BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
NGUYỄN VĂN ĐOÀN
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
NGUYỄN VĂN ĐOÀN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 60 38 01 07
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SỸ TRẦN QUANG HUY
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng, nhưng lĩnh vực nghiên cứu có tính chất
rất phức tạp, do đó kết quả nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để Luận văn này được
hoàn thiện hơn, được ứng dụng trong thực tế, góp phần hữu ích cho việc xây dựng
chính sách bồi thường, tái định cư trên địa bàn tỉnh Sơn La./.
Học viên thực hiện
Nguyễn Văn Đoàn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Diễn giải
THĐ
Thu hồi đất
TĐC
Tái định cư
GPMB
Giải phóng mặt bằng
UBND
Ủy ban nhân dân
2.1.2. Các hình thức bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ..........................................................26
2.1.3. Điều kiện được hưởng chính sách tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ...................27
2.1.4. Trình tự, thủ tục thực hiện tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ................................................28
2.1.5. Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác tái định cư .................................................31
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Sơn La33
2.2.1. Tổng quan về tỉnh Sơn La và các dự án tái định cư trên địa bàn ...............................................33
2.2.2. Thực tiễn triển khai tại một số dự án điển hình .............................................................................34
2.2.3. Đánh giá về tình hình thực hiện tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Sơn La
.........................................................................................................................................................................42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .......................................................................................................................48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT...........49
3.1. Một số bài học kinh nghiệm................................................................................................................49
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
.........................................................................................................................................................................53
3.2.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng và thực thi pháp luật về tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất.........................................................................................................53
3.2.2. Một số yêu cầu đặt ra khi hoàn thiện pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất ...................................................................................................................................................................54
3.2.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất .....................55
3.2.4. Một số giải pháp khác.......................................................................................................................62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .......................................................................................................................67
KẾT LUẬN.................................................................................................................................................68
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc quy hoạch và điều
chỉnh quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đối với các vùng kinh tế, để đảm bảo phát
huy lợi thế vùng và sự phát triển cân bằng, bền vững của toàn bộ nền kinh tế - xã hội
1,135 triệu người, gồm 12 dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc ít người, cuộc sống gắn
bó với văn hóa cộng đồng dòng tộc, tập quán sản xuất gắn với đặc điểm địa lý ở khu
vực dọc dòng sông Đà và vùng núi cao biên giới giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào. Do đó, việc quy hoạch kinh tế - xã hội và đưa bà con về sinh sống và phát
triển sản xuất ở các điểm quy hoạch dân cư tập trung là rất khó khăn. Mặc dù vậy, để
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm gần đây, việc quy hoạch,
bố trí lại các điểm, khu dân cư đã được tỉnh Sơn La triển khai thực hiện. Đặc biệt, ngày
29/6/2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 44/2001/QH10 về chủ trương đầu tư Dự
án Nhà máy thủy điện Sơn La. Đây là công trình trọng điểm quốc gia, có quy mô và
công suất phát điện lớn nhất Đông Nam Á (2.400MW). Đây là dự án có tác động to
lớn về mọi mặt đối với đời sống - xã hội của nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, cũng là
dự án điển hình về thực hiện TĐC khi Nhà nước THĐ ở tỉnh Sơn La. Để triển khai dự
án này, tỉnh Sơn La phải tiến hành di chuyển 58.337 nhân khẩu, thuộc 169 bản, 18 đơn
vị hành chính cấp xã; bố trí 70 khu, 276 điểm tái định cư tại 08/12 huyện, thành phố
thuộc tỉnh [40, tr 1].
