BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HƯƠNG
PHÒNG NGỪA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60380105
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG XUÂN CHÂU
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện,
có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ Người hướng dẫn là TS. Hoàng Xuân Châu. Các số liệu,
ví dụ minh họa trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực dựa
trên cơ sở nghiên cứu của tác giả.
Tác giả
Nguyễn Thanh Hương
Bảng 1.10. Cơ cấu theo thời gian thực hiện tội phạm ....................................... 15
Bảng 1.11. Cơ cấu theo đặc điểm sử dụng hoặc không sử dụng công cụ
phạm tội ......................................................................................... 16
Bảng 1.12. Cơ cấu theo loại tài sản bị trộm cắp................................................ 17
Bảng 1.13. Cơ cấu theo mục đích phạm tội ...................................................... 18
Bảng 1.14. Cơ cấu theo đặc điểm về việc tiêu thụ tài sản ................................. 18
Bảng 1.15. Cơ cấu theo giới tính, độ tuổi, dân tộc của người phạm tội ............. 19
Bảng 1.16. Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội ........................... 21
Bảng 1.17. Cơ cấu theo đặc điểm nghề nghiệp của người phạm tội .................. 21
Bảng 1.18. Cơ cấu theo tình tiết phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy
hiểm của người phạm tội ................................................................ 22
Bảng 1.19. Cơ cấu theo đặc điểm sử dụng ma túy của người phạm tội ............. 23
Bảng 1.20. Cơ cấu theo đặc điểm nạn nhân của tội phạm ................................. 23
Bảng 1.21. Cơ cấu theo mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân............ 23
Bảng 1.22. Cơ cấu theo tình huống trở thành nạn nhân của tội phạm ............... 24
Bảng 2.1. Diễn biến của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
trong giai đoạn 2011-2015 ............................................................. 27
Bảng 2.2. So sánh mức độ tăng, giảm hàng năm về số vụ và số người phạm
tội trộm cắp tài sản với số vụ và số người phạm các tội xâm
phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 20112015 ............................................................................................... 28
Bảng 2.3. Diễn biến theo mức hình phạt được áp dụng .................................. 30
Bảng 2.4. Diễn biến theo tình tiết phạm tội lần đầu và tái phạm, tái phạm
nguy hiểm ...................................................................................... 31
Bảng 2.5. Diễn biến theo tiêu chí độ tuổi của người phạm tội ........................ 32
Bảng 2.6. Diễn biến theo tiêu chí dân tộc của người phạm tội ........................ 33
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
tội trộm cắp tài sản và của các tội xâm phạm sở hữu trên địa
bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2011-2015. ........................... 28
Biểu đồ 2.3. So sánh mức độ tăng, giảm hàng năm về số người phạm tội
của tội trộm cắp tài sản và của các tội xâm phạm sở hữu trên
địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2011-2015. ..................... 29
Biểu đồ 2.4. Diễn biến theo mức hình phạt được áp dụng .............................. 31
Biểu đồ 2.5. Diễn biến theo tình tiết phạm tội lần đầu và tái phạm, tái phạm
nguy hiểm .................................................................................. 32
Biểu đồ 2.6. Diễn biến theo tiêu chí độ tuổi của người phạm tội .................... 33
Biểu đồ 2.7. Diễn biến theo tiêu chí dân tộc của người phạm tội .................... 34
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài........................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ............................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 3
6. Những kết quả nghiên cứu của luận văn ............................................................ 3
7. Cơ cấu của luận văn ........................................................................................... 4
Chương 1: TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN NĂM 2011-2015......... 5
1.1. THỰC TRẠNG CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015. ............................. 5
1.1.1. Thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình trong giai đoạn 2011-2015. ...................................................... 5
1.1.2. Thực trạng về tính chất của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình trong giai đoạn 2011-2015 ..................................................... 11
ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH.................................................................. 57
3.2.1. Nhóm biện pháp cải thiện môi trường vĩ mô của địa phương. ........ 57
3.2.2. Nhóm biện pháp hạn chế nguy cơ trở thành người phạm tội. .......... 60
3.2.3. Nhóm biện pháp hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân. ................... 62
3.2.4. Nhóm biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý xã hội và đấu tranh
chống tội phạm từ phía nhà nước. .................................................. 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................. 68
KẾT LUẬN CHUNG ..................................................................................... 69
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tỉnh Hòa Bình được xem là cửa ngõ của các tỉnh miền núi Tây Bắc, tiếp
giáp với Thủ đô Hà Nội. Tỉnh Hòa Bình có diện tích là 4.662,5km2 với dân số
khoảng hơn 800.000 người, được cơ cấu theo 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành
phố và 10 huyện. Trong những năm qua, tỉnh Hòa Bình đã khai thác được những
tiềm năng của mình để thúc đẩy kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chấttinh thần của nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh. Tuy nhiên, quá trình phát
triển kinh tế-xã hội cũng đem lại những tiêu cực như sự phân hóa giàu nghèo,
tình trạng thất nghiệp, sự gia tăng của các tệ nạn xã hội,… và có tác động tiêu
cực đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh. Đây là một trong những
nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm trong thời gian qua. Trong đó, tội
trộm cắp tài sản luôn chiếm tỉ lệ đáng kể và có diễn biến ngày càng phức tạp.
