SKKN Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 5 - Pdf 48

“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Đổi mới phương pháp dạy học và cải tiến nội dung sách giáo khoa ở tiểu
học là một bước tiến quan trọng của giáo dục Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu
kiến thức cũng như sự phát triển của đất nước trong xã hội ngày nay. Những
môn học ở tiểu học đều cung cấp cho học sinh kiến thức và kỹ năng nhất định,
tạo ra một hệ thống giáo dục toàn diện giúp cho học sinh nắm vững những tri
thức cần thiết để vận dụng vào cuộc sống thực tiễn gần gũi với cuộc sống hằng
ngày cũng như tích luỹ vốn kiến thức cho tương lai.
Tương tự như những môn học khác của giáo dục tiểu học, phần Lịch sử và
Địa lí có một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh về những
mốc son về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời
gian từ buổi đầu dựng nước tới nay, hay những sự vật, hiện tượng và các mối
quan hệ địa lí đơn giản ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới. Thông qua
những kiến thức đó môn học Lịch sử và Địa lí rèn luyện cho học sinh các kỹ
năng cơ bản của việc quan sát và nhận biết các sự vật hiện tượng, các sự kiện
lịch sử để trình bày những hiểu biết của bản thân bằng lời nói và bài viết, biết
vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn của cuộc sống. Qua đó bồi dưỡng và
phát triển cho các em thói quen ham học hỏi, tìm hiểu và xây dựng tình yêu
thiên nhiên, yêu tổ quốc.
Một trong những mục tiêu trọng điểm của việc vận dụng kiến thức vào thực
tiễn cuộc sống đòi hỏi nội dung chương trình môn Lịch sử và Địa lí phải cung cấp
cho các em những thông tin, sự kiện hoặc những giá trị về lịch sử và địa lí của địa
phương, nơi học sinh đang sinh sống. Nhưng cho đến nay nội dung chương trình
môn học Lịch sử, Địa lí địa phương ở Tiểu học còn rất ít (ở lớp 5 có 2 tiết Lịch
sử, 2 tiết Địa lí nhưng không đủ cung cấp hết kiến thức địa phương tại nơi đang
sinh sống ở phường hay phạm vi trong quận, thanh phố cho cho học sinh).
Vậy chúng ta phải làm gì để cung cấp thêm cho học sinh những kiến thức
về lịch sử, địa lí địa phương như thế. Nếu xét về góc độ chương trình chính khoá

phương cho học sinh lớp 4; 5 phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy
học môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5 ở trường tôi, đồng thời giáo dục tinh thần yêu
nước và tự hào dân tộc cho học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy lồng ghép lịch sử - địa lí địa
phương trong môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5.
- Nghiên cứu thực trạng của việc dạy lồng ghép lịch sử - địa lí địa phương
trong môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5 ở trường tôi công tác.
- Đề xuất một số biện pháp có tính thực tiễn trong việc lồng ghép kiến
thức lịch sử địa lí địa phương vào bài dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5 tại
trường tôi.
6. Phạm vi nghiên cứu.
- Lĩnh vực khoa học: Dạy học tích hợp ở tiểu học.
- Địa bàn nghiên cứu: Trường tiểu học tôi đang công tác ở một quận thuộc
Thành phố Hà Nội.
2/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

- Đối tượng khảo sát, thực nghiệm: giáo viên và học sinh lớp 4; 5 trường
tiểu học tại địa phương tôi đang công tác.
- Thời gian nghiên cứu: tháng 9 năm 2015 đến tháng 4 năm 2017. (2 năm)
7. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp. Nghiên cứu lí luận từ sách và tài liệu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nội dung của đề tài.
- Phương pháp điều tra. Tôi tiến hành điều tra nội dung các bài dạy có liên
quan đến kiến thức lịch sử địa phương của môn Lịch sử và Địa lí ở lớp 4; 5.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Tiến hành tổng kết nội dung nghiên cứu của những đề tài liên quan. Từ đó

Về khả năng nhận thức: Tri giác của học sinh lớp 4; 5 còn mang tính đại
thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, khả năng kiểm soát, điều
khiển chú ý còn hạn chế. Học sinh chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ
học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc
có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, ... Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính
bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập.
Chính vì vậy việc nhận thức nhanh của học sinh còn hạn chế.
Về nhân cách: Nhân cách của các em còn mang tính chỉnh thể và hồn
nhiên, học tập học sinh luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ
của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các
em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa
được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển.
Chính vì vậy trong quá trình dạy học phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính
gợi mở và chờ đợi, phải hướng các em đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp
mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy.
4/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