Với quy mô và phạm vi ảnh hưởng lớn như vậy, việc làm thế nào để thực hiện
tốt công tác TĐC ổn định đời sống của những người dân phải di chuyển trở thành
nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, luôn nhận được sự quan tâm sát sao của các
cấp chính quyền tỉnh Sơn La, đồng thời cũng là mối quan tâm mang tính thời sự của
đông đảo các tầng lớp nhân dân tỉnh Sơn La. Chính vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu các
quy định của pháp luật về vấn đề TĐC khi Nhà nước THĐ, đồng thời dựa trên kết quả
nghiên cứu thực tiễn công tác TĐC trên địa bàn tỉnh Sơn La để đánh giá tính hiệu lực,
hiệu quả của các quy định điều chỉnh về vấn đề này, qua đó đóng góp một phần ý kiến
về giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan, phục vụ cho việc thực
hiện công tác TĐC trên địa bàn tỉnh Sơn La, cũng như công tác TĐC khi Nhà nước
2
THĐ nói chung, thì đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về dung lượng và thời gian nghiên cứu, tác giả giới hạn đối tượng
và phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
TĐC khi Nhà nước THĐ;
- Nghiên cứu các quy định hiện hành về TĐC khi Nhà nước THĐ;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về TĐC khi Nhà nước
THĐ trên địa bàn tỉnh Sơn La.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Với mong muốn làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về TĐC khi Nhà nước THĐ ở,
đối chiếu giữa thực tế của hoạt động TĐC và các quy phạm pháp luật hiện hành, chỉ ra
được những vướng mắc, bất cập, hạn chế, yếu kém trong công tác thực hiện tái định
cư. Qua đó, đề xuất những giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập, khắc phục hạn chế,
yếu kém nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này. Đồng thời kiến nghị các giải pháp
hoàn thiện pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ ở tỉnh Sơn La nói riêng và hoàn thiện
pháp luật đất đai nói chung.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về TĐC và pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ.
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về tái định cư từ thực tiễn thi hành
trên địa bàn tỉnh Sơn La.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về TĐC khi Nhà
nước THĐ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước ta về đất đai trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
quốc tế. Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp
tổng hợp; phương pháp phân tích, đánh giá; phương pháp hệ thống; phương pháp lịch
4
CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT
VỀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái quát chung về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1.1. Thu hồi đất
"Thu hồi", theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng nghĩa là: "Lấy lại cái đã đưa ra,
đã cấp phát ra hoặc bị người khác lấy" [3, tr 759]. Như vậy, thu hồi là một hành vi của
chủ thể có quyền năng được thừa nhận trong việc định đoạt số phận của cái thuộc về
mình, sau khi đã để chủ thể khác khai thác, sử dụng.
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu,
nắm giữ quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai. Do đó, "Thu hồi đất" là khái
niệm gắn liền với hành vi pháp lý của Nhà nước.
Theo Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: "THĐ là văn
bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ
pháp luật đất đai để phục vụ cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành
chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất" [8, tr 141].
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, THĐ được hiểu là "Các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử
dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất
hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước THĐ đang sử dụng của
người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng" [5, tr 186].
Định nghĩa trên cho thấy, các nhà khoa học mới chỉ đề cập các trường hợp THĐ
mà chưa làm rõ nội hàm của khái niệm THĐ là gì. Mặt khác, sự liệt kê nêu trên cũng
chưa bao quát hết các trường hợp THĐ của Nhà nước. Nhà nước không chỉ THĐ của
người có hành vi vi phạm về sử dụng đất hay THĐ để sử dụng vào mục đích quốc
6
Đây là các trường hợp THĐ do lỗi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng
đất gây ra (Điều 64 Luật Đất đai năm 2013). Ví dụ: Sử dụng đất không đúng mục đích
đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;
người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;... Các trường hợp THĐ này, người sử dụng đất
không được bồi thường, hỗ trợ, TĐC.
