Nghiên cứu tạo đột biến UV tăng hiệu suất sinh tổng hợp axit clavulanic từ chủng xạ khuẩn streptomyces clavuligerus - Pdf 48

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
------ -- --

------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:Nghiên cứu tạo đột biến tia UV tăng hiệu suất sinh tổng

hợp axit clavulanictừ xạ khuẩn Streptomyces clavuligerus.”

Giáo viên hướng dẫn: TS.Tạ Thị Thu Thủy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hồng Hoa
Lớp: 13-02

Hà Nội – 2017


LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắcem xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới
TS. Tạ Thị Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, truyền thụ cho em những kiến thức
chuyên môn vô cùng quý báu cũng như lòng nhiệt tình trong suốt quá trình hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Công nghệ Sinh học – Viện Đại
Học Mở Hà Nội đã tận tình dạy dỗ cho em những kiến thức cơ bản đồng thời đã
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em được học tập trong một môi
trường khoa học và hoàn thiện nhất.
Đồng thời em xin chân thành cảm ơn chị Nguyễn Thị Phương Thảo – Kỹ
sư công nghệ sinh học đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người

1.3.2. Mục đích. ............................................................................................ 22
1.3.3. Đột biến nhân tạo bằng các tác nhân vật lý. ......................................... 23
1.3.4.Đột biến nhân tạo bằng tác nhân hóa học. ............................................. 23
1.3.5.Đột biến nhân tạo bằng phương pháp sốc nhiệt. .................................... 24
1.3.6. Một số thành tựu trong ứng dụng đột biến gen tăng khả năng sinh kháng
sinh ở vi sinh vật. .......................................................................................... 24
1.4. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài ............................................ 24
1.4.1. Mục tiêu nghiên cứu. ........................................................................... 24
1.4.2.Nội dung nghiên cứu. ........................................................................... 24
Phần 2 - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................... 25
2.1. Vật liệu nghiên cứu ................................................................................ 25
2.1.1. Các chủng vi sinh vật .......................................................................... 25
2.1.2.Hóa chất, dụng cụ và thiết bị ................................................................ 25
Bảng 2.3.Môi trường LB ............................................................................... 28
2.2.Sơ đồ quy trình nghiên cứu ..................................................................... 28


2.3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 29
2.3.1. Phương pháp nuôi cấy chủng vi sinh vật .............................................. 29
2.3.2. Phương pháp bảo quản giống............................................................... 31
2.3.3.Phương pháp xác định khối lượng tế bào. ............................................. 31
2.2.4.Phương pháp gây đột biến xạ khuẩn bằng tia UV ................................. 31
2.4.Tách chiết và thu kháng sinh. .................................................................. 35
Phần 3 - KẾT QUẢ ............................................................................................... 37
3.1. Xác định hoạt tính axit của chủng S.clavuligerus................................... 37
3.3.So sánh khả năng đột biến từ bào tử và khuẩn ty. .................................... 38
3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian gây đột biến UV đến khả
năng sinh trưởng và sinh axit. ....................................................................... 39
3.5. Kết quả sàng lọc ngẫu nhiên chủng xạ khuẩn đột biến. ........................... 40
3.7. Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng và sinh

h

Giờ

HSCC

Hệ sợi cơ chất

HSKS

Hế sợi khí sinh

LB

Luria Bertani

TLC

Thin Layer Chromatography

v/p

Vòng/phút

Amp

Ampicillin

Amo


41

S.clavuligerus
Bảng 3.2 Bảng thử các nồng độ kháng sinh Amp và Amox với B.cereus

37

Bảng 3.3 Bảng thử các nồng độ kháng sinh Amp và Amox với E.coli

37

Bảng 3.4 Bảng kết quả kết hợp giữa axit clavulanic và kháng sinh

38

Amox
Bảng 3.5 Kết quả so sánh đột biến từ khuẩn ty và bào tử

38

Bảng 3.6 Tỉ lệ sống sót của chủng xạ khuẩn qua thời gian chiếu tia UV

39

Bảng 3.7 Kết quả sàng lọc ngẫu nhiên chủng xạ khuẩn đột biến

40

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của nguồn cacbonhydrat đến khả năng sinh trưởng



