MỞ ĐẦU
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì đương sự là chủ thể không thể thiếu. Trong
tiếng việt “đương sự” được hiểu “là người, là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa ra
giải quyết”. Như vậy theo nghĩa chung nhất thì đương sự chỉ là người, là đối tượng trong một
vụ việc nào đó được đưa ra giải quyết trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, các vấn đề về
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đương sự chưa được chính bản thân của mọi người nắm
bắt rõ. Vì vậy, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm em xin được chọn đề : “Đương sự và
việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự”
NỘI DUNG
I.
Pháp luật về đương sự trong vụ án dân sự
1. Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự
Căn cứ theo khoản 1, Điều 68 BLTTDS 2015 có quy định: “Đương sự trong vụ án
dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan”.
Như vậy các đương sự trong vụ án dân sự bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự.
Sự khác biệt giữa quy định đương sự của BLTTDS năm 2011 với quy định của
BLTTDS năm 2015 phân định rõ đương sự vụ án dân sự và đương sự trong vụ án dân sự.
Trong đó, đương sự là cơ quan bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân. Cơ
quan tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật (thủ trưởng cơ quan)
hoặc đại diện theo ủy quyền. Đương sự là tổ chức bao gồm: tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp. Tổ chức
tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc dại diện theo ủy quyền.
Tổ chức là pháp nhân hoặc không phải là pháp nhân đều có thể tham gia tố tụng dân sự với tư
cách là đương sự. Đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự
được xác định theo pháp luật của nước cơ quan, tổ chức đó được thành lập, pháp luật tố tụng
dân sự được xác định trên cơ sở điều ước Quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế
hoạt động của tổ chức Quốc tế hoặc điều ước Quốc tế đã được ký kết với cơ quan có thẩm
Năng lực hành vi tố tụng dân sự
Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự được định nghĩa tịa khoản 2 điều 69
BLTTDS 2015:
“Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân
sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.”
Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự được quy định cụ thể như sau:
Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân
sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của
Tòa án.
Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không
có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương
sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện
hợp pháp của họ thực hiện.
Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền,
nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những
người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ, việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
2
Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao
động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình
tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó.
1. Cơ sở của việc xác định tư cách đương sự
Thứ nhất: xác định tư cách đương sự trên cơ sở xác định chủ thể có quyền khởi kiện,
bị khởi kiện hoặc có quyền yêu cầu, có liên quan đến giải quyết yêu cầu:
3
Khi chủ thể khởi kiện hoặc yêu cầu thì tòa án cần xác định một cách chính xác các vấn
đề sau đây:
-
Phải xác định chỉ thể có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu hay không?
-
Họ khởi kiện hoặc yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người
khác?
-
Họ có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu đối với ai?
Việc xác định ai có quyền khởi kiện, ai có quyền yêu cầu cần phải căn cứ vào bản chất
của mỗi quan hệ pháp luật đang được xem xét, gái quyết và đối chiếu với các quy phạm pháp
luật nội dung tương ứng.
Thứ hai: xác định tư cách của đương sự căn cứ vào sự liên quan về quyền, nghĩa vụ và
vào thời điểm tham gia tố tụng đương sự đó.
Khi xem xét sự liên quan về quyền, nghĩa vụ mà xác định việc giải quyết mối quan hệ
giữa nguyên đơn và bị đơn có liên quan đến quyền và lợi ích của chủ thể thứ ba thì tòa án cần
Thứ hai: tự mình khởi kiện hoặc được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện.
Đây là hai điều kiện cần và đủ, hay nói cách khác, thiếu một trong hai điều kiện, một
người không thể trở thành nguyên đơn.
Trên thực tế, đa số mọi người đồng nhất người khởi kiện chính là nguyên đơn, đây là
quan điểm không chính xác. Nguyên đơn có thể là người tự mình đứng ra khởi kiện để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc được cơ quan, tổ chức cá nhân khác khởi kiện thay.
Khi này, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện thay đó sẽ tham gia vụ án với tư cách là người
đại diện của nguyên đơn ( theo khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015).
Ví dụ:
1. A cho B vay 500 triệu Việt Nam đồng, có giấy vay nợ với chữ kí của cả hai bên. Đến
hạn trả, B không thực hiện nghĩa vụ trả tiền, A tự mình khởi kiện B ra Tòa án yêu cầu
B trả lại số tiền đã vay của A.