1.1.3 Dạy học lồng ghép Lịch sử - Địa lí địa phương trong môn Lịch sử Địa lí ở Tiểu học.
1.1.3.1 Mục tiêu giảng dạy lồng ghép Lịch sử - Địa lí địa phương trong
môn Lịch sử - Địa lí ở lớp 4; 5.
Môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5 có mục tiêu cung cấp cho học sinh các sự
kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu. Các sự vật hiện tượng và các mối
quan hệ địa lí ở Việt Nam do đó tại địa phương, nơi các em đang sinh sống có
rất nhiều sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử các địa danh, danh lam thắng cảnh
quan trọng chưa được trình bày trong các tiết dạy trong sách giáo khoa. Bởi lẽ
đó mục tiêu của giải pháp là cung cấp thêm cho học sinh những kiến thức về lịch
sử địa phương thông qua việc lồng ghép vào trong một số bài dạy thuộc môn

1.1.3.3 Vai trò của việc dạy lồng ghép Lịch sử - Địa lí địa phương trong
phân môn Lịch sử - Địa lí cho học sinh tiểu học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng như chương trình SGK ở tiểu học
nói chung và môn Lịch sử và Địa lí nói riêng là một sự thay đổi lớn của ngành
giáo dục. Cũng như các môn học khác của tiểu học, môn Lịch sử và Địa lí góp
phần đắc lực thực hiện mục tiêu giáo dục ở bậc tiểu học theo đặc trưng môn học
của mình. Môn Lịch sử và Địa lí cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản,
thiết thực về các sự kiện, hiện tượng và các nhân vật lịch sử tiêu biểu. Các sự
vật, hiện tượng và cá mối quan hệ địa lí đơn giản ở Việt Nam và một số quốc gia
trên thế giới. Những bài học về địa lí, về lịch sử chính là những kiến thức quý
giá giúp cho học sinh bước đầu tìm kiếm, thu thập tư liệu lịch sử, nhận biết đúng
các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí. Qua đó tạo cho các em tình yêu
thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
về các di tích lịch sử văn hoá.
Để thực hiện được mục tiêu đó thì lịch sử và địa lí địa phương đóng góp
một phần không nhỏ trong việc bảo vệ và giữ gìn những nét lịch sử quan trọng ở
địa phương nơi học sinh đang sinh sống hoặc biết được một số tình hình địa lí ở
địa phương để có những giải pháp trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng làm sao
đưa được những nét lịch sử địa lí cơ bản của địa phương vào trong chương trình
môn Lịch sử và Địa lí ở Tiểu học lại là một vấn đề không đơn giản. Về thời gian
phân phối chương trình, môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5 chỉ có 2 tiết lịch sử và 2
tiết địa lí vào cuối năm, không có nhiều thời gian để giảng dạy đày đủ và kĩ
lưỡng. Vì thế chúng ta cần làm gì để vừa cung cấp nhiều yếu tố lịch sử và địa lí
địa phương cho học sinh vừa đảm bảo thời gian chương trình quy định. Đó cũng
chính nội dung trọng tâm cho việc nghiên cứu và phương pháp lồng ghép kiến
thức vào các tiết dạy Lịch sử và Địa lí ở lớp 4; 5.
Giảng dạy lịch sử - địa lí địa phương có vị trí quan trọng trong việc hình
thành và giáo dục tình cảm và lòng tự hào về quê hương cho học sinh. Song để
lịch sử địa phương có thể trở thành môn học được học sinh nhớ đến và yêu thích
nó không chỉ đòi hỏi phải tăng số tiết dạy trong chương trình dạy lịch sử dân tộc,

