đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI THỊ LOAN
“Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện
Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010”

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60 62 16 LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chương 2. Tổng quan tài liệu 3
2.1.Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất 4
2.1.1. Khái niệm về bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư 4
2.1.2. Đặc điểm của quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng 5
2.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường GPMB 6
2.1.3.1. Yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai 6
2.1.3.2. Yếu tố giá đất và định giá đất 10
2.1.4. Vận dụng lý luận địa tô của Các Mác vào việc định giá bồi thường thiệt hại đất và tài
sản gắn liền với đất 11
2.1.5. Về tái định cư 12
2.1.5.1. Vấn đề ổn định nơi ở 12
2.1.5.2. Vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp 13
2.2. Chính sách bồi thường đất đai ở một số nước trên thế giới . 14
2.2.1. Chính sách bồi thường đất đai ở Trung Quốc 14
2.2.2. Chính sách bồi thường đất đai ở Thái Lan 15
2.3. Cơ sở thực tiễn về công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ và TĐC 16
2.3.1. Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, GPMB, hỗ trợ và TĐC ở Việt Nam 16
2.3.2. Thực trạng công tác bồi thường GPMB, hỗ trợ và TĐC ở một số địa phương 22
2.3.2.1. Thành phố Hà Nội 22
2.3.2.2. Thành phố Hải Phòng 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.3.3. Thực trạng công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ và TĐC của tỉnh Thái Nguyên 24
2.3.4. Thực trạng công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ và TĐC của huyện Đồng Hỷ 25
Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1. Đối tượng nghiên cứu 28
3.2. Phạm vi nghiên cứu 28
3.3. Nội dung nghiên cứu 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4.4.1.1. Đối tượng được hưởng bồi thường và tái định cư gồm 55
4.4.1.2. Điều kiện để được bồi thường thiệt hại về đất 55
4.4.1.3. Điều kiện để được bồi thường về tài sản trên đất 56
4.4.1.4. Các điều kiện không được bồi thường thiệt hại về đất, tài sản trên đất 57
4.4.2. Kết quả điều tra, xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường ở 3 dự án trên địa
bàn huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên 57
4.4.2.1. Dự án đầu tư xây dựng công trình khai thác Mỏ sắt Đại Khai, xã Minh Lập, huyện
Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên 57
4.4.2.2. Dự án đầu tư xây dựng công trình Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Đồng Hỷ 59
4.4.2.3. Dự án khai thác và chế biến quặng sắt mỏ sắt Tiến Bộ xã Linh Sơn 59
4.4.2.4. Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tượng và điều kiện
được bồi thường tại 03 dự án nghiên cứu 61
4.4.3. Việc xác định giá bồi thường về đất và tài sản trên đất theo Nghị định số
69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ 63
4.4.3.1. Bồi thường thiệt hại về đất 63
4.4.3.2. Bồi thường thiệt hại các tài sản trên đất 64
4.4.3.3. Kết quả thực hiện cụ thể tại 3 dự án 64
4.4.4. Các chính sách hỗ trợ và tái định cư 67
4.4.4.1. Hỗ trợ để ổn định đời sống 67
4.4.4.2. Hỗ trợ tái định cư 67
4.4.4.3. Kết quả thực hiện cụ thể tại 3 dự án 68
4.5. Tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống
và việc làm, thu nhập của các hộ dân bị thu hồi đất 70
4.5.1. Tình hình chung về bồi thường, hỗ trợ 70
4.5.2. Đánh giá tác động của công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ TĐC đến đời sống, việc
làm và thu nhập của người bị thu hồi đất tại 03 dự án nghiên cứu 71
4.5.2.1. Tác động đến đời sống của người dân sau khi thu hồi đất 71
4.5.2.2. Tác động đến việc làm của người dân sau khi thu hồi đất 73


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu
Chú giải

Nghị định
CP
Chính phủ
TW
Trung ương
UBND
Uỷ ban nhân dân
QĐ - UBND
Quyết định của Uỷ ban nhân dân
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
GPMB
Giải phóng mặt bằng
Bùi Thị Loan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều thầy cô Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên và các Lãnh đạo, đồng nghiệp nơi tôi công tác.
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, Tiến sĩ Dư Ngọc
Thành người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên, tập thể giáo viên khoa sau Đại học, Khoa Tài nguyên và
Môi trường; Lãnh đạo, các đồng chí, đồng nghiệp phòng Tài nguyên & Môi
trường, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng, Phòng Thống kê huyện Đồng
Hỷ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
trên địa bàn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng
nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp tôi trong quá trình thực
hiện đề tài này.


Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS Đồng Hỷ
43
Bảng 4.5
Tỷ lệ các loại đất thu hồi tại xã Khe Mo
45
Bảng 4.6
Tỷ lệ các loại đất thu hồi tại xã Linh Sơn
46
Bảng 4.7
Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ của dự án khai thác, tuyển rửa quặng
mỏ sắt Tiến Bộ tại xã Linh Sơn
47
Bảng 4.8
Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tượng
và điều kiện được bồi thường tại 03 dự án
62
Bảng 4.9
Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính
sách hỗ trợ và TĐC tại 03 dự án nghiên cứu
69
Bảng 4.10
Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi của các hộ dân tại 03 dự án
71
Bảng 4.11
Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân tại 03 dự
án nghiên cứu
72
Bảng 4.12
Trình độ văn hoá, chuyên môn của số người trong độ tuổi lao động tại
03 dự án nghiên cứu

4.1
Cơ cấu sử dụng đất năm 2009 huyện Đồng Hỷ
37

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ
Tên Sơ đồ
Trang
4.1
Trình tự thực hiện bồi thường GPMB tại huyện Đồng Hỷ
52

Trên thực tế, việc chuyển quỹ đất vào triển khai các dự án không đơn giản, vì
nó tác động đến nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của người dân bị thu hồi đất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Có thể nói, đây là một thách thức rất lớn đối với việc triển khai các dự án hiện nay,
đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn đề liên quan đến người dân bị mất
đất như: Đời sống, việc làm của người dân bị lấy đất, hỗ trợ tái định cư và việc xác
định giá trị phần đất đai bị lấy của người dân phải được xác định như thế nào để
thoả mãn thiệt hại mà họ phải gánh chịu, giải quyết ổn thỏa tâm trạng của người dân
sau khi bị mất đất cũng là những vấn đề vô cùng quan trọng v.v.
Cùng với quá trình CNH, HĐH, đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ của
Tỉnh Thái Nguyên, tại Huyện Đồng Hỷ có rất nhiều dự án đã và đang triển khai với
mục đích phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế cho CNH, HĐH và đô thị hóa. Vấn đề
chuyển đổi quỹ đất đang sử dụng hiện nay sang đất triển khai dự án đang diễn ra
nhanh, quá trình phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng phục vụ mục tiêu thu hút đầu tư
ngoài tỉnh để phát triển kinh tế, xã hội. Trong vòng vài năm trở lại đây Đồng Hỷ đã
thực hiện bồi thường thiệt hại, GPMB và di dời nhiều hộ dân để có được quỹ đất
triển khai các dự án, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra, tuy vậy cũng nảy
sinh nhiều vấn đề chưa phù hợp, một bộ phận người dân bị mất đất chưa thỏa mãn
với những gì họ được hưởng từ chính sách bồi thường thiệt hại hiện nay.
Qua một thời gian công tác tại huyện Đồng Hỷ, tôi được tiếp xúc và nghiên
cứu thông qua tài liệu, báo cáo tổng kết về công tác giải phóng mặt bằng của địa
phương và thấy được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của công tác này tại thời
điểm hiện nay đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Do vậy, được sự
hướng dẫn của Thầy giáo, TS. Dư Ngọc Thành, tôi chọn đề tài: “Đánh giá công tác
bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
trên địa bàn Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010” cho đề
tài tốt nghiệp cao học của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Chƣơng 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận về chính sách bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và
tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
2.1.1. Khái niệm về bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cƣ
* Bồi thường
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại tương xứng
với giá trị hoặc công lao [29].
Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một
chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác mang lại.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Trong đó, giá trị
quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích
đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.
* Giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan
đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần đất nhất định được
quy định cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên đó.
Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng từ khi thành lập Hội đồng giải
phóng mặt bằng cho tới khi bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư.
* Hỗ trợ
Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi
đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa
điểm mới [29].

nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu
vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ dân cư khác nhau,
ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng
đó. Do đó, giải phóng mặt bằng cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt.
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị đặc biệt, có vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn,
dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu
sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển
đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất,
thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không
cho thuê. Trước tình hình đó đã dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham
gia di chuyển là rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết
để đảm bảo đời sống dân cư sau này [11].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
2.1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến công tác bồi thƣờng GPMB
2.1.3.1. Yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nƣớc về đất đai
a. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của
nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi
các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù
hợp với tình hình thực tế.
Ở nước ta, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội của đất nước trong mấy
thập kỷ qua có nhiều biến động lớn, nên các chính sách về đất đai cũng theo đó
không ngừng được sửa đổi, bổ sung. Từ năm 1993 đến năm 2003, Nhà nước đã ban
hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất. Sau khi quốc
hội thông qua Luật đất đai 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đã nhanh

rất yếu. Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải
quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có
trách nhiệm chưa thật sát sao. Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể nang,
trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất
đai. Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát
hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa
bàn. Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin
trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ
GPMB [5].
b. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ
chức việc bồi thường GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà
nước đóng vai trò là người tổ chức. Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào
đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu
như là phương án có hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng
nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo
quy định của Luật đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới
giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường.
Tuy nhiên chất lượng quy hoạch nói chung và quy hoạch nói riêng còn thấp,
thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, đặc biệt là thiếu tính bền vững.

ở cả 3 cấp. Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này có độ chính xác thấp nên đang làm nảy
sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như không đủ cơ sở giải quyết tranh
chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Vì vậy,
việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại
HSĐC là rất cần thiết.
e. Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai (Land Registration) là một thành phần cơ bản quan trọng
nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất
đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất [7]. Theo quy
định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu,
quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật đất đai, người sử dụng đất phải
đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất) và được cấp GCNQSDĐ. Chức năng của đăng
ký đất đai là cung cấp những căn cứ chuẩn xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp
thuận và từ chối các quyền về đất.
Trong công tác bồi thường GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối
tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện nay, công tác
đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng ký biến động về
sử dụng đất; việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy mà công tác bồi
thường GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp
GCNQSDĐ thì công tác bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn.
f. Yếu tố thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất
đai
Công tác bồi thường GPMB là một việc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền
lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất
chính, chính quyền địa phương cấp trên. Hồi đồng thẩm định phải có kế hoạch
thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình triển khai
thực hiện công tác bồi thường GPMB, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm
pháp luật để xử lý tạo niềm tin trong nhân dân [11].


đất đai năm 2003. Đặc biệt, việc xác định giá đất được thực hiện theo nguyên tắc
“sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình
thường” (khoản 1 Điều 56). Thực hiện các quy định về giá đất tại Luật đất đai năm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
2003, ngày 16 tháng 11 năm 2004, Chính phủ đã Hội đồng hành Nghị định
188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát
với giá thị trường trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện
nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên
tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu
kiện.
2.1.4. Vận dụng lý luận địa tô của Các Mác vào việc định giá bồi thƣờng thiệt
hại đất và tài sản gắn liền với đất
Trong điều kiện Nhà nước thu hồi đất cho mục đích công cộng, lợi ích quốc
gia thì trường hợp này giống như là hành vi chuyển quyền sử dụng đất và chuyển
mục đích sử dụng đất nhưng là hành vi chuyển quyền sử dụng đất đặc biệt, nó
không phải là tự nguyện mà là một sự bắt buộc. Bởi vậy, việc giải quyết thoả đáng
lợi ích của người bị thu hồi đất là hết sức cần thiết và quan trọng, thể hiện ở việc bồi
thường thiệt hại về đất và tài sản trên đất bị thu hồi. Đây là vấn đề chủ yếu cần được
xem xét nhằm giải quyết thoả đáng lợi ích cho người bị thu hồi đất. Lý luận địa tô
Các Mác vẫn có giá trị lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề trên [16].
- Tiền bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất cho người có đất
bị thu hồi được lấy từ người sử dụng đất mới. Khoản tiền mà người sử dụng đất mới
phải trả ít nhất là bằng với số tiền bồi thường cho người bị thu hồi cả về đất và tài
sản gắn liền với đất.
- Cơ sở và mức tính bồi thường: theo lý luận địa tô của Các Mác thì độ phì
nhiêu và vị trí của đất đai là cơ sở cho việc tính toán mức phải trả cho người sử

