BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HIỀN
PHÒNG NGỪA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60 38 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ THỊ SƠN
HÀ NỘI - 2014
Lời cảm ơn
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực tiễn,
được sự hướng dẫn, giảng dạy của các thầy cô, sự quan tâm giúp đỡ của gia đình,
bạn bè, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ Luật học. Qua đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu cùng các thầy cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các giáo sư,
phó giáo sư, tiến sỹ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm
quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS. TS. Lê Thị Sơn đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
1.2.1.
Diễn biến về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2009 – 2013 ...........................................................................................28
1.2.2.
Diễn biến về tính chất của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2009 – 2013 ...........................................................................................31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................34
Chƣơng 2: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC NINH ..........................................................................................36
2.1. Nguyên nhân về kinh tế - xã hội .....................................................................37
2.2. Nguyên nhân về giáo dục và tuyên truyền, phổ biến pháp luật ......................41
2.3. Nguyên nhân liên quan đến công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực trật tự,
an ninh xã hội .........................................................................................................45
2.4. Nguyên nhân liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và
thi hành án ..............................................................................................................49
2.5. Nguyên nhân từ phía người phạm tội .............................................................51
2.6. Nguyên nhân từ phía nạn nhân .......................................................................53
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................55
Chƣơng 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC NINH ..........................................................................................57
3.1. Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời
gian tới …………………………………………………………………………57
3.2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1. DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản bị xét xử sơ thẩm trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.2: Số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ và số người
phạm tội của nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai
đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.3: Số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản so với số vụ và số người
phạm tội của các tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai
đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.4: Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013 (tính trên 100.000 dân)
Bảng 1.5: Chỉ số tội phạm và chỉ số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh, thành phố Hà Nội, tỉnh Hưng Yên và toàn quốc giai đoạn
2009 – 2013 (tính trên 100.000 dân)
Bảng 1.6: Số vụ bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 1.7: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
Bảng 1.8: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại và mức hình phạt đã được áp
dụng
Bảng 1.9: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức phạm tội
Bảng 1.10: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa bàn phạm tội
Bảng 1.11: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội
Bảng 1.12: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
dụng
Biểu đồ 1.6: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức phạm tội
Biểu đồ 1.7: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa bàn phạm tội
Biểu đồ 1.8: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo địa điểm phạm tội
Biểu đồ 1.9: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo thời gian phạm tội
Biểu đồ 1.10: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo công cụ, phương tiện phạm tội
Biểu đồ 1.11: Cơ cấu tội trộm cắp tài sản theo động cơ phạm tội
Biểu đồ 1.12: Cơ cấu theo giới tính của người phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.13: Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.14: Cơ cấu theo trình độ học vấn của người phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.15: Cơ cấu theo nghề nghiệp của người phạm tội trộm cắp tài sản
Biểu đồ 1.16: Cơ cấu theo đặc điểm “phạm tội lần đầu” hay “tái phạm, tái phạm
nguy hiểm” của người phạm tội
Biểu đồ 1.17: Cơ cấu theo đặc điểm nghiện ma túy của người phạm tội
Biểu đồ 1.18: Cơ cấu theo tình huống trở thành nạn nhân
Biểu đồ 1.19: Diễn biến của số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Biểu đồ 1.20: So sánh diễn biến của số vụ phạm tội trộm cắp tài sản và số vụ phạm
tội các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn
2009 – 2013
Biểu đồ 1.21: So sánh diễn biến của số người phạm tội trộm cắp tài sản và số người
phạm tội các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai
đoạn 2009 – 2013
Biều đồ 1.22: Diễn biến của số người phạm tội trộm cắp tài sản bị xử phạt tù từ trên
3 năm đến 7 năm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Biểu đồ 1.23: Diễn biến số vụ đồng phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Biểu đồ 1.24: Diễn biến số người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc
có chiều hướng tăng cả về số vụ lẫn số bị cáo, việc thực hiện tội phạm loại này ngày
càng đa dạng với nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi, gây ra những thiệt hại về người
và tài sản của nhân dân. Có thể nói diễn biến của tội trộm cắp tài sản gây nhức nhối
và ảnh hưởng lớn tới đời sống nhân dân của vùng quê Kinh Bắc. Trước tình hình tội
trộm cắp tài sản như vậy và để đáp ứng yêu cầu bảo vệ trật tự, an ninh xã hội phục
2
vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh cần thiết phải có các biện
pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trong thời gian tới trên cơ
sở nghiên cứu, đánh giá tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian 5 năm gần đây và xác định nguyên nhân của tội phạm này. Chính vì
vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, tội trộm cắp tài sản đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu
dưới các góc độ, phương diện khác nhau. Dưới góc độ tội phạm học có thể kể đến
các công trình nghiên cứu như:
Luận án tiến sỹ luật học: “Tội trộm cắp tài sản và đấu tranh phòng chống
tội này ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Văn Hùng bảo vệ năm 2007, tại Đại học
Luật Hà Nội.