1.1.1.2. Tái định cư
Theo "Đại từ điển Tiếng Việt" do Nguyễn Như Ý chủ biên thì: "tái: hai lần hoặc
lần thứ hai; lại một lần nữa" [1, tr 1485]; "định cư: ở lại một nơi nhất định để sinh sống
và làm ăn, phân biệt với du cư" [1, tr 641]. Như vậy, có thể hiểu TĐC là việc một lần
nữa chuyển đến một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn ổn định. Theo cách hiểu này,
TĐC có thể là hoạt động có chủ đích của Nhà nước để phục vụ các mục tiêu kinh tế xã hội, cũng có thể là hoạt động tự phát của một cá nhân riêng lẻ hay của một cộng
đồng dân cư.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới được ghi nhận trong Khung chính sách
TĐC thuộc khuôn khổ Dự án cải thiện nông nghiệp có tưới (dự án VIAIP): "TĐC bao
hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây ra bởi việc thu hồi đất và
hạn chế sự tiếp cận, cùng với các biện pháp đền bù và sửa chữa" [31, tr 6].
Trong một số công trình nghiên cứu khác, một số tác giả đưa ra định nghĩa vể
khái niệm TĐC như một hành vi gắn liền với việc Nhà nước THĐ. Theo tác giả Phạm
Thu Thủy: “tái định cư chỉ đặt ra khi người sử dụng đất bị thu hồi đất ở, khi đó họ được
Nhà nước thu xếp chỗ ở mới bằng việc tái định cư, có thể là bằng một diện tích đất ở
mới hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư hoặc bằng tiền để lo chỗ ở mới" [24, tr 54-55].
Theo tác giả Trịnh Thị Hằng Nga: "TĐC là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống
cho các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án, khi mà đất định cư cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi
không hết, mảnh còn lại không đủ điều kiện để ở lại nơi cũ, phải di chuyển đến nơi ở
mới" [32, tr 66].
8
9
Từ những phân tích trên đây cho thấy, dù được tiếp cận ở góc độ khác nhau
(góc độ ngôn ngữ học, kinh tế - xã hội học hay khoa học pháp lý) để đưa ra định nghĩa
không hoàn toàn đồng nhất với nhau về khái niệm TĐC, các cách định nghĩa này đều
phản ánh đặc điểm chung của TĐC như sau:
- Xác định địa điểm và bố trí nơi ở mới;
- Người dân dời nơi ở cũ đến nơi ở mới;
- Ổn định lại cuộc sống tại nơi ở mới.
Từ đặc điểm chung này, có thể đưa ra định nghĩa về TĐC như sau: Tái định cư
là hoạt động ổn định lại cuộc sống của một cá thể hay một cộng đồng dân cư tại nơi ở
mới sau khi di chuyển khỏi nơi ở cũ.
Hoạt động này có thể là hoạt động tự phát, được thực hiện bởi một cá thể đơn lẻ
hoặc bởi một cộng đồng dân cư, cũng có thể là một hoạt động có tổ chức mang tính
chủ động của Nhà nước. Nhưng dù là hành vi mang tính tự phát của dân cư hay hành
vi có tính chủ đích của Nhà nước thì hoạt động đó vẫn bao gồm hoạt động di chuyển
dân cư từ nơi ở cũ đến nơi ở mới và các hoạt động khác nhằm ổn định lại cuộc sống
của dân cư tại nơi ở mới.
1.1.1.3. Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Cũng tương tự như khái niệm TĐC và THĐ đã được trình bày ở trên, mặc dù
được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện truyền thông, trong các văn bản của các
cơ quan quản lý nhà nước, trong các ấn phẩm nghiên cứu, nhất là trong các văn bản
pháp luật về đất đai, nhưng cho đến nay, thuật ngữ "Tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất" cũng chưa được định nghĩa chính thức và ghi nhận trong bất cứ một tài liệu nào.