Nấm mốc Penicillium chrysogenum và bào tử của chúng

3

Hình 1.2

Công thức cấu tạo các kháng sinh penicillin

11

Hình 1.3

Công thức cấu tạo kháng sinh Ampicillin

12

Hình 1.3

Công thức cấu tạo kháng sinh Amoxicillin

12

Hình 1.3

Công thức cấu tạo các kháng sinh cephalosporin

12

Hình 1.6


Kiểm tra tính kháng khuẩn của chủng S.clavuligerusđột biến

41

và tự nhiên
Hình 3.4

Ảnh hưởng của nguồn cacbonhydrat đến khả năng sinh tổng

42

hợp axit của chủng xạ khuẩn S.clavuligerus đột biến.
Hình 3.5

Ảnh hưởng của nguồn pepton đến khả năng sinh tổng hợp axit

43

của chủng xạ khuẩn S.clavuligerus đột biến
Hình 3.6

Ảnh hưởng của hàm lượng đa lượng đến khả năng sinh tổng

44

hợp axit của chủng xạ khuẩn S.clavuligerus đột biến
Hình 3.7

Biểu đồ ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến khả năng sinh

học.Kháng sinh là một chế phẩm sinh học được sản xuất nhằm tiêu diệt vi sinh vật
gây bệnh cải thiện tình trạng bệnh lý của con người, động vật, thực vật.
Tình trạng kháng kháng sinh lại đang là một mối lo ngại hiện nay.Theo Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) dự tính đến năm 2050 cứ 3 giây sẽ có một người tử vong
do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khảng 10 triệu người mỗi năm
.Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay một vết cắt cũng có thể gây ra tử vong.
Hiện nay để ngăn ngừa tình trạng kháng kháng sinh thì con người phải tìm ra
một chế phẩm để phối hợp với kháng sinh làm giảm nồng độ kháng sinh và tăng
hoạt lực kháng sinh giúp ngăn chặn nguy cơ kháng kháng sinh đang ngày càng trở
thành hiểm họa của loài người.
Trong đó chủng xạ khuẩn Streptomyces clavuligenus có khả năng sinh ra axit
clavulanic có thể giúp ta ngăn chặn được phần nào khả năng kháng thuốc của một
số chủng vi sinh vật có khả năng sinh ra enzym β − lactamase.
Clavulanic acid là chất bán tổng hợp có khả năng ức chế hoạt động của nhóm
β − lactamase đây là enzym do vi sinh vật tiết ra để làm giảm hoạt lực kháng sinh
của nhóm β − lactam.Nó là sản phẩm chuyển hóa thứ cấp ra bởi chủng xạ khuẩn
Streptomyces clavuligerus.
Tuy nhiên, khả năng sinh axit của chủng xạ khuẩn tự nhiên này chưa cao, rất
cần có các biện pháp cải thiện năng suất nhằm thu được hàm lượng sinh axit cao
hơn. Vì vậy nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tạo đột biến UV tăng
suất sinh tổng hợp clavulanic acid từ xạ khuẩn Streptomyces clavuligerus”

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 1


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Năm 1945,Fleming được giải thưởng Nobel về y học cùng Ernst Boris Chain
và Howard Walter Florey.
Cùng với việc phát hiện ra Penicilin,thập kỉ 40,50 của thế kỉ XX cũng ghi
nhận những bước tiến vượt bậc trong việc khám phá ra hàng loạt chất kháng sinh
mới có giá trị trong y học như:Sulfonamid (Gerhard Domard, 1932), Streptomycin
(Selman

Waksman



Albert

Schat,1944),

Cloramphenicol(Erhlich,1947),

Chlotetraxyclin (Dugar,1948),…
Tốc độ tìm kiếm các chất kháng sinh ngày càng được đẩy mạnh.Nhiều trung
tâm nghiên cứu khoa học về y học, dược phẩm và nông nghiệp tại nhiều nước trên
thế giới vẫn liên tục phát hiện hàng loạt chất kháng sinh mới có giá trị ứng dụng
trong thực tiễn.Năm 1945 phát hiện được 30 chất kháng sinh, năm 1949 con số này
là 150 chất kháng sinh, năm 1953 xấp xỉ 450 chất kháng sinh, năm 1980 có 5.500
chất và đến nay số lượng chất kháng sinh được phát hiện lên tới 17.000 chất và
khoảng 30.000 chất kháng sinh bán tổng hợp.Tuy nhiên, trong số đó chi có 1÷2%
chất kháng sinh là có đủ tiêu chuẩn để được sử dụng trong y học.
Năm 1999, kháng sinh Lospomal HA – 92 được tách chiết từ xạ khuẩn