Mặc dù các ngành, các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực trong
việc đấu tranh và phòng ngừa tội trộm cắp tài sản nhưng tội trộm cắp tài sản vẫn
chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số tội phạm đã xảy ra trên địa bàn tỉnh Theo
số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình thì từ năm 2011 đến năm
2015, Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã xét xử 623 vụ với
pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm này. Mặc dù cùng nghiên cứu về
tội trộm cắp tài sản song mỗi một đề tài lại nghiên cứu trên một địa bàn và thời
gian nhất định. Nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có
thể nói tới khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mai Lâm Oanh. Công trình mặc dù
đã phân tích, đánh giá tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình từ
năm 2006 đến năm 2011, nhưng chưa phân tích được các nguyên nhân làm phát
sinh tội phạm cũng như chưa đưa ra được các biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp
tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
Qua nghiên cứu tình hình trên cho thấy hiện nay vẫn chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ tội phạm học về tình hình tội
phạm, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Hòa Bình. Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này ở
cấp độ luận văn thạc sỹ. Các công trình nghiên cứu đã được thực hiện là nguồn
tư liệu phong phú cho tác giả thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên
nhân, dự báo tình hình và các biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp tài sản.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Hòa Bình dưới góc độ tội phạm học trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2015.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các biện pháp phù hợp phòng
ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới. Để đạt
được mục đích trên, các nhiệm vụ phải giải quyết trong luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu, đánh giá tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình.
trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
5
Chương 1:
TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015
“Tình hình tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra
trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định”1. Tình hình tội trộm cắp
tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được xác định bởi các thông số về thực trạng
và diễn biến của tình hình tội phạm; các thông số về cơ cấu và tính chất của tình
hình tội phạm.
Để làm sáng tỏ được tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình giai đoạn 2011-2015, tác giả sử dụng số liệu thống kê chính thức của Tòa
án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hòa Bình và số liệu do tác giả thu thập từ 126 bản án xét xử hình sự sơ thẩm
về tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.
1.1. THỰC TRẠNG CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH HÒA BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2015
“Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm đã xảy ra
trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và về tính chất”2.
Thực trạng của tội trộm cắp tài sản bao gồm thực trạng về mức độ và thực trạng
về tính chất.
1.1.1. Thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Hòa Bình trong giai đoạn 2011-2015
Thực trạng của tội trộm cắp tài sản xét về mức độ của tội phạm được phản
ánh qua thông số về tổng số vụ và tổng số người phạm tội trộm cắp tài sản bị xét
xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Theo số liệu thống kê của TAND tỉnh
giả so sánh nó trong mối tương quan với các số liệu có liên quan. Cụ thể:
Thứ nhất, so sánh số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản với số vụ và
số người phạm các tội xâm phạm sở hữu bị xét xử hình sự sơ thẩm trên địa bàn
tỉnh Hòa Bình trong cùng khoảng thời gian.
