Đánh giá tác dụng in vitro huyết tương giàu tiểu cầu trên tế bào gốc mô mỡ - Pdf 48

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
----------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG IN VITRO
HUYẾT TƢƠNG GIÀU TIỂU CẦU
TRÊN TẾ BÀO GỐC MÔ MỠ

Người hướng dẫn: TS. Đỗ Minh Trung
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Ngọc Anh
Lớp: YD - 13.02

HÀ NỘI - 2017


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội
LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
Đại úy, TS. Đỗ Minh Trung_người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng
dẫn cũng như động viên, cổ vũ tinh thần cho em trong suốt quá trình thực
hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những thầy cô giáo đã giảng dạy
em trong những năm qua, những kiến thức mà em nhận được trên giảng
đường sẽ là hành trang giúp em vững bước trong tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Công nghệ Sinh học,

MỤC LỤC ........................................................................................................ ii
DANH MỤC VIẾT TẮT ............................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................. vi
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU………………………………….……..3
1.1. TỔNG QUAN VỀ HUYẾT TƢƠNG GIÀU TIỂU CẦU .................. 3
1.1.1. Định nghĩa......................................................................................... 3
1.1.2. Cấu tạo, chức năng của tiểu cầu và hạt α.......................................... 3
1.1.3. Vai trò cuả tiểu cầu trong quá trình làm lành vết thương ................. 4
1.1.4. Tạo huyết tương giàu tiểu cầu .......................................................... 5
1.1.5. Ứng dụng của PRP trong điều trị...................................................... 9
1.2. TẾ BÀO GỐC VÀ TẾ BÀO GỐC TỪ MÔ MỠ ........................... 15
1.2.1. Tế bào gốc ....................................................................................... 15
1.2.2. Phân loại tế bào gốc ...................................................................... 17
1.2.3. Tế bào gốc mô mỡ .......................................................................... 21
1.2.4. Ứng dụng của tế bào gốc ................................................................ 23
1.2.5. Ứng dụng của tế bào gốc mô mỡ .................................................... 25
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PRP TỰ THÂN TRONG
ĐIỀU TRỊ BỆNH THOÁI HÓA KHỚP. ................................................. 27
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới .................................................. 27
1.3.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam ................................................. 28
PHẦN II: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................... 29
2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ................................................................ 29

SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

ii



iii

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội
DANH MỤC VIẾT TẮT

TBG

Tế bào gốc

ADSCs

Adipose derived stem cells (Tế bào gốc mô mỡ)

PRP

Platelet rich plasma (Huyết tương giàu tiểu cầu)

TBG trung mô

Mesenchymal stem cell (Tế bào gốc trung mô)

EGF

Epidermal growth factor (Yếu tố tăng trưởng biểu bì)

ECGF

Epithelial cell growth factor
(Yếu tố tăng trưởng tế bào biểu mô)

IGF

Insulin-like growth factor
(Yếu tố tăng trưởng giống Insulin)

SVF

Stromal – Vascular fraction
(Tế bào nền mạch máu)

PBS

Phosphat Buffer Saline
(Dung dịch đệm Phosphat)

CFU-F

Colony-forming unit fibroblast

SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

iv

GVHD: Đỗ Minh Trung


Hình 3.5: Hình ảnh về khả năng tạo cụm tế bào (CFU-F) của TBG mô mỡ
(CFU-PRP1, CFU-DC3:. ................................................................................ 41

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả số lượng TBG mô mỡ sau khi nuôi cấy bổ sung PRP .. 36
Biểu đồ 3.2: Kết quả so sánh giá trị đo OD phản ứng MTT (n=11) ............... 39

SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

vi

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tế bào máu gồm 93% là hồng cầu, 1% bạch cầu và 6% tiểu cầu. Trong
đó tiểu cầu có vai trò thúc đẩy quá trình liền vết thương và làm đông máu
thông qua việc giải phóng các yếu tố tăng trưởng (Growth factor). Huyết
tương giàu tiểu cầu (Platelet rich plasma - PRP) là một chế phẩm được chiết
xuất ra từ máu toàn phần. PRP tách chiết được bằng cách ly tâm thông qua bộ
kít chuyên dụng. Chế phẩm PRP thu được bao gồm lượng huyết tương nhỏ
nhưng có độ tập trung tiểu cầu cao gấp nhiều lần. PRP có chứa nhiều yếu tố
yếu tố tăng trưởng bao gồm cả yếu tố tăng trưởng biểu bì(EGF), yếu tố tăng
trưởng nội mô mạch máu(VEGF), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi(FGF),
yếu tố tăng trưởng giống Insulin và yếu tố tăng trưởng keratinocyte... Các yếu
tố tăng trưởng có vai trò quan trọng trong việc làm lành vết thương, tái tạo

Xuất phát từ những cơ sở khoa học thực tiễn trên, em tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hoạt tính của huyết tương giàu tiểu cầu
trên tế bào gốc mô mỡ” với các mục tiêu sau:
Mục tiêu:
1. Nuôi cấy tăng sinh tế bào gốc mô mỡ tạo nguồn tế bào làm mô hình
để đánh giá
2. Đánh giá hoạt tính của huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trên tế bào
gốc mô mỡ

SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

2

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 . TỔNG QUAN VỀ HUYẾT TƢƠNG GIÀU TIỂU CẦU
1.1.1. Định nghĩa
Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP- Platelet rich plasma) là huyết tương có
nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần trong máu. Bình thường số lượng tiểu cầu
trong máu khoảng từ 140.000 đến 400.000 tiểu cầu/ μl máu (trung bình
200.000), trong khi đó số lượng tiều cầu trong PRP cao hơn gấp nhiều lần, từ
2- 8 lần, so với mức trung bình [3, 4].
1.1.2 Cấu tạo, chức năng của tiểu cầu và hạt α
Tiểu cầu là các phân mảnh của mẫu tiểu cầu (megakaryocyte), một loại

1.1.3 Vai trò cuả tiểu cầu trong quá trình làm lành vết thƣơng
Khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α của
tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein có vai trò quan trọng đối với
quá trình làm lành vết thương hay tổn thương [3, 4]. Một số protein quan
trọng:
- Platelet-derived growth factor (PDGF- αα, ββ, αβ): yếu tố tăng
trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu có tác dụng hóa ứng động đối với đại thực
bào- thu hút đại thực bào tới nơi tổn thương; phối hợp PDGF với TGF-β, IGF
có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng mạch máu, phân chia TB, hình thành da,
chất căn bản xương, tổng hợp collagen.
- Transforming growth-factor-beta (TGF-β: β1, β2): yếu tố tăng trưởng
chuyển dạng beta có tác dụng thúc đẩy các TB gốc nguồn gốc trung mô (sụn,
xương, cơ, sợi….) và các nguyên bào xương… phân bào; thúc đẩy quá trình
khoáng hóa của xương (khi phối hợp với PDGF). Các yếu tố tăng trưởng
TGF-β còn phối hợp với IGF-1 và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp
chất căn bản của sụn khớp [5].
- Vascular endothelial growth factor (VEGF): yếu tố tăng trưởng nội
mạc mạch máu, thúc đẩy hình thành mạch máu.
- Epidermal growth factor (EGF): yếu tố tăng trưởng biểu bì, thúc đẩy
tăng trưởng tế bào và sự biệt hóa, hình thành mạch máu, hình thành collagen.
- PDEGF (platelet-derived endothelial growth factor): yếu tố tăng
trưởng nội mô nguồn gốc tiểu cầu.
- PDAF (platelet-derived angiogenesis factor): yếu tố tăng sinh mạch
nguồn gốc tiểu cầu.
- ECGF (epithelial cell growth factor): yếu tố tăng trưởng tế bào biểu
mô.

SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

4

lần hoặc hai lần), hoạt hóa tiểu cầu (bằng các chất hoạt hóa hoặc để hoạt hóa
tự nhiên) hoặc dùng ngay tiểu cầu vẫn còn nguyên vẹn để sử dụng [3, 4]. Thời
gian cho quá trình chuẩn bị PRP khác nhau tùy thuộc vào kỹ thuật sử dụng
nhưng thường không quá 1 giờ.
Lấy máu: lấy máu tĩnh mạch, lượng máu lấy tùy thuộc vào vị trí tổn
thương và yêu cầu điều trị: khi điều trị bệnh thoái hóa khớp (THK) gối cần từ
3-6 ml PRP cho một khớp gối, khi đó lượng máu cần lấy tương ứng 10- 60 ml
SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

5

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

(vì thể tích PRP tách chiết được chiếm khoảng 10% đến 30% thể tích máu
toàn phần, tùy vào kỹ thuật áp dụng). Tùy thuộc vào qui trình và hãng sản
xuất thì thể tích thu nhận PRP cũng khác nhau. Kỹ thuật ACP (Autologous
Conditioned Plasma) của hãng Arthrex có ưu điểm lấy ít máu (10- 15 ml) tách
được khoảng 5-7 ml PRP để sử dụng.
Chống đông: chất chống đông thường được cho sẵn vào ống lấy máu
trước khi lấy máu tĩnh mạch, sau đó hỗn hợp này lắc đều và đem đi ly tâm. Có
nhiều chất chống đông có thể được dùng nhưng hiện nay có hai chất được áp
dụng nhiều nhất trên lâm sàng: ACD-A (anticoagulant citrate dextrose-A) hay
CPD (citrate phosphate dextrose) [3]. Theo kỹ thuật ACP thì có thể không cần
dùng chất chống đông, nhất là trong trường hợp PRP được đem sử dụng ngay
trong vòng 2 giờ sau khi tách [6]. Kỹ thuật tách PRF (platelet-rich fibrin) theo

phần PRP còn lại chủ yếu là tiểu cầu, ít bạch cầu (tùy kỹ thuật mà bạch cầu có
ít hay nhiều), yếu tố đông máu và một thể tích nhỏ huyết tương cùng rất ít
hồng cầu còn sót lại. Trường hợp lấy PRP không có bạch cầu (P-PRP) thì sau
lần ly tâm đầu lấy không đến lớp hồng cầu- để tránh lấy bạch cầu có nhiều ở
lớp buffy coat; trường hợp lấy PRP có bạch cầu (L-PRP) thì có thể hút sâu
hơn xuống lớp hồng cầu.

Hình 1.1: Kỹ thuật ly tâm hai lần và một lần (theo Ehrenfest và
cộng sự) [7].
Ngoài kỹ thuật ly tâm với hai bước, về sau một số tác giả cải tiến kỹ
thuật tách PRP theo hướng đơn giản hơn là ly tâm một lần với lực ly tâm thấp
và để cục đông fibrin hình thành một cách tự nhiên không can thiệp gọi là
Platelet Rich Fibrin (PRF) hay Fibrin Clot (FC) theo phương pháp
Choukroun; hoặc ly tâm một lần bằng lực ly tâm thấp (1500 vòng/ phút,
tương đương 400 g) trong thời gian ngắn (5 phút) lấy được PRP dạng lỏng
như phương pháp ACP (Autologous Conditioned Plasma) của Arthrex. Cả hai
kỹ thuật trên đều không cần dùng chất hoạt hóa tiểu cầu mà đảm bảo giữ tiểu
cầu nguyên vẹn để quá trình hoạt hóa xảy ra tự nhiên sau khi sử dụng. Với kỹ

SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

7

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội



8

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

Tuy nhiên theo một số kỹ thuật tách PRP mới hiện nay không cần hoạt
hóa tiểu cầu mà để hoạt hóa tự nhiên như kỹ thuật ly tâm một lần của
Choukroun (Choukroun’s PRF) hay ACP của Arthrex: lấy PRP chứa tiểu cầu
nguyên vẹn chưa hoạt hóa để tiêm vào vị trí tổn thương, sau đó tiểu cầu sẽ tự
hoạt hóa và giải phóng các yếu tố tăng trưởng. Một nghiên cứu trên in vitro
cho thấy hiệu quả của PRP không cần hoạt hóa trên tăng sinh tế bào gốc
nguồn gốc trung mô và biệt hóa thành tế bào sụn. Một nghiên cứu khác cho
thấy PRP có hoạt hóa ức chế sinh sụn và xương nhiều hơn so với PRP không
hoạt hóa, đồng thời cho thấy PRP không hoạt hóa làm tăng hình thành xương
và sụn trên cả in vitro và in vivo [8].
Khi cục máu đông được hình thành sẽ khởi động quá trình hoạt hóa tiểu
cầu và ngay lập tức các hạt α của tiểu cầu giải phóng ra các protein trên.
Trong vòng 10 phút đầu sau hoạt hóa hạt α sẽ bài tiết ra khoảng 70% và trong
vòng 1 giờ đầu giải phóng 95- 100% số lượng protein. Sau đó tiểu cầu sẽ tổng
hợp thêm các protein trên để bổ sung vào các hạt α dự trữ trong bào tương
tiểu cầu. Quá trình này diễn ra liên tục cho đến khi tiểu cầu chết (thời gian
sống của tiểu cầu khoảng 5- 10 ngày) [3].
1.1.5. Ứng dụng của PRP trong điều trị
PRP có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng điều trị đặc biệt thông
qua các thành phần yếu tố tăng trưởng tự nhiên được sản sinh trực tiếp từ tiểu

xương. Các nghiên cứu còn chứng minh thông qua việc làm giàu tiểu cầu các
nhân tố tăng trưởng và cytokine tăng từ 3-7 lần trong thành phần huyết tương
so với mức ban đầu, điều này cho thấy tiềm năng to lớn của PRP trong điều trị
và thẩm mỹ (Pfeilschifter J và cộng sự., 1990; Diegelman RF và cộng
sự.,2004; Eppley BL và cộng sự.,2004) [10]. PRP còn được chú ý bởi quá
trình kích thích sự phát triển của tế bào gốc trung mô, trong nghiên cứu
Kocaoemer cộng sự (2007) quan sát sự phát triển của tế bào trong môi trường
nuôi cấy bổ sung 10% FBS, 10% PRP thì nhận thấy tế bào gốc trung mô được
bổ sung PRP cho thấy khả năng tăng sinh tốt hơn, tế bào tăng cường phân
chia và nhân lên nhanh chóng, trong một thí nghiệm khác của Kakudo và
cộng sự (2008) cho rằng với 5% PRP thúc đẩy tối đa quá trình phát triển của
tế bào gốc trung mô từ mô mỡ. Quan trọng hơn tế bào được bổ sung PRP vẫn
duy trì được khả năng biệt hóa của mình trong điều kiện in vitro, hơn thế nữa
nhiều nghiên cứu đã phát hiện khi nuôi cấy dưới sự có mặt PRP thì TBG mô
mỡ nhận thấy nồng độ các nhân tố tăng trưởng và cytokine cao hơn nhiều lần
so với quá trình nuôi cấy thông thường. Điều này cho thấy PRP không chỉ
thúc đẩy việc loại bỏ các mô thoái hóa và hoại tử, mà còn kích thích sự tái tạo
mô và lành hóa vết thương. Hiện nay, PRP được ứng dụng trong các lĩnh vực
lâm sàng mà đặc biệt là điều trị các vấn đề về xương khớp. Trong lĩnh vực
SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

10

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội



11

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

115 khớp được tiêm PRP. Mỗi khớp gối được tiêm 3 liều PRP tự thân trong
vòng 9 tuần. Các bệnh nhân trong nghiên cứu được đánh giá thay đổi trên lâm
sàng bằng thang điểm IKDC (International Knee Documentation Committee),
chỉ số EQ VAS (Emotional Quotient VAS) và mức độ hài lòng của bệnh nhân
tại các thời điểm trước khi điều trị, kết thúc điều trị (2 tháng sau mũi tiêm
đầu), sau 6 tháng và 12 tháng kể từ khi tiêm lần đầu và xem xét các tác dụng
phụ, tai biến có thể gặp. Kết quả 80% bày tỏ sự hài lòng với kết quả điều trị.
Nghiên cứu của Sanchez và cộng sự trên 60 bệnh nhân thoái hóa khớp gối
chia làm hai nhóm đồng nhất về tuổi, giới, chỉ số BMI và phân bố mức độ
nặng trên Xquang: 30 bệnh nhân nhóm nghiên cứu điều trị PRP với liệu trình
3 liều trong vòng 3 tuần. 30 bệnh nhân nhóm chứng được tiêm HA cũng với
liệu trình 3 liều như trên. Kết quả sau 2 tháng điều trị tỷ lệ bệnh nhân trong
nhóm điều trị PRP cải thiện triệu chứng đau thành công cao hơn so với nhóm
điều trị HA. Các tác dụng phụ được ghi nhận là đau nhẹ, phản ứng viêm và có
thể tràn dịch khớp gối sau tiêm được ghi nhận ở một số bệnh nhân thuộc cả
hai nhóm, không có biến chứng nặng.
Kon và cộng sự.,2011 đã thử nghiệm trên 150 bệnh nhân được chia làm
3 nhóm: nhóm 1 gồm 50 bệnh nhân điều trị PRP, nhóm 2 gồm 50 bệnh nhân
được điều trị acid hyalorunic trọng lượng phân tử cao (HHA- Hight weight
hyalorunic acid) và nhóm 3 gồm 50 bệnh nhân được điều trị acid hyalorunic