Luận văn thạc sỹ: “Đấu tranh phòng ngừa và chống tội trộm cắp tài sản
trong quân đội” của tác giả Nguyễn Gia Hoàn, bảo vệ năm 2000 tại Đại học Luật
Hà Nội; “Đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hải
Dương” của tác giả Nguyễn Công Thập, bảo vệ năm 2001 tại Đại học Luật Hà Nội;
“Đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội” của
tác giả Thân Như Thành bảo vệ năm 2005 tại Đại học Luật Hà Nội; “Đấu tranh
phòng, chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả
Nguyễn Thị Thu Huyền bảo vệ năm 2007 tại Đại học Luật Hà Nội; “Đấu tranh
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên
nhân và các biện pháp phòng ngừa tội phạm của tội trộm cắp tài sản.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm học tội
trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng
ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, cần thực hiện những
nhiệm vụ cơ bản sau:
+ Đánh giá thực trạng và diễn biến của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2013.
4
+ Xác định nguyên nhân của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2013.
+ Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời
gian tới.
+ Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn, tác giả sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: Phương pháp tiếp cận định lượng, tiếp
cận tổng thể, tiếp cận bộ phận, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phương pháp
phân tích thứ cấp dữ liệu, phương pháp thống kê, phương pháp chứng minh trực
tiếp giả thuyết, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và so sánh.
6. Đóng góp mới của luận văn
phạm này trong phạm vi nghiên cứu.
1.1. Thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2009 – 2013
“Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của tội phạm đã xảy ra trong
đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và về tính chất” [3, tr. 112].
1.1.1 Thực trạng về mức độ của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Trong phần này, tác giả nghiên cứu tổng số tội phạm trộm cắp tài sản đã
xảy ra cũng như tổng số người đã thực hiện tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
từ năm 2009 đến năm 2013.
Về tội phạm rõ
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thì số vụ và số
người phạm tội bị xét xử hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh trong 05 năm như sau:
6
Bảng 1.1: Số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản bị xét xử sơ thẩm
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Năm
Số vụ
Số ngƣời phạm tội
2009
205
1.905
TB/năm
228,8
381
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)
Bảng thống kê trên cho thấy, từ năm 2009 đến năm 2013, Tòa án nhân dân
các cấp của tỉnh Bắc Ninh đã xét xử sơ thẩm 1.144 vụ án và 1.905 người phạm tội
trộm cắp tài sản. Bình quân mỗi năm có khoảng 228,8 vụ với khoảng 381 người
phạm tội bị xét xử sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản.
Có thể số lượng các vụ án trộm cắp tài sản mà Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh đã xét xử trong những năm gần đây chưa phác họa toàn bộ bức tranh của tội
phạm trộm cắp tài sản nhưng các số liệu thống kê này cũng góp phần quan trọng
trong việc phản ánh tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
trong năm năm qua.
Nếu việc phân tích các số liệu tổng thể như tổng số vụ hay tổng số người
phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2009 đến năm 2013
được đặt trong sự so sánh với các số liệu khác có liên quan sẽ giúp chúng ta có được
sự đánh giá và cái nhìn chính xác, toàn diện hơn về thực trạng của tội phạm trộm
cắp tài sản trên địa bàn này trong thời gian nghiên cứu.
Trước hết, để thấy rõ hơn thực trạng của tội phạm trộm cắp tài sản trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây, ta so sánh thực trạng này trong mối
tương quan với thực trạng của nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh trong giai đoạn 2009 – 2013.
7
Tỷ lệ (1) so với (2)
Số vụ
66,6%
Số người
phạm tội
62,9%
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)
Biểu đồ 1.1: So sánh số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản với số vụ
và số người phạm tội của nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2009 – 2013
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)
Như vậy, từ năm 2009 đến năm 2013 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh số tội
phạm trộm cắp tài sản là 1.144 vụ, 1.905 người phạm tội; trong khi số tội phạm
thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu chỉ có 1.718 vụ, 3.031 người phạm tội. Như vậy,
tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ rất lớn trong nhóm tội xâm phạm sở hữu cả về số vụ
là 66,6% và số người phạm tội là 62,9%.
Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định 13 Điều luật tương ứng với 13 tội
8
trong phần các tội xâm phạm sở hữu, trong đó quy định tội trộm cắp tài sản chỉ
trong một điều luật (Điều 138). Như vậy, mặc dù tội trộm cắp tài sản được quy định
trong Bộ luật Hình sự chỉ chiếm tỷ lệ 1/13 Điều luật nhưng so với tội phạm xâm
phạm sở hữu khác thì tội phạm trộm cắp tài sản bị xét xử ở Bắc Ninh chiếm tỷ lệ rất
cao, chiếm hơn 60% cả về số vụ và số người phạm tội xâm phạm sở hữu.
(2)
(3)
(4)
1.144
1.905
3.962
8.091
trăm giữa
(1) và (3)
28,9%
Tỷ lệ
phần
trăm giữa
(2) và (4)
23,5%
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)
Biểu đồ 1.2: So sánh số vụ và số người phạm tội trộm cắp tài sản với số vụ
và số người phạm tội nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)
Chỉ số ngƣời
tính trên 100.000
phạm tội tính
dân
trên 100.000 dân
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)=2*100.000/4
(6)=3*100.000/4
2009
205
292
1.024.400
267
487
1.079.900
24,72
44,53
2013
268
463
1.093.600
24,50
42,34
TB
228,8
381
1.058.480
21,66
Chỉ số
người
phạm
tội
36,00
Hà Nội
Chỉ số
tội
phạm
19,94
Chỉ số
người
Hƣng Yên
Chỉ số
phạm
tội
28,31
tội
phạm
15,50
Chỉ số
người
Nhìn vào bảng thống kê và biểu đồ ta thấy: Trong khoảng thời gian từ năm
2009 đến năm 2013, tỉnh Bắc Ninh có mức độ phổ biến của tội trộm cắp tài sản cao
nhất, thể hiện chỉ số tội phạm là 21,66 và chỉ số người phạm tội 36. So với tỉnh lân
cận là Hưng Yên, một tỉnh có điều kiện tự nhiên, kinh tế tương đương nhưng Bắc
Ninh có chỉ số tội phạm tội trộm cắp cao hơn hẳn Hưng Yên (chỉ số tội phạm là
15,5; chỉ số người phạm tội là 26,68). Và so với thành phố Hà Nội và toàn quốc thì
chỉ số tội phạm của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng cao hơn
nhiều. Điều này cho thấy mức độ phổ biến cao của loại tội này trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh trong những năm gần đây.
Về tội phạm ẩn
Những thông số về số vụ phạm tội cũng như số người phạm tội ở trên cho ta
thấy một phần của “bức tranh” tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai
đoạn 2009 – 2013. Còn một phần của “bức tranh” chưa được làm rõ, đó chính là tội
phạm ẩn của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. “Tội phạm ẩn là các
tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì
không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội
phạm” [3, tr. 103]. Việc xác định tội phạm ẩn là vô cùng khó khăn và phức tạp.
Chúng ta không thể xác định chính xác được số lượng tội phạm ẩn mà chỉ có thể
tiếp cận đến mức độ nhất định.
Tội phạm ẩn là một bộ phận của tổng số các tội phạm trộm cắp tài sản đã
xảy ra trên thực tế. Không phải mọi tội phạm xảy ra trên thực tế đều bị phát hiện và
xử lý hình sự, mà có những tội phạm xảy ra nhưng do có nhiều lý do khác nhau mà
không bị phát hiện và xử lý hình sự, do vậy không có trong thống kê hình sự. Tội
phạm ẩn có hai hình thái là tội phạm ẩn chủ quan và tội phạm ẩn khách quan. Việc
xác định tội phạm ẩn thường được thực hiện qua một số phương pháp như phương
pháp tự thuật, phương pháp điều tra nạn nhân… nhưng sự đánh giá về mức độ thì
chỉ có thể là tương đối. Tội trộm cắp tài sản bản thân nó đã có yếu tố “lén lút”,
khuynh hướng ẩn rất lớn và tâm lý người phạm tội lúc nào cũng muốn che giấu cho
hành vi mà mình đã gây ra, hơn nữa trong một số trường hợp nạn nhân có tâm lý
91,93%
2010
202
178
88,12%
2011
251
226
90,04%
2012
303
267
88,12%
2013
304
Bên cạnh đó, cũng phải kể đến những trường hợp tội phạm đã xảy ra trên thực tế
nhưng người dân không trình báo hoặc do lỗi (thuộc về cả nguyên nhân khách quan
và chủ quan) của các cơ quan chức năng.