Bảng 1.2. So sánh số vụ phạm tội và số người phạm tội trộm cắp tài sản
với số vụ, số người phạm các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
trong giai đoạn 2011-2015
Từ năm
2011
đến năm
2015
Tổng
Tội trộm cắp
tài sản
Số vụ
Số người
phạm tội
phạm tội
(1)
(2)
623
1.033
Các tội xâm phạm
sở hữu
Số vụ
Số người
phạm tội
phạm tội
HSST trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
Bảng 1.3. Số vụ phạm tội và số người phạm tội trộm cắp tài sản với số vụ
phạm tội và số người phạm các tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
trong giai đoạn 2011-2015
Từ năm
2011
đến năm
2015
Tổng
Tội trộm cắp tài sản
Tội phạm nói chung
Tỉ lệ %
Số vụ
Số người
Số vụ
Số người (1)/(3)
(2)(4)
phạm tội phạm tội phạm tội phạm tội
(1)
(2)
(3)
(4)
623
1.033
2.896
4.148
21,5% 24,9%
(Nguồn: Văn phòng TAND tỉnh Hòa Bình)
Số vụ
Số người
phạm tội
Chỉ số tội
phạm
4.055.300
623
1.033
5.751.600
827
1.529
3.872.000
645
916
448.349.800
79.351
12.543
(Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao)
15,4
14,4
16,7
17,7
Chỉ số
người
phạm tội
trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không
được đưa vào thống kê tội phạm”4. Mặc dù định nghĩa trên là tương đối rõ nét
nhưng quan niệm về tội phạm ẩn ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số điểm chưa
thống nhất.
Xét về mặt lý luận, thực trạng về mức độ là thông số xác định có bao nhiêu
tội phạm thực tế đã xảy ra trong giới hạn không gian và thời gian của tình hình
tội phạm. Trong số các tội phạm này, có tội phạm đã bị cơ quan chức năng phát
hiện (có thể đã xử lý hoặc chưa xử lý về hình sự) và có tội phạm chưa hề bị phát
hiện. Nếu coi tội phạm rõ là tội phạm đã bị phát hiện và đã bị xử lý về hình sự
bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án thì tội phạm ẩn sẽ là toàn bộ số còn
lại. Ngược lại nếu coi tội phạm rõ là tội phạm đã bị cơ quan chức năng phát hiện
mà không quan tâm đến việc đã bị xử lý bằng bản án có hiệu lực của tòa án hay
chưa thì tội phạm ẩn chỉ còn là các tội phạm mà cơ quan chức năng hoàn toàn
không có thông tin gì về chúng.
Mặc dù vậy, xét về tổng thể thì cần phải làm rõ tất cả các thông số trên
nếu muốn tiệm cận với tình hình tội phạm thực tế (sở dĩ chúng tôi dùng từ tiệm
4
Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd chú thích 1, tr.103.
10
cận vì bất kể phương pháp thu thập và xử lý thông tin nào cũng đều có những sai
số nhất định, đồng thời ngay cả việc xử lý của các cơ quan chức năng cũng chưa
chắc đã hoàn toàn chính xác). Nói cách khác, tổng số tội phạm nói chung là
không thay đổi mà chỉ thay đổi trong việc chia tách, phân loại theo các tiêu chí
khác nhau. Chính vì vậy, luận văn một mặt so sánh số liệu của Viện kiểm sát và
Tòa án để thấy sự chênh lệch trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời
tiếp cận các phương pháp nhằm tìm ra những tội phạm thực tế đã xảy ra mà cơ
cuộc điều tra thuộc dạng này.
1.1.2. Thực trạng về tính chất của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Hòa Bình trong giai đoạn 2011-2015
Thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai
đoạn 2011-2015 xét về tính chất được nghiên cứu trên cơ sở nghiên cứu cơ cấu
của tội trộm cắp tài sản. Qua việc nghiên cứu cơ cấu của tội phạm ta thấy được
những nội dung bên trong của tình hình tội phạm, từ đó tạo cơ sở cho việc xem
xét nguyên nhân của loại tội phạm này.