phát triển khác. Ngân hàng và các Nhà nước đang phát triển cần nhìn nhận vấn đề
này như cơ hội chứ không phải là trở ngại. Cần thực hiện một chính sách TĐC bắt
buộc sẽ tạo nên một môi trường pháp chế lành mạnh khi Nhà nước cần thu hồi đất
phục vụ cho các mục đích công cộng của quốc gia. Mặt khác, cần cải tiến cách hiểu
và lập kế hoạch thực hiện, sao cho các dự án luôn hướng tới sự phát triển, không chỉ
mang lại lợi ích về kinh tế mà còn về môi trường, xã hội, phương thức này phù hợp
với hai mục tiêu là xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững.
2.1.5.1. Vấn đề ổn định nơi ở
- Một số khu TĐC không đảm bảo điều kiện cơ sở hạ tầng tối thiểu như: hệ
thống điện, nước, đường giao thông, trường hoặc trạm xá, từ đó ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của những người TĐC.
- Bố trí TĐC chưa quan tâm tới các yếu tố cộng đồng dân cư, tập quán sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
hoạt, sản xuất. Ví dụ người sản xuất nông nghiệp bị chuyển đến khu TĐC cao tầng
không có tư liệu sản xuất trong khi việc hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm
chưa có chế tài chặt chẽ.
- Việc xây dựng khu TĐC còn chậm, nhiều khi có quyết định thu hồi đất
hoặc thậm chí khi tiến hành bồi thường mới quan tâm đến vấn đề TĐC. Từ khâu
chuẩn bị không được kỹ do sự bức bách về thời gian dẫn đến thiếu các điều kiện tối
thiểu.
- Chưa có quy định tối thiểu về quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất
khi được bồi thường ở khu TĐC, nên người dân không biết mình có quyền và nghĩa
vụ gì. Họ không vào các khu TĐC mà yêu cầu bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở
mới dẫn đến tình trạng thừa chỗ trong các khu TĐC.
- Chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên có liên quan trong việc
xây dựng khu TĐC, nên có tình trạng khoán trắng cho chủ dự án dẫn đến có những
công trình TĐC chất lượng không đảm bảo.

nhất, cơ bản của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội. Khi Nhà nước thu hồi đất
phục vụ cho các mục đích của quốc gia đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế của
hàng triệu hộ dân và người dân, người bị ảnh hưởng không những không hạn chế về
số lượng mà còn có xu hướng ngày càng tăng. Đặc biệt, ở những nước đang phát
triển, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp đó là vấn đề sống còn của họ.
Dưới đây là một số kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước trên thế giới sẽ phần
nào giúp ích cho Việt Nam chúng ta, đặc biệt trong chính sách bồi thường GPMB.
2.2.1. Chính sách bồi thƣờng đất đai ở Trung Quốc
Hiến Pháp Trung quốc quy định có 2 hình thức sở hữu đất đai: Sở hữu Nhà nước
và sở hữu tập thể. Vì đất đai thuộc sở hữu Nhà nước nên khi thu hồi đất, kể cả đất nông
nghiệp tùy từng trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị
thu hồi đất và bồi thường cho các công trình gắn liền với đất bị thu hồi.
Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết
trước cho việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có quyền lựa
chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới. Tại thủ đô Bắc
Kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng
tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với nơi làm việc của mình.
Về giá bồi thường, tiêu chuẩn là giá thị trường. Mức giá này cũng được Nhà
nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất
linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh tại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
chính thị trường đó. Đối với đất nông nghiệp, bồi thường theo tính chất của đất và
loại đất (tốt, xấu).
Về TĐC, các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp thời,
thường xuyên đáp ứng nhu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác
nhau. Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền chú ý tạo điều kiện về
việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước có chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status