Tội phạm trộm cắp tài sản này không giống các tội phạm khác như tội phạm
giết người, cướp giật tài sản, các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng…có tỷ lệ
ẩn thấp vì những tội đó thường khó che giấu, mức độ bộc lộ thông tin lớn, khả năng
lan truyền thông tin nhanh bởi hậu quả của nó thường là nghiêm trọng, người dân
dễ phát hiện. Tội phạm trộm cắp tài sản có tỷ lệ ẩn khá cao, đặc biệt là các trường
hợp phạm tội ít nghiêm trọng, và nó có thể ẩn cả từ phía người bị hại và cơ quan
chức năng. Việc phát hiện tội phạm ẩn có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng và tội phạm nói chung. Mặc
dù số liệu về tội phạm ẩn của tội trộm cắp tài sản chỉ mang tính tương đối nhưng
thông qua những số liệu này cùng với số liệu về tội phạm rõ đã cho chúng ta thấy rõ
hơn “bức tranh” của thực trạng của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
giai đoạn 2009 – 2013.
1.1.2. Thực trạng về tính chất của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh giai đoạn 2009 – 2013
Trước hết, tác giả nghiên cứu về cơ cấu của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 đến năm 2013. Xem xét cơ cấu là xem xét tỉ trọng của
từng bộ phận của mỗi cơ cấu để từ đó chúng ta rút ra được những nhận xét nhất
định về tính chất của tội phạm [3, tr. 117].
Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản được tác giả xem xét theo những tiêu chí sau:
Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
Trên cơ sở nghiên cứu 200 bản án hình sự sơ thẩm với 304 người phạm tội
bị xét xử về tội trộm cắp tài sản của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh trong vòng 5 năm, tác giả có bảng thống kê sau:
100%
75,7%
20%
2,9%
1,3%
Tổng
(Nguồn: 200 Bản án hình sự sơ thẩm)
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại tội phạm
(Nguồn: 200 Bản án hình sự sơ thẩm)
Chúng ta có thể thấy tội trộm cắp tài sản ở Bắc Ninh tập trung vào loại tội ít
nghiêm trọng, theo khoản 1 Điều 138 BLHS, chiếm 75,7%; sau đó là tội nghiêm
trọng theo khoản 2 Điều 138 BLHS chiếm 20%, tội rất nghiêm trọng theo khoản 3
Điều 138 có 2,9% và đặc biệt trong 200 bản án tác giả đã nghiên cứu có 4 bị cáo bị
xét xử vào tội đặc biệt nghiêm trọng, chiếm tỉ lệ 1,3%.
Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại và mức hình phạt đã được
áp dụng
Bảng 1.8: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo loại và mức hình phạt đã
được áp dụng
Loại và mức hình phạt đã đƣợc áp dụng
Số ngƣời phạm tội Tỷ lệ %
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)
Theo thống kê chính thức của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và nhìn vào
bảng thống kê, biểu đồ cho ta thấy, giai đoạn 2009 – 2013: Trong tổng số 1.905 bị
cáo đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, hầu hết các bị cáo đều bị áp dụng hình phạt
tù có thời hạn là 1.868 chiếm 98,1%; chỉ có 37 bị cáo, chiếm 2% bị áp dụng hình
phạt cải tạo không giam giữ.
Trong số 1.868 bị cáo bị xử phạt tù: có 988 bị cáo bị xử phạt tù từ 3 năm
trở xuống, chiếm đa số 51,9%. Chiếm tỷ lệ thứ hai là số bị cáo phạm tội trộm cắp tài
sản bị áp dụng mức hình phạt tù từ dưới 3 năm nhưng cho hưởng án treo (513 bị
cáo, chiếm 26,9%), số bị cáo được áp dụng hình phạt tù trên 3 năm đến 7 năm cũng
chiếm tỷ lệ lớn với 327 bị cáo, chiếm 17,2% số bị cáo bị xét xử về tội trộm cắp tài
sản trong năm năm qua.
Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức phạm tội
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, ta có bảng số liệu
sau:
Bảng 1.9: Cơ cấu của tội trộm cắp tài sản theo hình thức phạm tội
Tổng số
Đồng phạm
Phạm tội riêng lẻ
1.144 vụ
297
847
100%
Quế Võ
Thuận Thành
Tiên Du
Gia Bình
Lương Tài
Tổng
Số vụ
Tỷ lệ %
237
20,7%
189
16,5%
148
12,9%
144
12,6%
115
10,1%
109
9,5%
104
9,1%
98
8,6%
1.144
100%
(Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh)