NGUYỄN ĐỨC DŨNG - LUẬT KINH TẾ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
2014 - 2016
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN
DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI SƠN LA
NGUYỄN ĐỨC DŨNG
HÀ NỘI - 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN
DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI SƠN LA
NGUYỄN ĐỨC DŨNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
của
luận
văn
ch-a
từng đ-ợc ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyn c Dng
3
LI CM N
Tụi xin chõn thnh cm n ging viờn, Tin s
V Th Hng Yn l ngi ó hng dn tn tõm v
nhit tỡnh tụi hon thnh Lun vn ny.
Tụi cng xin chõn thnh cm n cỏc Thy, Cụ
khoa Sau i hc - Vin i hc M H Ni v cỏc
Ging viờn ó ging dy v truyn th nhng kin
thc quý bỏu trong sut thi gian khoỏ hc, lm nn
tng cho tụi thc hin lun vn ny.
Tụi cng xin chõn thnh cm n cỏc tỏc gi
Khái quát chung về hoạt động cho vay của các tổ chức tín
6
dụng
1.2.
Khái niệm thế chấp tài sản
9
1.3.
Khái niệm, đặc điểm của thế chấp quyền sử dụng đất để bảo
đảm tiền vay tại các tổ chức tín dụng
15
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN
23
SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CÁC TỔ
CHỨC TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TỈNH SƠN LA
2.1.
Thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm tiền vay tại các tổ chức
tín dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam
48
2.1.5.
Xử lý quyền sử dụng đất để thu hồi nợ của các tổ chức tín
dụng
59
2.2.
Thực tiễn áp dụng thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức
tín dụng ở tỉnh Sơn La
63
Chương 3: ĐỊNH HUỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
74
THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN
VAY TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở SƠN LA
3.1.
Cơ sở hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất
74
3.2.
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các tổ chức tín dụng đang được coi là đòn bẩy chủ lực thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, với tư cách trung gian tài chính là
huy động vốn để đầu tư cho phát triển nền kinh tế thông qua hoạt động cho
vay (hình thức cấp tín dụng) cho các tổ chức, cá nhân để đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh. Việc cấp tín dụng này đã đem lại cho các tổ chức tín
dụng một nguồn lợi nhuận khổng lồ nhưng cũng không kém phần rủi ro.
Với tư cách là trung gian tài chính là huy động vốn để đầu tư cho phát
triển nền kinh tế nên các tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm đối với người
gửi tiền, phải làm sao hoạt động có hiệu quả, an toàn để củng cố niềm tin của
người gửi tiền. Mặt khác, trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng
chứa đựng rất nhiều rủi ro, rủi ro từ phía tổ chức tín dụng (nghiệp vụ của các
cán bộ tín dụng non kém, đạo đức cán bộ bị tha hóa, …), rủi ro từ phía khách
hàng (thu nhập không ổn định, làm ăn thua lỗ, phá sản, khách hàng chây ỳ, cố
tình không trả nợ,…), rủi ro từ các chính sách của Nhà nước (thay đổi cơ chế
chính sách,…),.... Vậy làm thế nào để các tổ chức tín dụng hạn chế rủi ro mất
vốn khi cho vay? Hầu hết các tổ chức tín dụng ngoài việc đánh giá tình hình tài
nước và của các chủ thể trong quan hệ đất đai.
Mặc dù thế chấp quyền sử dụng đất không phải là vấn đề mới nhưng
qua quá trình nghiên cứu, áp dụng các quy định về thế chấp quyền sử dụng
đất qua mỗi thời kỳ lịch sử đều thấy pháp luật luôn có những điều chỉnh phù
hợp với sự thay đổi của xã hội, kinh tế,...
Tuy nhiên, mỗi hệ thống pháp luật đều có hạn chế và tồn tại nhất định,
nhiều quy định còn chưa đồng nhất, chồng chéo, mâu thuẫn,…Ví dụ như cùng
8
điều chỉnh quan hệ dân sự thế chấp quyền sử dụng đất nhưng mỗi văn bản
pháp luật (Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Pháp luật về giao dịch bảo đảm,…)
lại có những quy định khác nhau ở một số khía cạnh nhất định, điều này đã
khiến cho việc áp dụng trong thực tế có nhiều bất cập, gây khó khăn cho các
doanh nghiệp và Ngân hàng.