Xuân 1951-1952, kháng chiến chống Pháp.
Năm 1968, bộ môn công nghiệp Dược (trường Đại học Dược Hà Nội) được
thành lập và đào tạo cán bộ chuyên khoa kháng sinh chuẩn bị cho công nghiệp
kháng sinh. Năm 1970, đơn vị nàybắt đầu nghiên cứu chuyên đề kháng sinh do GS.
Trương Công Quyền phụ trách.Tại đâyđã phân lập được hàng nghìn chủng xạ khuẩn
từ các mẫu đất khác nhau.Đáng chú ý là đã tuyển chọn được một chủng có khả năng
chống vi khuẩn Gram (-), có hiệu quả tốt đối với vi khuẩn gây bệnh mủ xanh
(Pseudomonas aeruginosa). Kháng sinh này lấy tên là Dekamycin và sau này được
xác định là Neomycin.
Từ năm 1974,tại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công
Nghệ Việt Nam) đã có một nhóm nghiên cứu về chất kháng sinh.Nhiều chủng vi
sinh vật sinh chất kháng sinh có hoạt tính mạnh đã được ứng dụng trong bảo vệ thực
vật.Một số chế phẩm kháng sinh như: Tetravit, Biovit, Baxitraxin…đã được sản
xuất và đưa vào sử dụng trong chăn nuôi.
Sau đó Việt Nam được nhiều đối tác nước ngoài như Liên Xô (cũ), Trung
Quốc, Tây Ban Nha, Triều Tiên hợp tác và giúp sản xuất điều chế kháng sinh song
cũng không thành công do nhiều nguyên nhân.
Từ năm 1985 – 1990, một chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước vềsản xuất
thử kháng sinh Oxytetracyclin và Tetracyclin nhưng kết quả đạt được không cao về
công nghệ lẫn hiệu suất.
Từ năm 2000 đến nay, ở nước ta cũng có một số nhóm đã và đang tham gia
nghiên cứu về kháng sinh và thu được một số kết quả như: nghiên cứu tối ưu điều
kiện lên men và môi trường sản xuất kháng sinhVancomycin từ chủng Streptomyces
orientalis (2004); nghiên cứu quy trình công nghệ lên men sản xuất Vancomycin
(2006); nghiên cứu quy trình tách chiết, tinh chế Doxorubicin (DXR)từ xạ khuẩn
làm nguyên liệu điều chế thuốc điều trị ung thư và hệ bạch huyết.

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 4

Dựa vào mức độ tác dụng
CKS diệt khuẩn gồm những kháng sinh có cơ chế tác dụng đến khả năng tạo

vách tế bào,sinh tổng hợp ADN và ARN,giải phóng men autolyza,vi khuẩn tự phân
giải như: nhóm Lactamin gồm các loại Penicillin và các chất kháng sinh thuộc
nhóm Cephalosporin, nhóm Aminoglucozid (Streptomycin, Neomycin, Kanamycin,
Gentamycin, Framomycin), nhóm đa peptid : Colistin,Bacitracin,Vanomycin.
CKS kìm khuẩn gồm các chất ức chế sinh tổng hợp protein của vi khuẩn
bằng cách gắn vào các enzym hay các ribosome 30S, 50S và 70S như: Sulphamid

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 5


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Teracillin, Chloramphenicol, Erythromycin, Novobiocin, các chất kháng sinh được
phối hợp giữa Sulphamid với Trimethorpim theo tỉ lệ 5/1 và Tiamulin.
-

Dựa vào phổ tác dụng kháng sinh
- Nhóm có phổ tác dụng hẹp,chỉ tác dụng lên một loại hay một nhóm vi

khuẩn nào đó: Penicillin cổ điển chỉ dụng lên vi khuẩn Gram (+) hay nhóm thuốc
tác dụng lên vi khuẩn Gram (-) như Streptomycin.
- Nhóm kháng sinh có phổ tác dụng rộng,chúng có tác dụng với cả vi khuẩn
Gram(+), Gram (-), Rickestsia, virus cỡ lớn, đơn bào : Chloramphenicol, Tetracillin.

