quy định cụ thể trong pháp luật và được xác định bởi hai
yếu tố là độ tuổi và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mỗi chủ thể ở
thời điểm hành vi được thực hiện. Đối với những người do mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng tự lựa chọn, điều khiển hành vi của mình ở thời điểm thực
hiện hành vi đó thì pháp luật cũng quy định họ không có năng lực trách nhiệm
pháp lý, do vậy họ không phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp đó.
Từ những dấu hiệu kể trên, vi phạm pháp luật được hiểu như sau: vi
phạm pháp luật là hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật
bảo vệ do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện
trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình.
Từ sự phân tích như trên về vi phạm pháp luật, có thể đưa ra một cách
hiểu chung nhất về vi phạm pháp luật về BHXH như sau: vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực BHXH là các hành vi xâm hại đến các quan hệ BHXH được
pháp luật bảo vệ, do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí
thực hiện trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của
mình.
Một hành vi được coi là hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH được
nhận diện, đánh giá và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý là nhờ có cấu
thành cơ bản xác định. Nó bao gồm các yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ
quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật về BHXH. Nếu thiếu một
vi là cái có trước, giữ vai trò nguyên nhân, hậu quả là cái có sau và là tính tất
yếu của hành vi. Nếu giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã hội
không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải do hành
vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra mà có thể do những nguyên nhân khác.
Đối với vi phạm pháp luật về BHXH, dấu hiệu mặt khách quan có tính
chất phức tạp riêng bởi vì BHXH liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
và đặc biệt liên quan đến pháp luật về lao động mà cụ thể là hợp đồng lao
9
động làm căn cứ đóng BHXH đối với NLĐ hay các cơ sở khám chữa bệnh,
Hội đồng giám định y khoa, các xác nhận của chính quyền địa phương, của
NSDLĐ... để NLĐ được hưởng các chế độ BHXH. Bởi vậy khi xét hành vi
nào được coi là hành vi vi phạm pháp luật về BHXH thì cần phải xem xét tới
tất cả các khía cạnh của hành vi đó.
Về mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về BHXH
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH thường là
những biển hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm nên nó khá trừu tượng
và khó xác định.
Cũng như các dạng hành vi vi phạm pháp luật khác, mặt chủ quan của
hành vi vi phạm pháp luật về BHXH cũng có các biểu hiện là lỗi, động cơ và
mục đích vi phạm.
Thứ nhất, về lỗi. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi vi
phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Hành vi vi phạm pháp luật
về BHXH phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Hay nói
cách khác, người thực hiện hành vi này phải là người có khả năng nhận thức
và làm chủ hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không
nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận
thức được hành vi đó là gây hại cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành
hành vi của bản thân thì không được coi là chủ thể của vi phạm pháp luật về
BHXH. Thông thường khi tham gia quan hệ pháp luật về BHXH thì các bên
trong quan hệ BHXH thường là những người có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi, hay nói cách khác, họ là những người có đầy đủ năng lực trách
nhiệm pháp lý, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ; bởi vậy, nếu có hành vi
vi phạm pháp luật về BHXH xảy ra thì việc xác định đâu là chủ thể vi phạm sẽ
khá dễ dàng. Tuy nhiên, đối với trường hợp “Người lao động chưa thành niên
từ đủ 13 tuổi trở lên (Điều 163 – 164 Bộ luật Lao động 2012) tham gia hợp
đồng lao động và trở thành một bên của quan hệ lao động và nếu có tham gia
bảo hiểm xã hội thì đương nhiên, họ sẽ là bên tham gia và bên thụ hưởng
BHXH”. Nếu có tranh chấp xảy ra thì việc xác định họ có phải là chủ thể của
vi phạm pháp luật về BHXH hay không thì lại không hề đơn giản khi họ được
xác định là những người có năng lực hành vi chưa đầy đủ.