môn Lịch sử - Địa lí lớp 4; 5 ở trường chúng tôi.
1.2.2.1 Về phía giáo viên.
Nguồn tài liệu chủ yếu để giảng dạy lịch sử địa phương là cuốn sách "Lịch
sử truyền thống xã do NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội - 2000.” ; “Kỷ yếu: Giảng
dạy lịch sử địa phương quận - Năm học 2013-2014.” Và bên cạnh đó là tham
khảo thêm các cụ người cao tuổi trong làng.
Công tác soạn giảng hầu như mới chỉ mang tính tham khảo, sư tầm, chưa
chú trọng đến nội dung, nên chất lượng chưa cao. Giáo án còn sơ sài, với lí do
nguồn tài liệu tham khảo không đủ, thiếu định hướng, các tiết dạy còn qua loa.
Phương pháp giảng dạy tiết lịch sử địa phương mới chỉ dừng lại ở phương
pháp truyền thống: kể chuyện, đọc trong sách tư liệu, tự tìm hiểu tài liệu…
1.2.2.2 Về phía học sinh.
Do các em học sinh còn nhỏ, chưa nhận thức được việc học, lĩnh hội kiến
thức lịch sử còn thụ động. Phần lớn phụ thuộc và sự truyền thụ kiến thức của
giáo viên và hình thức tổ chức dạy học mà giáo viên thực hiện. Việc tự học, tự
tìm hiểu về kiến thức lịch sử còn rất nhiều hạn chế đặc biệt là kiến thức lịch sử,
địa lí địa phương.
Tuy nhiên với đặc thù là học sinh Tiểu học, nếu có sự khích lệ, động viên
của giáo viên hay những hình thức học tập phong phú thì học sinh rất say mê học
7/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

tập, hứng thú với bài giảng của giáo viên. Nhờ đó việc nắm vững kiến thức lịch
sử, địa lí địa phương là rất hiêu quả.
1.2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên.
1.2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan.
- Thời gian bố trí các tiết học đã được ấn định cụ thể theo chương trình, chỉ
có 2 tiết lịch sử, 2 tiết địa lí vào cuối năm (đối với lớp 5) mà nội dung cần hướng



“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

- Để thấy rõ được điều này, ngay vào đầu năm học lớp 4 năm 2015-2016,
tôi đã tiến hành khảo sát về mức độ hứng thú đối với một số môn học của 37 học
sinh lớp 4A1 trường tôi đang công tác và thu được kết quả như sau:
Bảng mức độ hứng thú đối với một số môn học.
Sự hứng thú
Môn học
Môn Toán
Môn Tiếng Việt
Môn Khoa học
Môn Lịch sử và Địa lí
Môn Mĩ thuật
Môn Thể dục
Môn Âm nhạc
Môn Kĩ thuật

Rất hứng thú

Hứng thú

Bình thường

Không
hứng thú

Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số
Tỷ lệ %

35,1%
24,3%
29,8%
32,3%
32,3%
32,3%

9
10
10
14
9
7
8
8

24,3%
27%
27%
37,9%
24,3%
19%
21,6%
21,6%

4
5
2
8
2

dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và Nhiệm vụ năm học của trường tôi công tác
nhằm nắm rõ mục tiêu từ đó vạch ra kế hoạch cụ thể cho quá trình dạy học của
mình. Tuy nhiên để thực hiện được đề tài này được hiệu quả, ngoài sách theo
quy định của ngành thì tôi tìm hiểu một số tài liệu khác nói về lịch sử địa
phương của làng và phường như: Lịch sử truyền thống xã, Kỉ yếu giảng dạy Địa
lí địa phương Quận.
Qua một thời gian sinh sống tại phường và công tác tại trường, tôi đã dành
thời gian để tìm hiểu về những nét lịch sử nơi đây qua kinh nghiệm, qua tài liệu
liên quan đến địa phương, qua việc lĩnh hội từ các cụ người cao tuổi, … Nhờ đó
mà biết rằng phường nơi tôi đang công tác là Phường nằm ở phía Đông Bắc
quận Hoàng Mai. Với diện tích đất tự nhiên là : 557,0444 ha, có 11 khu dân cư
với 34 Tổ dân phố; dân số trên địa bàn phường tính đến nay khoảng hơn 24.000
nhân khẩu. Trên địa bàn Phường có 03 đình, 03 chùa đều được xếp hạng Di tích
lịch sử văn hóa .
Phường đã và đang tích cực hướng dẫn nhân dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế
trong sản xuất nông nghiệp, mở rộng hệ thống sản xuất rau an toàn theo quy trình
VietGAT (VietGAP là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Vietnamese Good
Agricultural Practices có nghĩa là Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở
Việt Nam được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ban hành năm
2008), đảm bảo năng suất chất lượng cao cung cấp địa phương và thị trường Hà
Nội. Xây dựng Thương hiệu rau an toàn ngày càng phát triển.
->Ngôi làng nơi trường tôi sống trên địa bàn là một vùng đất cổ nằm trên
bãi bồi kề sát sông Hồng, án ngữ đường thuỷ phía nam kinh thành Thăng Long.
Làng tôi có nguồn gốc từ người thuộc huyện Gia Lâm Hà Nội đã di cư từ bên
kia sông sang để khai phá đất đai, lập nên làng xã mới. Xưa kia, làng còn có tên
gọi khác. Có thể nói làng có trường tôi là làng cổ có đình chùa là di tích lịch sử
đã được xếp hạng, bên cạnh đó còn có rất nhiều lễ hội như: Hội rước nước, vật
cầu,bắt vịt là những lễ hội đặc sắc của địa phương. Ngoài ra trồng rau sạch là
nghề truyền thống có từ lâu.
Vì vậy việc lồng ghép lịch sử và địa lí địa phương vào chương trình môn

