Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của dự án formosa trên địa bàn huyện kỳ anh, tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2008 2012 - Pdf 27


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VIẾT HOÀNG

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƢỜNG
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ
KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT CỦA DỰ ÁN FORMOSA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TỈNH
GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - 2014


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi. Những số
liệu, kết quả thu được trong luận văn trung thực, chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu, báo cáo nào. Tất cả những giúp đỡ trong
khi thực hiện đề tài đều đã được cảm ơn. Các thông tin trích dẫn đều chỉ rõ
nguồn gốc. Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường và
Pháp luật.
Kỳ Anh, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Lê Viết Hoàng
Lê Viết Hoàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỬ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Mục tiêu của đề tài 3
4. Yêu cầu của đề tài 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CỦA TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 4
1.1.1. Khái niệm về bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái
định cư 4
1.1.2. Đặc điểm của quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng 5
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường GPMB 6
1.1.4. Vận dụng lý luận địa tô của Các Mác vào việc định giá bồi
thường thiệt hại đất và tài sản gắn liền với đất 12
1.1.5. Về tái định cư 13
1.2. Chính sách bồi thường đất đai ở một số nước trên thế giới 16

3.3. Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường giải phóng mặt
bằng, hỗ trợ và tái định cư ở huyện Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tĩnh 46
3.3.1. Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường 46

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v
3.3.2. Việc xác định giá bồi thường về đất và tài sản trên đất theo Nghị
định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ 49
3.3.3. Các chính sách hỗ trợ và tái định cư 51
3.4. Đánh giá dự án nghiên cứu và các chính sách liên quan đến bồi
thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ TĐC trên địa bàn huyện Kỳ Anh,
Tỉnh Hà Tĩnh 55
3.4.1. Khái quát về dự án nghiên cứu 55
3.4.2. Đối tượng và điều kiện được bồi thường ở dự án FORMOSA
(khu liên hợp gang thép và cảng nước sau Sơn Dương) trên địa bàn
huyện Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tĩnh 65
3.4.3. Ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng
mặt bằng đến đời sống và việc làm, thu nhập của các hộ dân bị thu hồi
đất 72
3.4.4. Đánh giá chung việc thực hiện công tác bồi thường, GPMB, hỗ
trợ và tái định cư tại dự án nghiên cứu 84
3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường,
GPMB, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Kỳ Anh 87
3.5.1. Các giải pháp chung 87
3.5.2. Các giải pháp cụ thể 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1. Kết luận 92
2. Đề nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

: Đô thị hóa
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
CSHT
: Cơ sở hạ tầng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

vii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Kỳ Anh giai đoạn
2008 - 2012 37
Bảng 3.2: Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ của dự án Formosa (khu liên hợp
gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương) 56
Bảng 3.3: Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc xác định đối
tượng và điều kiện được bồi thường tại dự án 67
Bảng 3.4: Tỷ lệ các loại đất thu hồi tại dự án Formosa 68
Bảng 3.5: Quan điểm của người có đất bị thu hồi về giá bồi thường 69
Bảng 3.6: Chính sách hỗ trợ của Nhà nước 70
Bảng 3.7: Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các
chính sách hỗ trợ và TĐC tại dự án nghiên cứu 71
Bảng 3.8: Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi của các hộ dân tại dự án
nghiên cứu 74
Bảng 3.9: Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ dân tại
dự án nghiên cứu 75
Bảng 3.10: Hiệu quả sử dụng tiền bồi thường 76
Bảng 3.11: Trình độ văn hoá, chuyên môn của số người trong độ tuổi lao
động tại dự án nghiên cứu 78

tiêu phát triển các khu công nghiệp, các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội và
hạ tầng cho các đô thị mới.
Để triển khai được các dự án này chúng ta buộc phải sử dụng tới quỹ
đất đã và đang được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đất sản xuất
nông, lâm, thủy sản, đất ở của nhân dân, đất sử dụng vào các hoạt động sản
xuất kinh doanh, đất của các tổ chức do vậy việc thực hiện chuyển đổi mục
đích sử dụng của một bộ phận quỹ đất hiện nay vào việc triển khai các dự án
như nói trên đang diễn ra ngày một nhiều hơn theo yêu cầu phát triển cơ sở hạ
tầng cho CNH, HĐH và đô thị hóa nền kinh tế.
Việc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa sẽ đòi hỏi phải xây
dựng nhiều loại kết cấu hạ tầng như: Đường giao thông, cầu cống, hệ thống
thông tin, kho tàng, bến bãi Quỹ đất dành vào các mục đích này sẽ ngày
càng nhiều và lớn hơn khi các cơ sở hạ tầng quy mô lớn được triển khai.
Việc chuyển đổi mục đích từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
mà đặc biệt là đất chuyên dùng đang là vấn đề được nhiều cơ quan quản lý
Nhà nước về đất đai và người dân quan tâm.
Trên thực tế, việc chuyển quỹ đất vào triển khai các dự án không đơn
giản, vì nó tác động đến nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của người dân
bị thu hồi đất. Có thể nói, đây là một thách thức rất lớn đối với việc triển khai
các dự án hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn đề liên
quan đến người dân bị mất đất như: Đời sống, việc làm của người dân bị lấy
đất, hỗ trợ tái định cư và việc xác định giá trị phần đất đai bị lấy của người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
dân phải được xác định như thế nào để thoả mãn thiệt hại mà họ phải gánh
chịu, giải quyết ổn thỏa tâm trạng của người dân sau khi bị mất đất cũng là
những vấn đề vô cùng quan trọng v.v.
Cùng với quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ

3. Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu tình hình quản lý và sử dụng đất, các chính sách liên quan
đến bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tĩnh.
- Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường giải phóng mặt
bằng ở huyện Kỳ Anh, Tỉnh Hà Tĩnh và sự tác động của việc thực hiện chính
sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của các hộ dân
bị thu hồi đất.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường
giải phóng mặt bằng ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Yêu cầu của đề tài
- Nắm chắc luật đất đai, các thông tư, nghị định, các quy định của Nhà
nước và địa phương có liên quan đến công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ và
tái định cư.
- Làm rõ những mặt được và mặt chưa được của người dân khi bị thu
hồi đất tại dự án nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp giải quyết trên cơ sở các Nghị định, Quy định
và phù hợp với thực tế địa phương.
- Các tài liệu, số liệu điều tra, thu thập phản ánh đúng quá trình thực
hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong thời gian qua và có
độ chính xác cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
Chƣơng 1

Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây
để sinh sống và làm ăn. Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể
tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự
án phát triển.
Tái định cư (TĐC) được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về
đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại
cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó.
1.1.2. Đặc điểm của quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp. Nó thể hiện
khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các
bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất
khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định.
Đối với khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ
dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một
đặc trưng riêng của vùng đó. Do đó, giải phóng mặt bằng cũng được tiến hành
với những đặc điểm riêng biệt.
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt, có vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân. Ở khu vực
nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà
đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông
dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư
vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi
nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê. Trước tình hình đó
đã dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển là rất
khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo
đời sống dân cư sau này [10].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu



7
cho việc phát triển các dự án đầu tư. Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn
định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi
thường GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiễn triển khai cho
thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường GPMB, hỗ trợ và tái định
cư. Hệ thống văn bản pháp luật đất đai còn có những nhược điểm như là số
lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ
thống chưa đồng bộ, chặt chẽ gây lúng túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong
thực thi pháp luật [11].
Bên cạnh việc Hội đồng ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử
dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan
trọng. Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2007 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường cho thấy UBND các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi
pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung
còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu. Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp
dụng pháp luật trong giải quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Trong khi
đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa thật sát
sao. Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn
chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai.
Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát
hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
trên địa bàn. Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây
mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực
tiếp đến tiến độ GPMB [15].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

9
khăn cho công tác đền bù. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường
tính từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến ngày 28/2/2007 thì tổng diện tích đã
giao, đã cho thuê là 1.081.011 ha, trong đó diện tích đất đã giao là 925.631 ha
(giao đất có thu tiền sử dụng đất là 581.620 ha, giao đất không thu tiền là
344.011 ha); diện tích đất đã cho thuê là 155.380 ha (trong đó diện tích đất
cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê là 1.386 ha) [15].
d. Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính (HSĐC) có vai trò
quan trọng hàng đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động
sản”, là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai. Trước tháng 12 năm 2004, rất
nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định; đặc biệt có nhiều xã,
phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính (khoảng trên 30% số xã đã cấp GCN)
để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập
đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCN như Thành phố Hà Nội, các tỉnh Hà Tây,
Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Kiên Giang, Trà Vinh, [15].
Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC phải được thực hiện theo quy định
tại Thông tư 29/2004/TT-BTNMT của Bộ tài nguyên và Môi trường, nhưng còn
nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chưa đầy
đủ, chưa đồng bộ ở cả 3 cấp. Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này có độ chính xác
thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như
không đủ cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất. Vì vậy, việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính
quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại HSĐC là rất cần thiết.
e. Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai (Land Registration) là một thành phần cơ bản quan
trọng nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền
sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu

ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

11
khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng và Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4
năm 1998 của Chính phủ Hội đồng hành quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng Giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu
hồi đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định trên cơ sở
khung giá đất do Chính phủ Hội đồng hành kèm theo Nghị định số 87/CP.
Khung giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại
Nghị định số 87/CP đã được áp dụng trong một thời gian khá dài (trên mười
năm), mặc dù trong quá trình áp dụng có quy định việc điều chỉnh khung giá
đất để tính bồi thường bằng hệ số K nhưng mức tăng cao nhất cũng chỉ là 1, 2 lần
đối với đất nông nghiệp hạng I. Do vậy giá đất để tính bồi hường vẫn thấp hơn
nhiều so với giá thực tế, dẫn đến phát sinh hàng loạt các khiếu kiện về bồi
thường, giải phóng mặt bằng tại các địa phương [20].
Từ khi có Luật đất đai 2003: Quy định giá đất được hình thành trong
các trường hợp sau đây (Điều 55): Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương quy định giá theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của
Luật này; Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi
thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Những vấn đề quan trọng, có tính nguyên tắc liên quan đến xác định
giá đất, bồi hường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được quy định khá cụ
thể tại Luật đất đai năm 2003. Đặc biệt, việc xác định giá đất được thực hiện
theo nguyên tắc "sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường

phì nhiêu và vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho
người sử dụng đất. Độ phì nhiêu và vị trí đất đai ở đây bao gồm cả các yếu tố
tự nhiên và nhân tạo, tức là các chi phí đầu tư của con người làm thay đổi độ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
phì nhiêu và vị trí của mảnh đất được sử dụng cũng được tính đến. Bởi vậy,
để tính mức đền bù cho người sử dụng đất bị thu hồi, nên căn cứ vào các yếu
tố sau đây:
- Loại đất bị thu hồi: dựa vào phân loại đất theo quy định của pháp luật
hiện hành như đất nông nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng. Cần lưu ý tới yếu tố
nhân tạo, tức là vai trò của con người tác động vào đất đai. Ví dụ đối với đất
nông nghiệp thì ngoài yếu tố độ phì tự nhiên, cần chú ý đến độ phì nhân tạo,
tức là địa tô chênh lệch II. Với những yếu tố nhân tạo cần xem xét đến vai trò
đầu tư của Nhà nước cũng như của người sử dụng đất.
- Căn cứ vào loại công trình: mức đền bù được tính toán phù hợp với
giá trị công trình gắn liền với đất theo mục đích sử dụng đất được pháp luật
quy định. Việc căn cứ vào loại công trình để tính toán mức bồi thường thiệt
hại phải trả cho người bị thu hồi đất sẽ làm cho các chủ dự án tính toán kỹ
lượng nhằm tiết kiệm chi phí.
Ủy ban nhân dân các cấp và chủ dự án là những người trực tiếp xem xét
các yếu tố, điều kiện liên quan tới việc quy định mức giá bồi thường thiệt hại
về đất và tài sản gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất [11].
1.1.5. Về tái định cư
Tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắn
liền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những
người dân bị thu hồi đất để xây dựng các dự án. Tái định cư còn bao gồm
hàng loạt các hoạt động nhằm hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng do việc thực
hiện dự án gây ra, nhằm khôi phục và cải thiện mức sống, tạo điều kiện phát

nghĩa vụ gì. Họ không vào các khu TĐC mà yêu cầu bồi thường bằng tiền để
tự lo chỗ ở mới dẫn đến tình trạng thừa chỗ trong các khu TĐC.
- Chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên có liên quan
trong việc xây dựng khu TĐC, nên có tình trạng khoán trắng cho chủ dự án
dẫn đến có những công trình TĐC chất lượng không đảm bảo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
- Ổn định đời sống và phong tục tập quán của người dân: phải xây dựng
khu TĐC với điều kiện sống cao hơn so với trước khi di dời. Mặt khác, phải
quan tâm đến phong tục, tập quán trong nhóm người, quan hệ họ hàng, cộng
đồng. Đối với khu TĐC cần xây dựng các quy định về lối sống, an ninh trật tự,
tạo sự yên tâm cho người mới chuyển đến.
Những tồn tại trên đây khó tránh khỏi trong quá trình CNH, HĐH phát
triển đất nước, một khi các chính sách của Nhà nước chưa đồng bộ, nhận thức
của các cấp, các ngành về TĐC chưa đầy đủ.
1.1.5.2. Vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp
Đa số các hộ bị thu hồi đất sống bằng nghề buôn bán nhỏ và sản xuất
nông nghiệp, không có khả năng nghề nghiệp nhất định do đó thu nhập không
ổn định.
Việc chuyển đổi nghề nghiệp cho những người bị thu hồi đất gặp rất
nhiều khó khăn. Trong những năm trước đây, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề
nghiệp không được các chủ dự án quan tâm đã gây bất lợi cho đời sống của
những người dân bị thu hồi đất mà kế sinh nhai của họ là gắn liền với đất,
nhiều dự án thực hiện công tác hỗ trợ việc làm thông qua viện trợ bằng cách
là cấp một khoản tiền nhất định. Khoản tiền này sẽ phát huy tác dụng khác
nhau: với người năng động hoặc có khả năng thì nó được đầu tư sinh lợi,
ngược lại với một số người khác thì khoản tiền đó được tiêu dùng cho sinh
hoạt cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó dẫn đến hết tiền,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status