đều sử dụng phân đoạn SVF (ADSCs chưa qua nuôi cấy) được thu nhận một
cách nhanh chóng, không mất nhiều thời gian nuôi cấy nhưng đem lại hiệu
quả cao trong điều trị. Một thử nghiệm khác của Phạm Văn Phúc và cộng sự
.,2013 cho thấy PRP có khả năng kích thích mạnh mẽ sự tăng sinh của tế bào
gốc trung mô từ mô mỡ, điều này đã chứng minh PRP có chứa các nhân tố
tăng trưởng cần thiết cho quá trình phân chia của ADSCs, hơn thế nữa nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng khi cấy ghép hỗn hợp ADSCs và 15% PRP trên mô hình
chuột bị tổn thương về xương khớp cho thấy sự cải thiện đáng kể mức độ tổn
thương xương khớp so với lô đối chứng, đặc biệt nghiên cứu đã ghi nhận sự
cải thiện đáng kể sự hoạt động của chi sau và khả năng tái tạo sụn. Bên cạnh
đó tác giả Phạm Văn Phúc và cộng sự cũng đã tiến hành một thử nghiệm khác
trên mô hình động vật lão hóa da, thí nghiệm ghi nhận khả năng kích thích
nguyên bào sợi trong nhóm điều trị PRP cho hiệu quả cao hơn nhóm sử dụng
ADSCs, và hiệu quả của việc phối hợp giữa ADSCs và PRP cho thấy khả
năng này còn cao hơn gấp nhiều lần. Đồng thời khi ghép trên chuột lão hóa da
theo dõi biểu hiện sau 2 tháng nhận thấy giảm nhanh của các nếp nhăn, tăng
cường sản xuất collagen, tăng độ dày lớp biểu bì so với lô đối chứng.
Trong một vài năm gần đây, PRP đã được ứng dụng trên lâm sàng trong
điều trị một số bệnh khác nhau như Bệnh viện Quân y 103-Học viện Quân y,
SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

13

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội



14

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

tái sinh trung bì thông qua bỏ sót các mảnh vỡ collagen nhưng gây hại tới mô
liên kết biểu bì. aPRP tăng tác dụng của protein MMP-1 và MMP-3. Vì vậy
aPRP có thể gây sửa chữa lại ECM thông qua việc kích thích loại bỏ các
thành phần ECM photo-damage. Và bao gồm tổng hợp collagen mới bởi
nguyên bào sợi [14].
Một nghiên cứu khác chứng minh rằng, nồng độ cao PRP tăng tác dụng
của collagen typ I, MMP-1, MMP-2 trên nguyên bào sợi da người. Thêm vào
đó, cải thiện da bị già hóa thông qua mối quan hệ liều đáp ứng (doseresponse) được nhận thấy giữa sự tăng sinh TBG trung mô và nồng độ tiểu
cầu cao. Mặt khác, cơ chế nữa của PRP cho sự trẻ hóa da và thông qua sự
tăng sản xuất acid hyaluronic. Acid này hấp thu nước, làm cho phức bộ acid
hyaluronic phồng lên, tăng thể tích và căng da. Nó cũng thúc đẩy tăng sinh tế
bào, tổng hợp phức hợp ngoại bào và giúp cho việc điều chỉnh đường kính sợi
collagen [14]
1.2. TẾ BÀO GỐC VÀ TẾ BÀO GỐC TỪ MÔ MỠ
1.2.1. Tế bào gốc
Tế bào gốc (TBG) là các tế bào chưa có chức năng chuyên biệt, có tiềm
năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau và có khả năng tự thay mới
(Self-Renewal). Các tế bào này là các tế bào chưa biệt hóa (Unspecialized
Cell) hoặc đang ở những giai đoạn khác nhau nhưng chưa kết thức quá trình
biệt hóa (Tế bào vạn tiềm năng, tế bào đa tiềm năng, tế bào ít tiềm năng, tế