* Phần Lịch sử:
- Bài 4: Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.
- Bài 9: Cách mạng mùa thu.
- Bài 10: Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập
- Bài 16: Hậu phương những năm sau chiến dịch Biên giới.
- Bài 24: Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không.”
* Phần Địa lí:
- Bài 3: Khí hậu.
- Bài 4: Sông ngòi.
- Bài 6: Đất và rừng.
- Bài 8: Dân số nước ta.
- Bài 9: Các dân tộc và sự phân bố dân cư.
- Bài 10: Nông nghiệp.
- Bài 14: Giao thông vận tải.
11/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

Nhờ việc xác định được cụ thể những bài có thể lồng ghép vào giảng dạy
nên tôi đã chủ động chọn được một số hình thức dạy học cho hợp lí để đưa
việc lồng ghép vào hoạt động nào cho phù hợp nhất, hiệu quả nhất.
2.2. Biện pháp 2: Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh.
2.2.1. Đối với GV:
Việc chuẩn bị kĩ nội dung bài sẽ giúp cho nội dung bài học được sâu sắc,
đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, người GV cần lưu ý nắm chắc tiến trình của một bài
học Lịch sử - Địa lí theo mô hình đổi mới phương pháp, đó là:
2.2.1.1 Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập; chuẩn bị đồ
dùng dạy học.
Đầu giờ học, GV cần có những định hướng cụ thể đối với nội dung bài


tranh ảnh tư liệu, … để bài học được diễn ra sôi nổi, hào hứng, và quan trọng
hơn là các em được chủ động lĩnh hội kiến thức.
- Nói chung, để thực hiện một tiết dạy tốt có sự lồng ghép kiến thức lịch sử,
địa lí địa phương thì việc chuẩn bị trước của giáo viên và học sinh là rất quan
trọng. Nhờ có sự chuẩn bị, tìm hiểu trước mà GV chủ động về kiến thức và cho
định hướng cho học sinh lĩnh hội một cách hợp lí. Còn học sinh cũng không bị
động trước câu hỏi của giáo viên khi hỏi về vấn đề liên quan đến địa phương
mình đang sing sống.
2.3. Biện pháp 3: Áp dụng một số phương pháp dạy học có hiệu quả vào
dạy học.
2.3.1. Phương pháp trực quan và quan sát.
Với phương pháp này tôi có thể áp dụng áp dụng đối với gần như tất cả các
bài có liên quan.
Ví dụ: Khi dạy bài “Bài 10: Chùa thời Lí - Lớp 4” (tr 32) phần Lịch sử.
- Ở hoạt động 3: Sau khi học sinh đã kể các ngôi chùa thời Lí, giáo viên có
thể mở rộng thêm bằng cách đưa ra tranh chùa Thúy Lĩnh, đình làng Thúy Lĩnh
cho học sinh nhìn và quan sát kĩ rồi hỏi: Đố các em biết hình ảnh trên cảnh gì?
Ở đâu?
- HS sẽ hào hứng trả lời, lôi cuốn các em tham gia vào tiết học, tìm hiểu
xem bức tranh trên là địa danh nào?
Ví dụ: “ Bài 9: Thành Phố Đà Lạt - Lớp 4”( tr 93) phần Địa lí.
Ở hoạt động 3: Hoa quả và rau xanh ở Đà Lạt. Hay bài “ Bài 10: Nông
nghiệp - Lớp 5.” ( tr 87) phần Địa lí. Ở hoạt dộng 1: Ngành trồng trọt.
- GV cho học sinh tìm hiểu xong hoa quả, rau xanh ở Đà Lạt hay ngành
trồng trọt ở nước ta thì liên hệ tại địa phương em có trồng những loại rau nào?
Thời gian nào có thể trồng rau đó? Có thể so sánh sự khác nhau về thời gian
trồng của một số loại rau đó ở địa phương với Đà Lạt. Sau đó giáo viên đưa ra
một số hình ảnh về hoạt động trồng, chăm sóc, thu hoạch rau của người dân ở
địa phương.