Page 6


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

- Kháng sinh làm rối loạn và ức chế tác dụng và tổng hợp protein của tế bào
vi khuẩn ở mức ribosome. Vi khuẩn không tạo nên các chất tham gia vào quá trình
phân chia, di truyền của tế bào vi khuẩn.
- Kháng sinh ức chế sự tổng hợp nên các axit nucleic: ADN và ARN. Các
kháng sinh này rất độc, dùng để chữa ung thư, ít dùng trong thú y.
-

Dựa theo cấu trúc hóa học
Phân loại theo cấu trúc hóa học là phương pháp khoa học nhất, đưa ra một

cái nhìn tổng quát nhất đối với các nhóm kháng sinh. Theo đó, kháng sinh được
phân thành 9 nhóm chính,[3]:
1) Các kháng sinh cacbonhydrat
Các saccarit thuần nhất

(nojimycin)

Các aminoglycosid

(streptomycin)

Các ortozomycin



3) Các kháng sinh quynon và dẫn xuất
Các tetracycline

(tetracyclin)

Các antracyclin

(adriamycin)

Các naftoquynon

(actinorodin)

Các benzoquynon

(mitomycin)

4) Các kháng sinh peptid và axit amin
Các dẫn xuất axit amin

(cycloserin)

Các kháng sinh β-lactam

(penicillin)

Các kháng sinh peptid

(bacitracin)

(monenzin)

7) Kháng sinh mạch vòng no
Các dẫn chất alkan

(cycloheximid)

Kháng sinh steroid

(axit fuzidic)

8) Kháng sinh chứa nhân thơm
Các dẫn chất benzen

(chloramphenicol)

Các chất nhân thơm ngưng tụ

(griseofulvin)

Các ete thơm

(novobiocin)

9) Các kháng sinh mạch thẳng
Các chất chứa P
-

(phosphomycin)


Kháng sinh có nguồn gốc từ sinh vật, xạ khuẩn.

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 8


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
-

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Nhóm kháng sinh có nguồn gốc hóa dược hay do con người tổng hợp

nên.
-

Dựa vào cơ chế tác dụng

Dựa vào cơ chế tác dụng người ta chia thành 2 nhóm:
Nhóm kháng sinh có tác dụng lên tế bào vi khuẩn gồm các kháng sinh:
-

Nhóm kháng sinh tác dụng lên quá trình tạo vách tế bào: Penicillin và

các chất thuộc nhóm β – lactamin, Vanomycin, Baxtracin…
-

Kháng sinh tác dụng lên màng tế bào. Các chất này làm rối loạn tính


- Cơ chế tác dụng của kháng sinh

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 9


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Các kháng sinh tác dụng cơ bản qua việc ức chế các phản ứng tổng hợp rất
khác nhau của tế bào vi sinh vật gây bệnh. Chúng liên kết vào các vị trí chính xác
hay các phân tử đích của tế bào vi sinh vật mà tạo ra các phản ứng trao đổi chất.Các
đích tác dụng đặc trưng cho từng nhóm kháng sinh, tuy nhiên trong nhiều trường
hợp người ta vẫn chưa biết được chính xác hết. Nhìn chung, có thể phân chia cơ chế
tác dụng của kháng sinh theo các nhóm kháng sinh như bảng 1:
Bảng 1. Cơ chế tác dụng của các kháng sinh
Nơi tác dụng
Thành tế bào