11
Thứ hai, với nhóm chủ thể là tổ chức. Nhóm chủ thể là tổ chức có thể
là: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài;
doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá
nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; cơ quan, tổ
chức có liên quan tới BHXH. Trong các chủ thể là tổ chức, Nhà nước được
coi là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật vì nó là tổ chức quyền lực chính
trị của toàn thể nhân dân lao động, mang chủ quyền quốc gia và đại diện cho
xã hội. Nhà nước chỉ tham gia những quan hệ pháp luật cơ bản nhất và quan
trọng nhất liên quan tới lợi ích của cả quốc gia, như quan hệ sở hữu đất đai và
các tài nguyên thiên nhiên khác, quan hệ ngoại thương.
Khác với năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân là chủ thể
- Thứ hai, ảnh hưởng tới an sinh xã hội và trật tự an toàn xã hội: Hành vi
vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH của NSDLĐ có thể là một trong những nguyên
nhân dẫn đến các cuộc đình công kéo dài, gây bất ổn xã hội, ảnh hưởng trực
tiếp đến nền kinh tế, chính trị của quốc gia. Hành vi vi phạm này đi ngược lại
với mục đích an sinh xã hội mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang theo
đuổi. Do đó, không thể có một xã hội dân chủ, công bằng nếu trong xã hội đó
vẫn còn tồn tại những hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Thứ ba, làm thất thoát quỹ BHXH, ảnh hưởng đến an toàn, cân đối quỹ
BHXH trong ngắn hạn và dài hạn: Quỹ BHXH hình thành trên cơ sở sự đóng
góp của NSDLĐ, NLĐ và được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước; đảm bảo
chi trả chế độ BHXH cho người tham gia trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro. Hành
vi gian lận, trốn đóng, đóng không đủ hay đúng mức, trục lợi quỹ BHXH kéo
dài ảnh hưởng đến nguồn thu của quỹ BHXH, không đảm bảo khả năng chi trả
của quỹ, gây mất cân đối quỹ từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của
NLĐ.
- Thứ tư, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật và mục tiêu của
các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước: Mục tiêu mở rộng đối
tượng tham gia BHXH theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày
22/11/2012 của Bộ Chính trị (phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực
lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN;
13
trên 80% dân số tham gia BHYT)1 sẽ khó có thể đạt được nếu tình hình vi
phạm pháp luật về BHXH ngày càng gia tăng trên thực tế.
1.2.
Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với vi phạm pháp luật về
từ các nguồn thu hợp pháp khác. Theo quy định của Luật BHXH thì việc đóng
vào quỹ BHXH là nghĩa vụ của NSDLĐ và NLĐ. Mà đã là nghĩa vụ thì buộc
các chủ thể phải thực hiện, nếu không thực hiện thì sẽ bị coi là vi phạm pháp
luật.
Pháp luật về BHXH của Trung Quốc quy định rõ: Đơn vị sử dụng lao
động phải làm thủ tục tham gia bảo hiểm tai nạn lao động cho công nhân viên
của mình và nộp phí bảo hiểm hàng tháng cho cơ quan BHXH thành phố
(BHXH ở đặc khu kinh tế Thẩm Quyến – Trung Quốc – Mục III, phần 2 , trách
nhiệm đóng góp).2 Như vậy, nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội tai nạn lao
động là một quy định bắt buộc với NSDLĐ ở Trung Quốc. NSDLĐ buộc phải
tham gia bảo hiểm cho NLĐ, nếu không họ sẽ phải chịu các chế tài theo quy
định của pháp luật.
Hai là, chậm đóng tiền BHXH, bảo hiểm thất nghiệp. Việc đóng BHXH
bắt buộc sẽ được thực hiện theo những phương thức đóng nhất định, đó có thể
là theo tháng, theo quý hoặc theo năm. Việc sử dụng phương thức thanh toán
nào được thực hiện trên cơ sở NSDLĐ đăng kí với tổ chức BHXH. Thông
thường, việc đóng BHXH sẽ do NSDLĐ thực hiện thay cho NLĐ bằng cách
trích từ tiền lương, tiền công tháng của NLĐ theo mức đóng quy định tại Luật
BHXH để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH.
Việc chậm đóng tiền BHXH được hiểu là những chủ thể có nghĩa vụ
đóng BHXH nhưng lại không đóng trong khoảng thời gian mà pháp luật quy
định hoặc khoảng thời gian mà NSDLĐ đã đăng ký với cơ quan bảo hiểm có
thẩm quyền.