Trong trường hợp này, A thỏa mãn cả hai điều kiện: là người có quyền lợi bị xâm
phạm (B vay tiền nhưng đến hạn không trả) đồng thời A là người khởi kiện B ra Tòa nên A là
nguyên đơn.
2. X đi xe sai luật gây thiệt hại cho cháu Y (7 tuổi), Z là mẹ của cháu Y đã khởi kiện X
yêu cầu Y bồi thường thiệt hại cho cháu Y.
Ở đây, người có quyền lợi trực tiếp bị xâm phạm là Y, Z là người khởi kiện để bảo vệ
quyền lợi hợp pháp cho Y. Y tuy không phải là người khởi kiện nhưng là người có quyền lợi
giả thiết bị xâm phạm, Y được Z khởi kiện thay nên Y là nguyên đơn. Theo đó, Z là người đại
diện theo pháp luật của Y.
3. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc người cha phải thực
hiện cấp dưỡng cho con chưa thành niên.
Tương tự như trên, người con chưa thành niên đó là nguyên đơn, còn ủy ban bảo vệ
và chăm sóc trẻ em sẽ có đại diện tham gia vụ án với tư cách là người đại diện của nguyên
đơn.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều có thể khởi kiện thay, cần căn cứ vào các
quy định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự, thương mại... và dựa trên cơ sở
quan hệ pháp luật có tranh chấp, pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ đó. Ví dụ trong quan
hệ hôn nhân, theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chỉ vợ, chồng
nhưng khi tham gia vụ án dân sự thì chủ doanh nghiệp này là nguyên đơn (theo khoản 3 Điều
185 Luật Doanh nghiệp 2014) vì doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân nên
không thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Ví dụ: A là chủ doanh nghiệp tư nhân X kí hợp đồng vận chuyển hàng hóa với B. Khi
B vi phạm hợp đồng, A khởi kiện B ra Tòa yêu cầu bồi thường thiệt hại do đã vi phạm nghĩa
vụ của hợp đồng.
Khi này, A tham gia vụ án dân sự này với tư cách là nguyên đơn.
ii.
Xác định tư cách của bị đơn
Khoản 3 Điều 86 BLTTDS năm 2015 quy định như sau:
6
“Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.”
Việc xác định tư cách của bị đơn luôn được xác định cùng với tư cách nguyên đơn,
theo đó, chủ thể được coi là bị đơn nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:
Thứ nhất: giả thiết đã xâm phạm hoặc tranh chấp với quyền lợi của nguyên đơn hoặc
xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng.
Thứ hai: Bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện
thay cho nguyên đơn.
Như vậy, việc xác định tư cách bị đơn được thực hiện sau khi xác định tư cách nguyên
đơn và dựa trên cơ sở của việc xác định tư cách nguyên đơn. Việc tham gia tố tụng của bị đơn
thường mang tính thụ động do bị bắt buộc tham gia vào tố tụng.
Cũng như cách xác định tư cách nguyên đơn, chủ thể chỉ được coi là bị đơn nếu thỏa
mãn cả hai điều kiện nêu trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì đều không được coi là bị
đơn.
họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp
việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà
không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.” Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham vào vụ án dân sự bên cạnh
nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khi giải quyết một vụ án dân sự, giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn
không tránh khỏi việc có sự ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của người thứ ba. Vì vậy, để giải
quyết vụ án dân sự một cách triệt để, toàn diện đòi hỏi phải có sự tham gia của bên thứ ba này
với vai trò là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án dân sự tuy không phải là người khởi kiện, người bị kiện nhưng họ tham gia để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên thứ ba chỉ được xác định là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan khi vụ án dân sự được giải quyết thì họ được hưởng các quyền hoặc phải
thực hiện một số nghĩa vụ. Họ có thể chủ động tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của mình
bằng cách tự mình đề nghị hoặc được các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận,
hoặc Tòa án phải chủ động đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm hai loại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập:
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng vào vụ án dân sự đã xảy ra với nguyên đơn và bị đơn để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Họ cho rằng đối tượng tranh chấp của nguyên
đơn và bị đơn là thuộc về họ chứ không phải thuộc về nguyên đơn và bị đơn. Vì vậy những
yêu cầu mà họ đưa ra có thể gây bất lợi cho nguyên đơn hoặc bị đơn. Tuy nhiên, trên thực tế
những yêu cầu này hoàn toàn độc lập với yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn. Do những yêu
cầu này độc lập, không phụ thuộc vào nguyên đơn và bị đơn nên người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đủ điều kiện để khởi kiện vụ án dân sự để Tòa án giải
Việc xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự có ý nghĩa quan
trọng trong việc giải quyết đúng đắn vụ án, bởi mỗi đương sự có một tư cách tố tụng riêng
biệt và tương ứng với đó là các quyền, nghĩa vụ mà BLTTDS 2015 đã quy định cho họ.