Kháng sinh

Quá trình bị ngăn cản

Loại tác dụng

Bacitracin

Tổng hợp mucopeptid

Chức năng của màng

Diệt nấm

Nystatin

Chức năng của màng

-

Polymycin

Tương tác của màng

Diệt khuẩn

Các Ribosom

Chloramphenicol

Tổng hợp protein

Kháng khuẩn

Tiểu phân 50S

Erythromycin

Tổng hợp protein


ADN hoặc

Mitomycinl

Tổng hợp ADN

Diệt nấm

ARN

Rifampin

Tổng hợp mARN

Diệt khuẩn

1.1.4.Các kháng sinh nhóm β – lactam
A. Định nghĩa

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 10


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Là các kháng sinh mà phân tử chứa vòng β-Lactam. Gồm các nhóm: penicillin,
cephalosporin, monobactam, cacbapenem trong đó hai nhóm sử dụng phổ biến và


VIỆN ĐẠI HỌC
CM
MỞ HÀ NỘI

CTHH:
Hình 1.33 Công thức cấu tạo kháng sinh Ampicilin
Kháng sinh Amoxycilin:là
Amoxycilin: thuốc kháng sinh cùng họ với penicilin
penicilin, nó ngăn
chặn và diệtt các loại
lo vi khuẩn gram dương nhưviêm họng,, da ttấy mũ hay
nhiễm
m trùng da, nhiễm
nhi trùng đường tiết niệu, viêm phổi...
CTPT :C16H19N3O5S
CTCT:(2S,5R,6R)- 6-{[(2R)
{[(2R)-2-amino- 2-(4-hydroxyphenyl)- acetyl]amino}acetyl]amino} 3,3dimethyl- 7-oxo- 4-thia- 1-azabicyclo[3.2.0]heptane- 24-carboxylic
carboxylic acid

CTHH:
Hình 1.4.
4. Công thức cấu tạo kháng sinh Amoxycilin
* Các cephalosporin
Các cephalosporin ccấu trúc chung gồm 2 vòng: vòng β-Lactam
Lactam 4 ccạnh gắn với
1 dị vòng 6 cạnh, những
ng cacbon bbất đối có cấuu hình 6R, 7R. Khác nhau bbởi các gốc
R.


Cơ chế:
Các penicilin có khả năng acyl hóa các D-alanin tranpeptidase, làm chi quá trình
tổng hợp peptidoglycan không được thực hiện.Sinh tổng hợp vách tế bào bị ngưng
lại. Ít tác dụng trên vi khuẩn gram (-). Mặc khác, các penicillin có hoạt hóa enzyme
tự phân giải murein hydroxylase làm tăng phân hủy vách tế bào, kết quả là vi khuẩn
bị tiêu diệt. Ngăn cản xây dựng và giảm độ bền của mang tế bào vi khuẩn nên chủ
yếu kìm hãm sự tồn tại và phát triển của vi khuẩn. Các kháng sinh β-lactam có hoạt
động phổ rộng.
Kháng thuốc:
Vi khuẩn sinh ra các β-lactam, là enzyme có tác dụng mở vòng β-lactam, theo
phản ứng ái nhân vào các nhóm C=O, làm kháng sinh mất tác dụng. Tất cả các
cách kháng không sinh ra β-lactamase để thực hiện gọi là kháng gian tiếp ( được gọi
là methicilllin)
SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 13


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Vi khuẩn thường phát triển kháng thuốc kháng sinh β-lactam bằng cách tổng hợp βlactamase , một enzyme tấn công vòng β-lactam. Để khắc phục sự đề kháng này,
thuốc kháng sinh β-lactam thường được dùng với các chất ức chế βlactamase nhưclavulanic acid .
1.2. Đại cương về xạ khuẩn
1.2.1 Đặc điểm chung của xạ khuẩn
Xạ khuẩn là một nhóm vi sinh vật rất đa dạng trong đó đa số sinh trưởng
hiếu khí và tạo khuẩn ty phân nhánh tương tự như nấm. Tên xạ khuẩn là
actinomycete, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “actys” (tia) và “mykes” (nấm). Ban đầu
xạ khuẩn được coi là nấm nhỏ vì chúng sinh trưởng giống với nấm.