Tuy nhiên, qua các phân tích về khái niệm THĐ và TĐC ở trên cho thấy, TĐC
khi Nhà nước THĐ là hành vi có chủ đích do Nhà nước thực hiện, nhằm bảo đảm cho
người bị THĐ ổn định lại cuộc sống sau khi Nhà nước thu hồi diện tích đất ở mà họ
đang sử dụng. Hay nói theo một cách khác, TĐC khi Nhà nước THĐ là hoạt động
TĐC do Nhà nước thực hiện có chủ đích, gắn với việc Nhà nước THĐ ở đã giao cho
gây dựng được. Vì lợi ích chung của cộng đồng mà họ phải dời bỏ tất cả những thứ đó
để gây dựng lại từ đầu, ở một nơi vốn không quen thuộc với họ. Mặt khác, những vấn
đề cấp thiết mà họ phải giải quyết ngay để ổn định lại cuộc sống của bản thân và gia
12
đình như: Chỗ ở, việc làm, trường học cho con,...vốn dĩ là những vấn đề không dễ giải
quyết được ngay cả đối với những người đang có nơi cư trú ổn định. Nếu những vấn
đề đó không được giải quyết kịp thời, nhất là trong trường hợp cùng lúc có nhiều
người, nhiều hộ gia đình rơi vào hoàn cảnh đó, thì sẽ gây ra những hiệu ứng tiêu cực
trong xã hội, thậm chí gây ra những bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Chính vì vậy, với vai trò là chủ thể quản lý xã hội và là chủ thể trực tiếp tạo ra
hoàn cảnh đó, Nhà nước có trách nhiệm thực hiện những giải pháp để đảm bảo cho
những người bị THĐ sớm ổn định lại cuộc sống, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người dân khi bị THĐ ở, nhà ở, đồng thời giúp Nhà nước thực hiện có hiệu quả
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của từng
địa phương và của đất nước nói chung. Muốn làm được điều đó, Nhà nước phải xây
dựng được một hệ thống các chính sách với những giải pháp, quy định đầy đủ, rõ ràng,
chặt chẽ, công bằng để tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan Nhà nước và cộng đồng cùng
chung tay hỗ trợ, giúp đỡ những người bị THĐ ổn định lại cuộc sống của họ, góp phần
ổn định trật tự, an ninh xã hội.
1.1.2.2. Quan điểm của Đảng và sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng trong chính sách của
Nhà nước về vấn đề tái định cư
Chính sách, pháp luật về đất đai nói chung đã được Đảng, Nhà nước ta quan
tâm từ rất sớm. Riêng nội dung về vấn đề TĐC được quan tâm nhiều hơn và có những
văn bản đề cập cụ thể hơn từ giai đoạn đất nước ta thực hiện chủ trương Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Văn bản điển hình thể hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà
nước ta về vấn đề TĐC là Luật đất đai năm 1993, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
12/3/2003 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới
- Đối với người bị THĐ:
Hơn ai hết trong số các chủ thể trực tiếp liên quan đến quá trình thực hiện công
tác THĐ và TĐC, người bị THĐ là người chịu thiệt thòi hơn cả. Trong các trường hợp
THĐ phải bố trí TĐC, người bị THĐ phải từ bỏ hoàn toàn diện tích đất ở, đất canh tác
14
cùng toàn bộ tài sản cố định, cây trồng trên diện tích đất đó; cơ sở vật chất và môi
trường tự nhiên và xã hội quen thuộc để họ sinh sống, lao động nuôi sống bản thân và
gia đình trong suốt thời gian trước đó sẽ không còn. Sự kiện này chắc chắn gây ra sự
xáo trộn không nhỏ đối với cuộc sống của họ, đặc biệt là những người nông dân, bởi
thói quen sinh hoạt và sản xuất của họ vốn gắn liền với đặc điểm tự nhiên của nơi họ
đang sinh sống, thậm chí là đã gắn bó qua nhiều thế hệ của gia đình họ. Việc đột nhiên
phải thay đổi nơi sinh sống và điều kiện làm việc của cả gia đình, chắc chắn sẽ gây cho
họ rất nhiều khó khăn nếu như họ phải tự xoay sở hoàn toàn. Do đó, nếu chính sách
TĐC được xây dựng và triển khai phù hợp sẽ nhận được sự đồng thuận từ người dân,
tạo được hiệu ứng lan truyền tích cực trong cộng đồng những người bị THĐ cũng như
trong dư luận xã hội, từ đó sẽ giúp cho quá trình triển khai THĐ và bố trí TĐC được
thực hiện nhanh chóng, đạt được mục tiêu mà Nhà nước đã đặt ra. Ngược lại, nếu
chính sách THĐ và TĐC không phù hợp với tình hình thực tiễn, sẽ gây bức xúc cho
người bị THĐ, dẫn đến việc họ phản ứng tiêu cực, khiếu kiện, thậm chí có thể dẫn đến
gây mất an ninh trật tự, mất ổn định chính trị.