+ Địa phương em có sông gì? (sông Hồng)
+ Ở ven sông đó có đắp đê không? (có)
+ Địa phương em, người ta gọi tên con đê đó là gì? (đê Thanh Trì)
+ Đê này có tác dụng gì với người dân địa phương em? (hạn chế lũ lụt
xảy ra)
14/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

Ví dụ: “Bài 2: Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn - Lớp 4” ( tr 73) phần
Địa lí.
- Ở hoạt động 3: Sau khi học sinh tìm hiểu xong về trang phục, lễ hội
của người dân ở Hoàng Liên Sơn, giáo viên liên hệ với địa phương bằng hệ
thống các câu hỏi sau:
+ Kể tên một số lễ hội ở địa phương em mà em biết hay được xem?
(Lễ hội vật cầu, Rước nước, Bắt vịt.)
+ Lễ hội được diễn ra vào thời gian nào?
(Lễ hội Vật cầu: mồng 6 tết; Rước nước hay Lễ hội Rước cấp thủy Ba
Dân hoặc gọi tắt là Hội Ba Dân tổ chức từ ngày 14 - 16/2 âm lịch.)
+ Trong các lễ hội đó, lễ hội nào em được tham gia?
+ Không khí buổi lễ hội em tham gia như thế nào?
+ Trong lễ hội địa phương em và lễ hội của người dân Hoàng Liên Sơn có
điểm gì giống nhau và khác nhau?
+ Sau đó có thể cho học sinh xem đoạn video clip về lễ hội Vật cầu qua
một trận Vật cầu của người lớn hoặc trẻ em bằng tuổi với mình.

Một pha cầu đẹp trong lễ hội Vật cầu

15/30


được trực tiếp chứng kiến rồi tự so sánh với những bạn khác, các em sẽ có hứng
thú học tập tiếp tục chú ý nghe giảng, trả lời các câu hỏi. Những HS còn lại sẽ
noi theo, muốn trả lời được như bạn để khẳng định mình, bên cạnh đó cũng tự ý
thức phải quan sát, lắng nghe và tích cực tham gia các hoạt động văn hóa ở địa
phương hơn. Từ đó sẽ tạo nên không khí học tập sôi nổi, vui tươi và thêm yêu
quê hương nơi mình sinh sống.
*Lưu ý : Câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, dễ hiểu xoáy vào trọng tâm để tất cả
HS đều hiểu được yêu cầu của câu hỏi:
- Cần đặt câu hỏi cho mọi học sinh trong lớp, tức là câu hỏi có nhiều mức
độ: dễ, trung bình, khó.
- Cần chú ý lắng nghe câu trả lời của các em khi cần có thể nhận xét, bổ
sung, sửa chữa để hoàn thiện nội dung câu trả lời cho các em.
2.3.3. Phương pháp tường thuật, miêu tả.
Phương pháp này áp dụng với các bài liên quan đến lễ hội hoặc hoạt
động sản xuất.
Ví dụ: “Bài 6: Một số dân tộc ở Tây Nguyên – Lớp 4” (tr 84) phần Địa lí.
- Ở hoạt động 3: Sau khi sử dụng phương pháp hỏi đáp như ở trên đã
trình bày giáo viên có thể cho học sinh xem đoạn video clip về một trân Vật cầu
rồi cho học sinh thuật lại trận đó trước lớp. Với học sinh có kĩ năng thuật tốt,
giáo viên có thể thuật lại trận mà em đã được chứng kiến hôm lễ hội.
Với phương pháp này, ngoài việc liên hệ cho học sinh ở địa phương có
một số lễ hội thì còn rèn cho học sinh kĩ năng trình bày, tự tin nói trước đám
đông. Tạo động lực hứng thú để đến khi có hội các em sẽ tích cực, nhiệt tình
tham gia.
2.3.4. Phương pháp kể chuyện :
Với phương pháp này, nếu GV khéo léo sẽ tạo được hứng thú rất tốt cho
học sinh. Học sinh Tiểu học rất thích nghe kể chuyện, vận dụng phương pháp kể
chuyện vào dạy học sẽ giúp các em tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, dễ
nhớ, và thích thú hơn.