Chính cách tiếp cận từ vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, tôi nhận
thấy cần thiết phải nghiên cứu đề tài: “PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI SƠN LA”. Những quy định của pháp luật về thế chấp
quyền sử dụng đất để vay vốn tại các tổ chức tín dụng, đặc biệt tại tổ chức tín
dụng sẽ được nghiên cứu để tìm ra những điểm bất cập của pháp luật về thế
chấp quyền sử dụng đất và định hướng trong việc hoàn thiện pháp luật về thế
chấp nói chung, thế chấp quyền sử dụng đất nói riêng trong hoạt động cho vay
vốn tại tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Sơn La.
2. Tình hình nghiên cứu
Đây thực sự không phải là đề tài mới đối với các nhà nghiên cứu và
các chuyên gia lập pháp tại Việt Nam. Có rất nhiều công trình nghiên cứu liên
quan đến thế chấp nói chung và thế chấp quyền sử dụng đất nói riêng như đề
tài "Thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam"
luật về thế chấp quyền sử dụng đất, đặc biệt là nghiên cứu những quy định
liên quan trực tiếp đến việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tổ chức tín
dụng, cụ thể được quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, các Nghị định,
thông tư liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất,…
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về
thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng ở Sơn La.
Thứ ba: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng tại tổ chức tín dụng ở Sơn La để đưa
10
ra các kiến giải để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền sử dụng
đất để vay vốn của các tổ chức tín dụng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu về các quy định của pháp luật Việt Nam
về thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tổ chức tín dụng và thực tiễn áp
dụng tại tổ chức tín dụng ở Sơn La.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và đặc biệt là phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê.
6. Những đóng góp của luận văn
- Đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những văn bản của pháp luật hiện
hành, trong đó có nghiên cứu những thay đổi của pháp luật liên quan đến thế
chấp tài sản nói chung và thế chấp quyền sử dụng đất nói riêng.
- Đưa ra đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về thế
chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tại các tổ chức tín dụng Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
chủ yếu trong xã hội, đó là hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng. Tổ
chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chủ yếu là huy
động vốn, cấp tín dụng, thực hiện dịch vụ thanh toán và ngân quỹ,… Các tổ
chức tín dụng thực hiện các hoạt động huy động vốn (huy động tiền gửi) với
trách nhiệm hoàn trả và để có "nguồn" cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế,
cá nhân có nhu cầu sử dụng vốn để đầu tư, phát triển kinh tế nhằm thu lợi
nhuận trên cơ sở đảm bảo khả năng hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là một
nghiệp vụ cấp tín dụng mang tính chất truyền thống lâu đời và chủ yếu của
các tổ chức tín dụng được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức tín
dụng và khách hàng vay.
12
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động tín dụng của các tổ
chức tín dụng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, các dịch vụ tổ
chức tín dụng cũng được đa dạng hóa nhiều, đem lại những nguồn thu nhất định
cho các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động cho vay vẫn được coi là hoạt động
mang tính truyền thống không chỉ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam mà còn
của tổ chức tín dụng ở các nước có hệ thống tổ chức tín dụng phát triển mạnh
như Pháp, Mỹ,… Hoạt động này là hoạt động cơ bản của Tổ chức tín dụng,
đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các tổ chức này. Ước tính thu nhập bình
quân mỗi năm từ hoạt động cho vay chiếm đến 70% trong tổng thu nhập của
tổ chức tín dụng[49, tr. 22]. Trong các hình thức cấp tín dụng thì hoạt động
cho vay vẫn chiếm giữ vai trò quan trọng, chủ yếu và là một hình thức cấp
tín dụng phổ biến nhất đối với các Tổ chức tín dụng, hoạt động này cung cấp
một nguồn vốn trực tiếp cho nền kinh tế, điều tiết quan hệ cung - cầu. Theo
pháp luật tổ chức tín dụng, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó
Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả
chuyền đến toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụngvà nền kinh tế.
Ngoài ra, hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng đóng vai trò
quan trọng đối với việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, vì vậy, những rủi ro tín
dụng còn có tác động tiêu cực đối với nền kinh tế như những bài học từ sự đổ
vỡ của hàng loạt các Tổ chức tín dụng ở nước ta trong những năm 1989 đến
năm 1991 cũng như sự sụp đổ của hàng loạt các tổ chức tín dụng lớn của Mỹ,
Anh trong thời gian vừa qua như tổ chức tín dụng IndyMac - một trong những
tổ chức tín dụng và cho vay lớn nhất ở Mỹ (sụp đổ chính thức vào ngày 11
tháng 7 năm 2008) đã không thể cầm cự sau khi các nhà đầu tư ồ ạt rút hơn
1,3 tỉ USD trong 11 ngày và IndyMac đã thua lỗ gần 900 triệu USD do giá
nhà đất giảm và số khách hàng vay vốn mua nhà tuyên bố phá sản tăng cao
[40], Lehman Brothers (chính thức sụp đổ vào ngày 12 tháng 9/2008), là nạn
nhân của cơn bão tín dụng bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp
tại Mỹ khi quá nhiều người mua nhà không có khả năng trả nợ ngân hàng; sự
14
tan rã của tổ chức tín dụng cho vay cầm cố Northern Rock của Anh;... và hậu
quả của nó để lại cho nền kinh tế là vô cùng to lớn. Do đó, pháp luật của mỗi
quốc gia đều có những quy định riêng điều chỉnh hoạt động của các tổ chức
tín dụng, trong đó có hoạt động cho vay, Nhà nước Việt Nam cũng luôn có
những điều chỉnh kịp thời hoạt động cho vay của các ngân hàng, đảm bảo
hoạt động cho vay luôn trong tầm kiểm soát và đảm bảo an toàn như chấn
chỉnh kịp thời hoạt động cho vay bất động sản, chứng khoán,… trong thời
gian vừa qua.
Như vậy, qua xem xét, phân tích một số đặc điểm trong hoạt động cho
vay của các ngân hàng, chúng ta có thể khái quát hoạt động cho vay của các
tổ chức tín dụng như sau: Hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng là một
trong những hình thức cấp tín dụng có tính chất truyền thống của các tổ chức
không tìm mọi cách nắm giữ quyền kiểm soát tài sản của Bên vi phạm thì Bên
bị vi phạm sẽ rơi vào thế bất lợi, quyền của mình không được đảm bảo, do đó
cần phải có biện pháp bảo đảm để trong trường hợp Bên có nghĩa vụ không
thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như đã cam kết thì Bên có quyền có thể
chủ động tiến hành các hành động của mình để tác động trực tiếp đến tài sản
của phía bên kia nhằm thỏa mãn những lợi ích của mình mà khi đến hạn, phía
bên kia không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ (có thể sẽ tiến
hành các biện pháp xử lý đối với tài sản đảm bảo), giao dịch bảo đảm ra đời.
Giao dịch bảo đảm ra đời đã thúc đẩy giao lưu dân sự, kinh tế, thương
mại ngày càng phát triển lành mạnh, có trật tự, góp phần rất lớn trong việc
hạn chế các tranh chấp phát sinh, bảo vệ người gửi tiền trong quan hệ với
ngân hàng, bảo vệ sự an toàn và ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng và bảo
vệ tối đa quyền lợi của bên có quyền trong các giao lưu kinh tế, dân sự, làm
cho quyền ấy được thực thi trên thực tế một cách cao nhất. Như vậy, bảo đảm
tiền vay là những biện pháp mà các tổ chức tín dụng áp dụng nhằm ngăn ngừa
và hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho
vay của mình, bảo đảm cho việc thu hồi vốn và lãi suất vay [51].
16
Mặc dù bảo đảm tiền vay nói chung và thế chấp quyền sử dụng đất nói
riêng có vai trò quan trọng trong hoạt động cho vay nhưng đây cũng không
phải là yếu tố quan trọng nhất để tổ chức tín dụng quyết định cho vay hay
không cho vay, mà yếu tố quan trọng nhất đó là đánh giá tình trạng tài chính
và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi
vay và bảo đảm tiền vay thông thường chỉ được xem xét là biện pháp thay thế
và đứng vào hàng "thứ cuối". Việc quyết định cấp tín dụng hay không là do
sự "cuốn hút" của đơn xin vay, tính khả thi của dự án, khả năng tài chính của
khách hàng vay chứ không phải ở tài sản bảo đảm tiền vay. Nếu tổ chức tín
Ngoài ra, theo pháp luật Việt Nam, các biện pháp bảo đảm tiền vay
trong lĩnh vực tổ chức tín dụngcòn được điều chỉnh bởi những quy định cụ thể
khác như quy định trong Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Đất đai, Nghị định
163/2006/NĐ-CP,...
Theo quy định tại Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2005, "Thế chấp tài
sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của
mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên
nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp" [25].
Theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015: “ 1. Thế chấp
tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở
hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên
kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận
giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp”.
Theo quy định này thì thế chấp tài sản là một trong những biện pháp
bảo đảm nghĩa vụ dân sự, theo đó, bên có tài sản thế chấp không chuyển giao
tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.
18
Điều 2114 Bộ luật Dân sự Pháp cũng đã quy định "Thế chấp là một
quyền tài sản trên những bất động sản được sử dụng để bảo đảm thi hành một
nghĩa vụ...." [36]. Theo quy định này thì luật dân sự của Pháp cũng quy định
thế chấp là một quyền trên bất động sản, tài sản thế chấp chỉ có thể là bất
động sản.
Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định thế chấp là việc
người thế chấp nhượng một tài sản cho người nhận thế chấp như một bảo
đảm để thi hành một nghĩa vụ nhưng không giao tài sản đó cho người nhận
thế chấp (Điều 702, tiêu đề VII, Chương I) [39]. Ngoài ra, tại Điều 703 quy
khó khăn và phức tạp, hơn nữa cũng chưa có tiêu chí nào để xác định cụ thể
nên nhiều khi rất dễ bị nhầm lẫn giao dịch có phải là thế chấp hay không phải
là thế chấp, điều đó dẫn đến việc các bên không biết thực hiện những thủ tục
tương ứng nào cho phù hợp với quy định của pháp luật. Sự thay đổi này chính
là để nhằm tháo gỡ khó khăn khi phân biệt động sản, bất động sản và đơn giản
hóa các quy định về cầm cố thế chấp, giảm sự khác biệt so với pháp luật của
các nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự 2005 và 2015 còn quy định một điểm mới
khác nữa về thế chấp đó là bên thế chấp có thể là bên có nghĩa vụ trực tiếp
trong quan hệ với bên nhận thế chấp hoặc không phải là bên có nghĩa vụ trực
tiếp với bên nhận thế chấp, hay nói cách khác, bên thế chấp có thể sử dụng tài
sản cụ thể của mình để bảo đảm nghĩa vụ cho mình hoặc cho nghĩa vụ của
người khác. Trong trường hợp bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của
mình để bảo đảm cho nghĩa vụ của người khác (không phải là để bảo đảm cho
nghĩa vụ của mình) thì được gọi là thế chấp bằng tài sản của người thứ ba.
Như vậy, thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ do hai bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Việc thế
chấp tài sản thường được áp dụng để bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng, nhưng cũng
có thể được dùng để bảo đảm nghĩa vụ ngoài hợp đồng, nếu có thỏa thuận
hoặc do pháp luật quy định. Tuy nhiên, trong quan hệ vay vốn ngân hàng, thế
chấp tài sản của khách hàng vay chỉ có thể được áp dụng đối với nghĩa vụ hợp
đồng, nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay theo hợp đồng tín dụng ký giữa họ
20
với ngân hàng. Vì vậy, có thể nói thế chấp tài sản là hợp đồng phụ được đặt ra
bên cạnh hợp đồng chính, để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chính.
Thế chấp tài sản là biện pháp vừa có mục đích nâng cao trách nhiệm
của bên có nghĩa vụ trong việc thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình,
vừa có mục đích giúp cho bên có quyền có thể kiểm soát tài sản để nếu cần,
thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý, người sử dụng đất chỉ được Nhà
nước cấp "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" chứ không phải là "Giấy
chứng nhận quyền sở hữu đất". Chính điều này cũng là một điểm đặc biệt để
khẳng định đất đai là một loại tài sản đặc biệt so với các loại tài sản khác.