tế lâm sàng, điều này rất có ý nghĩa trong nghiên cứu cơ chế tác dụng cũng
như độc tính của các loại thuốc hay các chế phẩm sinh học.
Có thể nói ứng dụng quan trọng và rộng lớn nhất của TBG là trong điều
trị. Trên cơ sở các TBG có thể biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau,
chúng ta có thể chủ động nuôi cấy TBG trong ống nghiệm sau đó biệt hóa
chúng thành các tế bào như tế bào cơ, tế bào xương, tế bào thần kinh, tế bào
sụn, tế bào tuyến tụy, tế bào cơ tim… rồi ghép vào cơ thể người bệnh để điều
trị một số bệnh lý tim mạch, điều trị Parkinson, tiểu đường, trong lĩnh vực
thẩm mỹ hay thúc đẩy quá trình liền xương.
Trong vài năm trở lại đây, TBG vẫn đang được các nhà khoa học
trong nước dành cho các mỗi quan tâm đặc biệt. TBG trung mô đã được
nghiên cứu nhiều như công trình nghiên cứu của Đỗ Minh Trung và cộng
sự tại Học viện Quân y đã nghiên cứu nuôi cấy biệt hóa tế bào gốc trung
mô màng dây rốn thành tế bào xương [2]. Hiện nay, Việt Nam đã có một số
ngân hàng tế bào gốc được thành lập nhằm lưu trữ nguồn tế bào gốc phục
vụ cho nghiên cứu và điều trị như: Ngân hàng Tế bào gốc MekoStem, Viện
huyết học và truyền máu Hà Nội, Viện huyết học và truyền máu TP Hồ Chí
Minh.
SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

16

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

Từ thế kỷ 20 đến nay giới khoa học trên thế giới cũng như trong nước

17

GVHD: Đỗ Minh Trung


Khóa luận tốt nghiệp

Viện Đại học Mở Hà Nội

một cơ thể sinh vật hoàn chỉnh mà chỉ có thể tạo nên được các tế bào, mô
nhất định. Các tế bào gốc phôi lấy từ khối tế bào bên trong ba lá mầm phôi
là những tế bào gốc vạn năng.

Hình 2.2: Tế bào gốc toàn năng, vạn năng và đa năng.
(Nguồn:)
- Tế bào gốc đa năng: là những tế bào có khả năng biệt hóa thành
nhiều loại tế bào của cơ thể từ một tế bào ban đầu. Các tế bào được tạo
thành nằm trong một hệ tế bào có liên quan mật thiết, ví dụ chỉ tạo nên các
tế bào máu (bao gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu lympho…), hoặc chỉ tạo
nên các tế bào của hệ thống thần kinh. Thường thì các tế bào gốc trưởng
thành như tế bào gốc tạo máu, tế bào gốc thần kinh chỉ có tính đa năng;
nhưng trong những điều kiện nhất định, chúng vẫn có thể chuyển biệt hóa
và trở nên có tính vạn năng.
- Tế bào gốc đơn năng: còn gọi là tế bào định hướng đơn dòng hay tế
bào đầu dòng (progenitor cells), là những tế bào gốc chỉ có khả năng biệt
hóa theo một dòng. Ví dụ mẫu tiểu cầu, tế bào định hướng dòng lympho, tế
bào định hướng dòng hồng cầu, dòng bạch cầu.... Trong điều kiện bình
SVTH: Bùi Thị Ngọc Anh

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status