của vua Lí Thánh Tông. Mẹ là Hạo Nương, cung phi thứ 9, quê ở xã Bồng Lai,
phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây. Lí Hoàng Chân có công lớn chống quân Tống xâm
lược. Trong trận quyết chiến tại phòng tuyến sông Cầu (Bắc Ninh) năm 1076,
Ngài đã anh dũng hy sinh, được Vua phong: “Linh Lang Đại Vương thượng
đẳng phúc thần" và duy nhất là người hy sinh ở chiến trường được lập đền thờ
tại nội đô lúc bấy giờ - Đền Voi Phục (Thủ Lệ). Trải qua các triều Lí, Trần, Lê,
Nguyễn cho đến nay, 269 nơi có dấu tích của Ngài cùng chung thờ. Khách thập
phương vãng lai thành kính, ngày đêm hương đăng. Do Ngài hóa ở dưới dòng
sông, cho nên dân trồng lúa và rau màu các vùng ven sông có thờ Ngài. Lễ hội
được tổ chức nhằm tưởng nhớ tới đức Linh Lang Đại vương, bởi tương truyền
rằng đây chính là một hình thức rèn binh sĩ của ngài. Đây là môn thể thao thể
hiện tinh thần thượng võ. Quả cầu được làm bằng gỗ mít, nặng hơn 20 kg. 4 đội
chơi tượng trưng cho 4 ông mãnh hổ sẽ tranh cầu và đưa về hố của đội mình.
Trò chơi vui vì ai cũng phải có chiến thuật vật lộn, lăn xả, lừa trước đón sau
quyết mang cầu về hố. Ngày nay, hằng năm người dân làng Thúy Lĩnh đều tổ
chức lễ hội. Vật cầu là môn thể thao thể hiện trí thông minh và sức mạnh dẻo
dai. Vật cầu rèn luyện trí lực nên có đầy đủ các lứa tuổi khác nhau từ các cụ già
đến các cháu thiếu nhi trong làng tham gia, tùy theo độ tuổi khi thi đấu được vật
với những quả cầu có trọng lượng khác nhau. Hội khỏe vật cầu kết thúc vào
chiều ngày mùng 6 tết cổ truyền, hội khỏe vật cầu đã để lại ấn tượng cho mỗi
người dân địa phương cũng như khách thập phương xa gần về tham dự.”
18/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

Sau đó giáo viên có thể đọc những vần thơ nói về hội Vật cầu của làng:
Ai về Thúy Lĩnh mà xem
Làng tôi mở hội tháng giêng Vật Cầu
Dù ai đi đâu về đâu

áp dụng những PPDH khác nhau, PPDH càng phong phú càng tạo được hứng
thú cao cho HS. Nhờ vậy mà việc lồng ghép sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
2.4 Biện pháp 4: Dạy học lồng ghép thông qua các hoạt động ngoại khóa.
19/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

Ngoại khoá lịch sử, địa lí là một hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ
thông, có vai trò quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu môn học,
đặc biệt là những kiến thức lịch sử, địa lí địa phương. Các tri thức lịch sử HS
tiếp nhận được không chỉ qua bài học trên lớp mà còn phải qua nhiều kênh
thông tin khác, trong đó hoạt động ngoại khoá là một trong những kênh thông
tin quan trọng.
Ngoại khoá có nhiều hình thức như đọc sách, kể chuyện, nói chuyện lịch
sử, trao đổi thảo luận, dạ hội lịch sử, tham quan di tích, bảo tàng, tổ chức trò
chơi lịch sử … Trong khuôn khổ đề tài, tôi chỉ giới thiệu 2 hình thức tổ chức
ngoại khoá dễ tổ chức và mang lại hiệu quả cao.
2.4.1 Tổ chức hoạt động ngoại khoá tại di tích lịch sử.
Hình thức chủ yếu của hoạt động này là tham quan các di tích tại địa
phương, tham gia các lễ hội truyền thống tại các di tích lịch sử. Để cho các hoạt
động này được tiến hành có hiệu quả thì giáo viên cần chuẩn bị chu đáo về địa
điểm, thời gian, nội dung học tập, dự kiến công việc của từng học sinh, từng
nhóm học sinh. Các hoạt động đề ra phải phù hợp với nội dung chương trình, tâm
lí lứa tuổi học sinh. Trong đó học sinh phải đóng vai trò chủ thể, giáo viên đóng
vai trò tổ chức, hướng dẫn, phát huy tối đa năng lực, sở thích của từng học sinh.
Hình thức tổ chức phải phong phú, hấp dẫn, có tính nghệ thuật, lôi cuốn
đông đảo HS, tránh các báo cáo, diễn văn dài dòng. Trong quá trình tham quan
di tích lịch sử, HS cần được tổ chức thực hiện các bài tập thực hành từ đơn giản
đến phức tạp như quan sát, kể chuyện, miêu tả, ghi chép tài liệu.

2.4.2 Tổ chức hoạt động ngoại khoá qua hoạt động Đội, tuyên truyền
sách.
Với phương pháp này, tôi đã kết hợp chặt chẽ với đồng chí Tổng phụ
trách Đội và đồng chí nhân viên thư viện của trường.
Dựa vào các chủ đề trong năm học của Đội, tôi đã tham gia ý kiến với
đồng chí Tổng phụ trách, nhân viên thư viện dựa vào các chủ đề có thể cho học
sinh đóng các tiểu phẩm, diễn lại hoạt động trong lễ hội của địa phương.
Ví dụ : Diễn lại hội Vật cầu; diễn lại cách rèn quân của đức Linh Lang
Đại Vương. Sau đó diễn lại trước toàn trường để tất cả học sinh được xem.
Nhờ buổi ngoại khóa thông qua các tiểu phẩm này, học sinh được hình
dung cụ thể cách thức Vật cầu, hay cách rèn quân của đức Linh Lang Đại Vương
ngày xưa.
Tóm tại, việc tổ chức hoạt động ngoại khoá là một trong những biện pháp
hữu hiệu để nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
21/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

hiện nay, đặc biệt là việc lồng ghép kiến thức lịch sử địa lí địa phương nơi mình
đang sinh sống. Qua các hoạt động ngoại khoá, tôi nhận thấy hầu hết HS đều
hứng thú tham gia, không khí của buổi sinh hoạt trở nên sinh động. Qua đó góp
phần rèn luyện cho HS phát huy tối đa tư duy độc lập, sáng tạo của các em khi
làm việc. Đây là cơ sở để sau này HS có phương pháp hoạt động thực tế năng
động trong cuộc sống.
* Để những giải pháp trên có thể áp dụng được và hiệu quả cao hơn thì
cần phải có sự phối hợp hài hòa giữa giáo viên, nhà trường và gia đình :
- Với nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tiến hành thực
hiện công tác giảng dạy một cách đầy đủ nhất, quan tâm đến tinh thần cũng như
vật chất, mua sắm các thiệt bị dạy học, sách tham khảo đầy đủ để giáo viên có

Bản thân tôi luôn bám sát hoạt động Đội trong nhà trường. Qua hoạt động
Đội tôi sẽ kết hợp với đồng chí Tổng phụ trách vạch ra những định hướng phù
hợp nhằm giáo dục cho học sinh về lịch sử, địa lí địa phương được tốt hơn như:
+ Sinh hoạt theo chủ đề giáo dục Lịch sử địa phương.
+ Tổ chức ngoại khóa tại đình, chùa ở địa phương.
+ Tuyên truyền việc giữ gìn, bảo vệ di tích lịch sử ở địa phương.
+ Tổ chức thi tìm hiểu lịch sử đất nước, lịch sử địa phương. (Em yêu lịch sử).
+ Đóng tiểu phẩm mô phỏng lại nguồn gốc của lễ hội.
+ Tuyên dương những cá nhân có việc làm cụ thể góp phần gìn giữ nét văn
hóa của làng. (tham gia trò chơi lễ hội Vật cầu.)
Nhờ những hoạt động Đội này đã giúp cho các em học sinh nắm được
kiến thức lịch sử địa phương qua hình thức chơi mà học, học mà chơi một cách
thích thú.
2.5.3 Về phía Chính quyền địa phương:
Trước hết, về hoạt động ngoại khóa tôi đã tham mưu với Ban giám hiệu nhà
trường như trên tôi đã trình bày. Sau đó để hiểu sâu hơn về những nét truyền
thống đó tôi đã đến gặp trực tiếp lãnh đạo phường phụ trách vấn đề giáo dục,
đặc biệt là đồng chí cán bộ văn hóa phường để được thăm phòng truyền thống
của phường. Từ đó tôi có thêm tư liệu riêng cho mình để cung cấp cho các em
học sinh khi dạy lồng ghép được chính xác hơn.
2.5.4 Về phía Hội người cao tuổi:
Về phía Hội người cao tuổi, tôi cũng rất quan tâm. Vì những người cao tuổi
chính là những người nắm rõ nhất về những nét văn hóa của làng từ xa xưa cho
tới ngày nay. Tôi đã tham mưu xin ý kiếm của Ban giám hiệu mời người cao
tuổi đến nói chuyện với các em học sinh trong buổi ngoại khóa ở đình, chùa.
Bên cạnh đó tôi còn đến tận nhà để được các cụ giải thích rõ hơn.
Nói chung việc lồng ghép kiến thức lịch sử, địa lí địa phương vào dạy học
được kết quả tốt thì việc tìm hiểu kĩ kiến thức và kết hợp các đoàn thể cùng giáo
dục là việc làm hết sức quan trọng mà tôi và các đồng nghiệp cần làm. Nhờ đó
mà đã đạt được kết quả cao trong việc lồng ghép kiến thức địa phương trong các