Nhà nước - chủ sở hữu đất đai duy nhất cũng đã quy định một chế
định riêng cho người sử dụng đất. Người sử dụng đất không những có quyền
sử dụng đối với đất một cách đơn thuần là sử dụng và khai thác trực tiếp lợi
ích từ đất như hoa lợi, lợi tức, ở,....mà còn có một số quyền năng khác giống
như quyền của chủ sở hữu đó là quyền tặng cho, bán, thế chấp, góp vốn,...
(quyền định đoạt hạn chế) đối với quyền sử dụng đất.
Pháp luật Việt Nam quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý" (theo quy định Điều 1 - Luật Đất đai năm 1993,
được sửa đổi bổ sung năm 1998) và Điều 1 Luật Đất đai năm 2013 cũng đã
khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, trong đó Nhà nước đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai thống nhất quản lý bằng chế độ quản lý và sử dụng
đất đai. Điều này cũng đã được Bộ luật Dân sự 2015 quy định "Đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản
công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lý." [25, Điều 197]. Nhà nước giữ quyền định đoạt cao nhất đối với đất
đai thông qua việc quyết định mục đích sử dụng, quyết định giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất,... Nhà nước thực hiện điều tiết đất đai thông qua việc ban
hành các chính sách về đất đai, nhà nước trao quyền cho người sử dụng đất
thông qua việc giao đất, cho thuê đất,...và đối với mỗi hình thức này thì người
22
sử dụng đất được thực hiện các quyền năng tương ứng của mình như quyền
tặng, cho, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp,...
qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm
cho việc trả nợ, đồng thời ngăn ngừa, khắc phục những hậu quả xấu do không
thực hiện đúng nghĩa vụ gây ra. Thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tổ
chức tín dụng có một số đặc điểm chung, đó là:
- Thế chấp quyền sử dụng đất chỉ là một biện pháp bảo đảm được
xác lập dựa trên cơ sở nghĩa vụ theo hợp đồng chính
Thế chấp quyền sử dụng đất không tồn tại một cách độc lập mà luôn
gắn liền với nghĩa vụ nào đó (được gọi là nghĩa vụ chính), không có nghĩa vụ
chính thì không có nghĩa vụ thế chấp.
Trong quan hệ thế chấp với ngân hàng, nghĩa vụ chính ở đây chính là
nghĩa vụ trả nợ vốn vay khi đến hạn. Có nghĩa là nếu các chủ thể trong quan
hệ vay vốn (Bên vay) thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình theo
như cam kết trong hợp đồng vay vốn thì việc thế chấp quyền sử dụng đất để
đảm bảo cho khoản vay sẽ chấm dứt ngay sau khi Bên vay thực hiện xong
nghĩa vụ của mình đối với Bên cho vay. Chỉ khi nào bên vay vi phạm nghĩa
vụ trả nợ (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ) thì thế
chấp quyền sử dụng đất mới phát huy "sứ mệnh" của mình, có nghĩa là thế
chấp quyền sử dụng đất chỉ là một biện pháp mang tính dự phòng. Như vậy,
việc xử lý tài sản thế chấp và mọi quyền lợi của các bên trong quan hệ thế
chấp chỉ phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ trả nợ xảy ra. Nếu nghĩa vụ
chính đã được thực hiện thì quan hệ thế chấp quyền sử dụng đất cũng mặc
nhiên chấm dứt.
Điều 681 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan cũng quy định:
"Hợp đồng bảo đảm chỉ có thể được thiết lập cho một nghĩa vụ đang có hiệu
lực. Một nghĩa vụ trong tương lai hoặc một nghĩa vụ có điều kiện có thể được
bảo đảm cho sự kiện, mà khi xảy ra bảo đảm có hiệu lực" hoặc tại Điều 698
quy định: "Người bảo đảm được miễn trách nhiệm ngay sau khi nghĩa vụ của
người mắc nợ đã chấm dứt bằng bất cứ lý do nào" [39].
24
25