- Đối với Nhà nước:
Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm
mục tiêu phát triển xã hội, việc Nhà nước THĐ và bố trí TĐC cho người bị THĐ cũng
là nhằm mục tiêu quy hoạch lại kinh tế - xã hội phục vụ sự phát triển; Nhà nước cũng
là chủ thể ban hành chính sách và tổ chức thực hiện chính sách về THĐ và TĐC. Do
đó, khi xây dựng được chính sách THĐ và TĐC phù hợp, Nhà nước sẽ nhận được sự
đồng thuận của người dân, điều đó sẽ tạo thuận lợi cho các cơ quan Nhà nước trong
hội, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng cho
người bị THĐ, để họ có được những điều kiện cơ bản cho việc ổn định lại cuộc sống
tại nơi ở mới.
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra định nghĩa cho khái niệm "Pháp luật
về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất" như sau: "Pháp luật về TĐC khi Nhà nước
THĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình Nhà nước thực hiện THĐ, nhằm đảm bảo cho người bị THĐ có đất ở,
16
nhà ở mới và ổn định cuộc sống sau khi Nhà nước THĐ, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích
của Nhà nước, của người bị THĐ và của nhà đầu tư".
1.2.2. Cấu thành cơ bản của pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Về cơ bản, hệ thống pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ được cấu thành bởi
các nhóm quy phạm pháp luật sau đây:
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định về các nguyên tắc thực hiện TĐC
Nhóm này gồm các quy phạm pháp luật thể hiện quan điểm mang tính nền tảng,
định hướng cho việc tổ chức triển khai thực hiện, nhằm đảm bảo cho công tác TĐC
được thực hiện thống nhất, khách quan, minh bạch, công bằng.
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định về các hình thức TĐC
Nhóm này gồm các quy phạm pháp luật nhằm thống nhất những hình thức thực
hiện TĐC, nhưng vẫn đảm bảo tạo sự linh hoạt cho các địa phương trong việc lựa chọn
hình thức áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế về quỹ đất, về quy mô TĐC, về đặc
điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương, cũng như tạo sự thuận lợi cho người bị
THĐ trong việc lựa chọn hình thức TĐC phù hợp nhất cho mình.
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định về điều kiện được TĐC
Nhóm này gồm các quy phạm pháp luật quy định về đối tượng và các điều kiện
cụ thể đi kèm để được hưởng chính sách TĐC. Các quy định này nhằm tránh sự tùy
tiện trong việc áp dụng chính sách, đảm bảo sự minh bạch, công bằng trong thực hiện
Với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, một nguyên tắc hết sức cơ bản đã được
ghi nhận là: "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cải, thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác" (Điều 18) và "chỉ khi nào
thật cần thiết vì lợi ích chung, Nhà nước mới trưng mua hoặc trưng dụng, trưng thu có
bồi thường thích đáng các tư liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn trong phạm vi và
điều kiện do pháp luật quy định" (Điều 20).
Sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, với sự ghi nhận đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước thống nhất quản lý (điều 19), ở Việt Nam chỉ còn thừa nhận một hình
thức sở hữu duy nhất đối với đất đai, đó là sở hữu toàn dân và Nhà nước sẽ thay mặt
18