Ba là, đóng không đúng mức quy định. Mức đóng vào quỹ BHXH được
quy định dựa trên cơ sở tiền lương, tiền công của NLĐ. Hàng tháng, NSDLĐ
và NLĐ đều phải đóng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương, tiền
công tháng vào quỹ BHXH. Mức đóng đó là mức bắt buộc chung cho tất cả
NLĐ và NSDLĐ. NLĐ và NSDLĐ cần phải đóng đủ mức mà pháp luật quy
động. Theo quy định của pháp luật thì NSDLĐ phải đóng BHXH cho diện
những người lao động bắt buộc phải tham gia BHXH. Tuy nhiên, trên thực tế,
vì một số lý do nào đó nhằm trục lợi quỹ BHXH, NSDLĐ chỉ tham gia BHXH
cho một phần NLĐ làm việc trong đơn vị; còn đối với những NLĐ còn lại thì
chủ sử dụng lao động lại không tham gia BHXH cho họ mặc dù những NLĐ
này thuộc diện bắt buộc phải tham gia BHXH.
3
Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.329.
4
Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 73
16
Ví dụ như ở Canada, đối tượng đóng bảo hiểm việc làm là NLĐ được
trả lương, không giới hạn tuổi; từ đồng đô la đầu tiên kiếm được và giờ đầu
tiên làm việc đều phải đóng BHXH việc làm5. Có thể thấy, nhóm đối tượng
đóng bảo hiểm việc làm ở Canada khá rộng mở, chỉ cần là người lao động làm
việc trong khoảng một giờ đều được tham gia BHXH mà không bị giới hạn
bởi hợp đồng lao động hay thời hạn lao động. Tất cả NSDLĐ ở Canada đều
phải tham gia BHXH cho NLĐ của mình mà không phân biệt tuổi tác, thời
hạn lao động hay loại hợp đồng lao động. Đây được coi như là quy định bắt
buộc của pháp luật BHXH Canada buộc các chủ thể phải tuân thủ.
Có thể thấy rằng, trong nền kinh tế hàng hóa, trách nhiệm tham gia đóng
góp vào quỹ BHXH được phân định cho cả NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở quan
hệ lao động. Điều này không chỉ là sự phân chia rủi ro mà còn là để đảm bảo
- Hành vi giả mạo hồ sơ hưởng BHXH;
- Cấp giấy chứng nhận sai quy định để làm cơ sở hưởng BHXH;
- Không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị cơ quan BHXH giải quyết chế
độ hưu trí, giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo đúng
quy định của pháp luật.
Bốn là, các hành vi vi phạm về chi trả các chế độ BHXH: không trả chế
độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai
sản trong thời hạn nhất định sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ của NLĐ; không
trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong một thời hạn nhất định sau
khi nhận được quyết định chi trả của cơ quan BHXH; không giới thiệu NLĐ
đi giám định suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa để
giải quyết chế độ BHXH cho NLĐ…
Thứ ba, các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng quỹ bảo
hiểm xã hội
Nhóm hành vi này bao gồm các dạng hành vi sau: sử dụng tiền đóng và
quỹ BHXH trái quy định của pháp luật; báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch
thông tin, số liệu tiền đóng vào quỹ BHXH; truy cập, khai thác trái pháp luật
cơ sở dữ liệu về quỹ BHXH; sử dụng tiền quỹ BHXH sai mục đích… Việc vi
phạm những quy định này không những làm ảnh hưởng, gây thất thoát quỹ
BHXH mà còn ảnh hưởng đến NLĐ, làm giảm niềm tin của NLĐ vào việc
thực thi chính sách BHXH của Nhà nước.
18
Ở Trung Quốc, nhóm các hành vi sau được coi là hành vi vi phạm về
quản lý và sử dụng quỹ BHXH (BHXH của tỉnh Quảng Đông, mục II, phần 6
– Xử lý vi phạm):
- Đơn vị báo cáo sai, hoặc che đậy báo cáo về số công nhân viên, tổng
mức lương, trốn hoặc lập nộp phí bảo hiểm;