- Sau mỗi tiết học đa số các em phấn khởi sôi nổi hơn, các em luôn trao đổi
nhiều với nhau về những địa danh hay lễ hội của địa phương mà các em vừa
được giáo viên chuyển tải tới.
- Tinh thần đoàn kết trong lớp được củng cố, các em cùng nhau trao đổi trò
chuyện, rút kinh nghiệm sau những lần được thêm về các địa danh, hay tìm hiểu
những đặc điểm lịch sử của địa phương mà bài học đem đến.
- Sau mỗi bài học có giới thiệu thêm về lịch sử, địa lí địa phương thì các em
thường cùng nhau trao đổi và nhắc lại với nhau lịch sử của các địa danh hay lễ
hội, nghề truyền thống đó. Thậm chí có nhiều em còn giới thiệu thêm cho bạn về
những sự kiện lịch sử của địa phương mà bố, mẹ các em đã kể từ trước.
* Qua gần hai năm học áp dụng các phương pháp dạy học mới, tôi nhận
thấy HS lớp 4; 5 do tôi chủ nhiệm đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt là sự thay
đổi về hứng thú đối với môn Lịch sử và Địa lí: Các em hào hứng khi được
chuyển sang tiết học Lịch sử và Địa lí; có nhiều em thích tự tìm tài liệu về bài
học trên mạng, nhiều em tự vẽ tranh về lễ hội ở quê hương, về nhân vật được
24/30


“Một số biện pháp lồng ghép kiến thức Lịch sử - Địa lí địa phương trong giảng dạy môn Lịch sử và Địa lí lớp 4; 5”

giáo viên kể. Tôi nghĩ, đó chính là nét khởi đầu giáo dục, trau dồi cho các em
những nét văn hóa đặc sắc riêng của làng hòa chung với bao nét văn hóa đẹp
đẽ khác của các dân tộc trên đất nước.
Sau qua trình áp dụng, đến cuối năm, tôi đã sử dụng một Test đánh giá kết
quả về hứng thú học tập Lịch sử và Địa lí của 37 em HS lớp 4; 5 để kiểm
chứng, kết quả nhận được như sau:
Bảng mức độ hứng thú đối với môn học Lịch sử và Địa lí.
Sự hứng thú

Rất hứng thú

- Như vậy số lượng HS hứng thú với môn học đã tăng lên. Hơn thế nữa
chất lượng môn học cũng được nâng cao hơn.
Năm 2015-2016 kết quả đạt được với lớp 4A1 như sau:
Chất lượng bài kiểm tra phân môn Lịch sử- Địa lí cuối năm như sau:
Điểm
9-10

Tỉ lệ %

Điểm
7-8

Tỉ lệ %

Điểm
5-6

Tỉ lệ %

Điểm
dưới 5

Tỉ lệ%

22

60 %

15



%

37

100

0

0

Năm 2016-2017 kết quả đạt được với lớp 5A1 như sau:
Chất lượng bài kiểm tra phân môn Lịch sử- Địa lí cuối kì I như sau:
Điểm
9-10

Tỉ lệ %

Điểm
7-8

Tỉ lệ %

Điểm
5- 6

Tỉ lệ %

Điểm
dưới 5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status