muramic. Khi xử lý bằng lysozym, thành tế bào bị phá huỷ tạo thành thể sinh chất
(protoplast), cấu trúc sợi cũng bị phá huỷ khi xử lý tế bào với hỗn hợp este clorofom và các dung môi hoà tan lipit khác. Nguyên nhân là do lớp ngoài cùng có
cấu tạo chủ yếu bằng lipit (thành HSKS có nhiều lipit hơn so với HSCC) khác với
nấm. Thành tế bào xạ khuẩn không chứa xenlulozơ và kitin nhưng chứa nhiều
enzym tham gia vào quá trình trao đổi chất và quá trình vận chuyển vật chất qua
màng tế bào.
+ Căn cứ vào thành phần hoá học, thành tế bào xạ khuẩn được chia thành 4
nhóm chính.
-

Nhóm I: Thành phần chính của thành tế bào là axit L - 2,6 diaminopimelic (L
- ADP) và glyxin. Chi Streptomyces thuộc nhóm này.

-

Nhóm II: Thành phần chính của thành tế bào là axit meso - 2,6 diaminopimelic (m - ADP) và glyxin.

-

Nhóm III: Thành phần chính của thành tế bào là axit meso - 2,6 diaminopimelic.

-

Nhóm IV: Thành phần chính của thành tế bào là axit meso - 2,6 diaminopimelic, arabinozơ và galactozơ.
+Dưới lớp thành tế bào là màng sinh chất dày khoảng 50 nm được cấu tạo

chủ yếu bởi 2 thành phần là photpholipit và protein. Chúng có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình trao đổi chất và quá trình hình thành bào tử của xạ khuẩn.
+ Nguyên sinh chất và nhân tế bào xạ khuẩn không có khác biệt lớn so với tế
bào vi khuẩn. Tuy nhiên, điểm khác biệt của xạ khuẩn so với các sinh vật prokaryot

có nguồn gốc từ vi sinh vật nói chung và từ xạ khuẩn nói riêng là có tác dụng chọn
lọc. Mỗi chất kháng sinh chỉ có tác dụng với một nhóm vi sinh vật nhất định. Hầu
hết chất kháng sinh có nguồn gốc xạ khuẩn đều có phổ kháng khuẩn rộng.Khả năng
kháng khuẩn của các chất kháng sinh là một đặc điểm quan trọng để phân loại xạ
khuẩn. Có nhiều quan điểm khác nhau về khả năng hình thành chất kháng sinh,
nhưng có hai giả thuyết được ủng hộ hơn cả là:


Việc tổng hợp chất kháng sinh nhằm tạo ra ưu thế phát triển cạnh

tranh có lợi cho chủng sinh kháng sinh, nhờ đó chúng có thể tiêu diệt hay kìm hãm
được sự phát triển của các loài khác cùng tồn tại và phát triển trong hệ sinh thái cục
bộ đó.


Việc tổng hợp chất kháng sinh là một đặc tính cần thiết và đảm bảo

cho khả năng sống sót cao của chủng sinh ra chất kháng sinh trong tự nhiên, nhất là
các loài có bào tử. Mặc dù chất kháng sinh có cấu trúc khác nhau và vi sinh vật sinh
ra chúng cũng đa dạng, nhưng quá trình sinh tổng hợp chúng chỉ theo một số con
đường nhất định.
SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 16


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


kháng sinh.Nguồn nitơ vô cơ thường sử dụng là muối amon. Muối nitrat không
thích hợp cho sự sinh tổng hợp chất kháng sinh của nhiều chủng xạ khuẩn.
-

Ảnh hưởng của pH.
Sinh tổng hợp chất kháng sinh phụ thuộc rất nhiều vào pH môi trường. pH

tác động trực tiếp đến tính chất hệ keo của tế bào, đến hoạt lực của các enzym và tác
động gián tiếp qua môi trường. pH thích hợp cho sinh tổng hợp chất kháng

SVTH:NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

Page 17


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

sinhthường là trung tính, pH kiềm hay axit đều ức chế quá trình tổng hợp chất
kháng sinh.
-

. Ảnh hưởng của nhiệt độ.
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và khả năng tổng hợp chất

kháng sinh của xạ khuẩn. Đa số các xạ khuẩn phát triển tốt ở nhiệt độ 28 ÷ 300C,
nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng và tổng hợp chất kháng sinh thường chỉ nằm trong
khoảng 18 ÷ 280C.
-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status