Để đánh giá được thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa
Bình trong giai đoạn 2011-2015 xét về tính chất, tác giả đã nghiên cứu 126 bản
án HSST (với 172 người phạm tội) được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên và những số liệu thống kê chính thức của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa
Bình. Theo đó, những cơ cấu của tội trộm cắp tài sản được nghiên cứu theo các
tiêu chí sau:
* Cơ cấu theo loại tội phạm:
Nghiên cứu 126 bản án HSST của các Tòa án có thẩm quyền xét xử trên địa
bàn tỉnh Hòa Bình trong thời gian 05 năm, từ năm 2011 đến năm 2015 và sự
phân loại tội phạm trong luật của Bộ Luật hình sự Việt Nam, tác giả có số liệu
thống kê sau:
Bảng 1.5. Cơ cấu theo loại tội phạm
Tổng số
172
100%
Tội phạm ít nghiêm Tội phạm nghiêm Tội phạm rất nghiêm
trọng
trọng
trọng
158
13
98,9%
Phạt tù từ 3 năm trở xuống
Phạt tù
Phạt tù cho Phạt tù không
trên 3 năm
hưởng án
cho hưởng án
đến 7 năm
treo
treo
398
555
64
38,9%
54,3%
6,3%
Phạt tù trên
7 năm đến
15 năm
05
0,5%
(Nguồn: Văn phòng TAND tỉnh Hòa Bình)
Qua nghiên cứu số liệu, có thể thấy, trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm
2015, số bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài sản là 1.033 bị cáo. Loại hình phạt
mà Tòa án áp dụng đối với loại tội phạm này bao gồm: Cải tạo không giam giữ
và tù có thời hạn. Trong đó, 1.022 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn
chiếm 98,9%. Hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm 1,1%. Có thể thấy rõ hơn
qua biểu đồ sau:
thấy, có 85/126 vụ được thực hiện dưới hình thức phạm tội đơn lẻ chiếm 67,5%,
còn lại 41/126 vụ được thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiếm 32,5%. Có
thể thấy, số vụ phạm tội được thực hiện theo hình thức đồng phạm mặc dù có tỉ
14
lệ thấp hơn song việc đồng phạm thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm cao
hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ tương ứng.
* Cơ cấu theo địa điểm phạm tội:
Bảng 1.8. Cơ cấu theo địa điểm phạm tội
Tổng số
126
100%
Nhà riêng
Nơi làm việc
Nơi khác
75
41
10
59,5%
32,5%
8,0%
(Nguồn: 126 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
Biểu đồ 1.7. Cơ cấu theo địa điểm phạm tội
Đối với tội trộm cắp tài sản, người phạm tội thường lợi dụng sơ hở của nạn
nhân hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm trộm cắp tài sản. Qua nghiên cứu, nhà riêng
Sơn
Châu
53
61
15
84
106
5,1% 5,9% 1,4% 8,1% 10,3%
152
14,7%
91
8,8%
(Nguồn: Văn phòng TAND tỉnh Hòa Bình)
Tân
Lạc
TP.
Hòa
Bình
Yên
Thủy
46
281
14
7
46
59
11,1%
5,6 %
36,5%
46,8%
(Nguồn: 126 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)
16
Biểu đồ 1.9. Cơ cấu theo thời gian thực hiện tội phạm
Thời gian phạm tội của loại tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
rất đa dạng. Trong đó có 59 vụ/126 vụ phạm tội trộm cắp tài sản xảy ra trong
khoảng từ 18h đến cận 24h chiếm tỉ lệ 46,8%. Tiếp đến là khoảng thời gian từ
12h đến cận 18h chiếm 36,5 %. Thấp nhất là khoảng thời gian từ 0h đến cận 6h
chiếm 5,6%. Qua số liệu trên có thể thấy, người phạm tội trộm cắp tài sản
thường chọn thời điểm khi nghỉ trưa hoặc đêm tối khi nạn nhân lơ là, mất cảnh
giác trong việc bảo vệ tài sản để thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, đây
cũng là khoảng thời gian mà hoạt động của các lực lượng tuần tra giảm và lưu
lượng người qua lại trên các tuyến đường ít, khiến cho việc thực hiện hành vi
phạm tội và tẩu thoát dễ dàng hơn.
* Cơ cấu theo đặc điểm sử dụng hoặc không sử dụng công cụ phạm tội:
Bảng 1.11. Cơ cấu theo đặc điểm sử dụng hoặc không sử dụng công cụ
phạm tội
Tổng
7
12
27
30,2%
5,6%
9,5%
21,4%
(Nguồn: 126 bản án HSST về tội trộm cắp tài sản)