Trường hợp xác định sai tư cách tố tụng của đương sự hoặc đưa thiếu đương sự liên
quan vào tham gia tố tụng trong vụ án sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của
họ, làm họ không có điều kiện thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình. Qua đó làm sai
lệch bản chất của vụ án và đây được coi là một vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
III.
Một số tồn tại thiếu sót của pháp luật trong việc quy định về đương sự và
hướng hoàn thiện
1. Một số tồn tại, thiếu sót của pháp luật trong việc quy định về đương sự
Những quy định về đương sự, đặc biệt là cách xác định tư cách của đương sự trong vụ
án dân sự của BLTTDS 2015 đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện
các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình trên thực tế, đồng thời cũng là cơ sở pháp lý giúp Tòa
9
án giải quyết các vụ án dân sự một cách kịp thời, khách quan. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng
các quy định về đương sự, xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự còn nhiều bất cập,
hạn chế. Có thể kể đến như sau:
Thứ nhất: về khái niệm đương sự, thành phần đương sự.
Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015 mới chỉ dừng lại ở việc quy định về thành phần đương
sự mà không có quy định về khái niệm đương sự trong vụ án dân sự. Do không có quy định
cụ thể về vấn đề này nên trong thực tiễn áp dụng đã xảy ra không ít trường hợp Tòa án đã xác
định sai đương sự, dẫn đến việc triệu tập thiếu hoặc triệu tập tất cả những người không phải là
đương sự tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, làm cho quá trình giải quyết vụ án không
đúng đắn, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được tôn trọng và bảo vệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự gồm hai loại: người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
tham gia tố tụng đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn, hay còn gọi là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập. Tuy nhiên, tại Khoản 4 Điều 68 BLTTDS
2015 chỉ quy định chung chung về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không có quy
định cụ thể về hai nhóm trên.
2. Phương hướng hoàn thiện.
Thứ nhất: hoàn thiện quy định của pháp luật về đương sự, xác định tư cách đương sự.
Từ những hạn chế, thiếu sót kể trên, nhóm em xin đưa ra một số giải pháp để hoàn
thiện quy định của pháp luật về đương sự, cụ thể:
Bổ sung khái niệm về đương sự như sau: “Đương sự trong vụ việc dân sự là
người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công
cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan
đến vụ việc dân sự.” 2
Bổ sung khái niệm về đồng nguyên đơn, đồng bị đơn và quyền, nghĩa vụ của
họ.
-
Cần có tiêu chí rõ ràng để phân biệt người có người cơ quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.
bởi trên thực tế, chính sự quy định không rõ ràng này mà trong thực tiễn xét xử, hầu hết Tòa
án chỉ xác định tư cách tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan một cách chung
chung, không có sự cụ thể hóa là người như thế nào, có yêu cầu độc lập hay không. Đây cũng
là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc Tòa án thường xác đinh sai hoặc thiếu tư cách
đương sự.
Thứ hai, về phía Tòa án
Tòa án cần phải bổ sung, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, đảm bảo phẩm chất
đạo đức, bản lĩnh chính trị cũng như trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Thẩm phán cần
phải phân biệt rõ tư cách đương sự của từng cá nhân, tổ chức khi tham gia tố tụng để giải
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2009.
2. Học viện tư pháp, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
2007.
3. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
4. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
5. Bình luận khoa học bộ luật dân sự 2015, TS. Bùi Thị Hiền (Chủ biên). NXB Lao
Động.
6. Bình luận khoa học – Một số vấn đề của pháp luật tố tùnh dân sự và thực tiễn áp dụng,
Ts. Lê Thu hà, Nxb tư pháp, Hà Nội, 2006.
7. Lê Nguyễn Hồng Phúc, Quyền khởi kiện với vấn đề xác định tư cách đương sự trong
TTDS, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2011.
13