Sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THANH HÀ

SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
VÀ VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. Phạm Văn Tuyết

HÀ NỘI 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình
thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Phạm Văn Tuyết.
Các thông tin, số liệu, các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực.

HỌC VIÊN



1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................ 2
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG .................................................................. 9
1.1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VỀ SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ....................... 9
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................................ 9
1.1.2. Nội dung ................................................................................................................ 12
1.2. CĂN CỨ XÁC LẬP ................................................................................................. 15
1.2.1. Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ...................................... 17
1.2.2. Vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung ...................................................... 23
1.2.3. Vợ ( chồng) gia nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng ........................ 25

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG .................................................... 27
2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ, CHỒNG ............... 27
2.1.1. Khái niệm .............................................................................................................. 27
2.1.2. Nguyên nhân ......................................................................................................... 29
2.2. CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ, CHỒNG ................................ 30
2.2.1. Theo yêu cầu ......................................................................................................... 31
2.2.2. Ly hôn ................................................................................................................... 39
2.2.3. Khi một bên chết (chết thực tế, chết pháp lý) ......................................................... 47
2.2.4. Các trường hợp khác ........................................................................................... 51

Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN
CHUNG VỢ CHỒNG, CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ............................................................................... 53

triển lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
Gia đình được xây dựng dựa trên cơ sở sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống
và nuôi dưỡng. Trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi
gia đình. Nhận định được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng
đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Được thể hiện ở việc, Nhà nước
ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn
nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất. Quan hệ tài sản giữa vợ
chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ
chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần
cho vợ chồng và các thành viên trong gia đình. Chính sự ràng buộc này làm nảy
sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ
chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Trong
vấn đề hôn nhân gia đình nói chung và vấn đề tài sản trong gia đình nói riêng,
người Việt thường đề cao lợi ích của gia đình hơn lợi ích của mỗi cá nhân. Tài sản
chung là thứ cần có để tạo điều kiện cho việc nhân danh lợi ích gia đình khi tham
gia vào các giao dịch. Đó cũng là lý do Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) đã
được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 7
thông qua ngày 09/06/2000 quy định rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng và việc
chia tài sản chung của vợ chồng. Và đến Luật HN&GĐ hiện hành (năm 2014) vẫn
tiếp tục duy trì và hoàn thiện các quy định này.
Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp tài sản khi ly hôn cho thấy vụ việc khá
phức tạp, và chủ yếu phát sinh do cách áp dụng pháp luật để xác định tài sản chung,
tài sản riêng của vợ chồng còn thiếu chính xác. Việc xác định tài sản thuộc sở hữu
chung của vợ chồng là rất quan trọng, đặc biệt là thời điểm hiện nay khi mà xã hội
luôn có sự vận động, phát triển kéo theo các mối quan hệ phức tạp và khó xác định
hơn. Khi việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng chính xác sẽ giúp



(v) “Chia tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình – Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nguyễn Thanh Huyền, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa
luật Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013.
Tuy nhiên, các công trình này hoặc có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau trong vấn đề tài sản vợ chồng, hoặc chỉ giải quyết
một khía cạnh nhỏ trong chế định chia tài sản chung của vợ chồng mà chưa có công


4

trình nào nghiên cứu một cách tổng thể chế định chia tài sản chung của vợ chồng.
Vì vậy, các công trình nói trên chưa có điều kiện phân tích một cách sâu sắc và toàn
diện tất cả các khía cạnh của chế định chia tài sản chung của vợ chồng.
Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo, trong nhóm này có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu như:
(i) Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
(ii) T.s Phùng Trung Tập, Bàn luận về các hình thức sở hữu và sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng, NXB chính trị - hành chính, 2011.
Ngoài ra, còn có các sách giáo trình và sách bình luận Luật Hôn nhân và gia
đình của nhiều tác giả khác. Tuyệt đại đa số các cuốn sách trên đều là những công
trình thiên về việc bình luận, giải thích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình,
trong bối cảnh đó, chế định chia tài sản chung của vợ chồng thường chỉ được
phân tích một cách chung chung, có tính chất tổng quát, chứ không phân tích
một cách chuyên sâu và cụ thể. Có thể nói, những công trình trên đây chủ yếu đề
cập đến góc độ khái quát, xem xét bao quát chung nhất về sở hữu chung của vợ
chồng mà chưa đi sâu vào tìm hiểu riêng về tài sản chung và việc chia tài sản
chung của vợ chồng.
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí, chia tài sản chung của vợ
chồng là chủ đề của nhiều bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả trên các báo, tạp chí

sản chung của vợ chồng, mà chưa đi vào bao quát gắn việc xác định tài sản chung
của vợ chồng với việc giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng, chưa đi sâu
vào phân tích lý luận, đánh giá thực tế và tìm ra giải pháp hoàn thiện vấn đề này.
Đặc biệt, các tác phẩm trên mới chỉ tập trung vào nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành do đó thiếu tính
ứng dụng trong giai đoạn hiện nay. Kể từ khi Luật HN&GĐ 2014 có hiệu lực, với
những kế thừa và phát triển của nó về vấn đề tài sản chung và chia tài sản chung của
vợ chồng, hiện còn thiếu các công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề này. Vậy,
dựa trên cơ sở tình hình nghiên cứu này, Luận văn sẽ kế thừa một số luận điểm
nghiên cứu, phân tích chuyên sâu về chế độ sở hữu chung của vợ chồng và nghiên
cứu cụ thể về việc chia tài sản chung của vợ chồng, trong đó tập trung vào nghiên
cứu hệ thống pháp luật hiện hành để cho thấy những điểm tiến bộ trong các quy
định mới và thực tiễn thi hành ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ một cách có hệ
thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của sở hữu chung của vợ chồng và
việc chia tài sản chung của vợ chồng trong quy định pháp luật hiện hành mà chủ
yếu là Luật HN&GĐ năm 2014. Bên cạnh đó là đánh giá thực tiễn áp dụng các quy
định trên, xác định những bất cập trong thực tiễn và đề xuất những giải pháp tiếp
tục hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền sở hữu
chung và giải quyết tốt các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng ở nước ta
hiện nay.


6

Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, Luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
- Thực hiện nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về sở hữu chung
của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng.



7

sơ lược những quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật của
nhà nước ta từ năm 1945 đến khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành, đặc biệt
là các quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 để thấy rõ sự tiến bộ và hoàn thiện
trong các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra, tác giả nghiên cứu đề
tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp lịch sử, tìm hiểu chế độ sở hữu chung của vợ chồng và việc
chia tài sản chung của vợ chồng qua các thời kỳ ở Việt Nam;
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận cơ bản về sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng;
- Phương pháp đánh giá, phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn nhằm nắm
bắt được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định về sở
hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng;
- Phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về sở hữu chung của
vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng giữa các văn bản pháp luật liên
quan, giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới.
Qua đó, phân tích nét tương đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam quy định về
chế độ tài sản chung của vợ chồng và chia tài sản chung của vợ chồng, phù hợp với
điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và tập quán gia đình truyền thống Việt Nam;
- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn
hoạt động xét xử của ngành Tòa án, với số liệu cụ thể giải quyết các tranh chấp từ
quan hệ HN&GĐ liên quan đến tài sản giữa vợ, chồng. Tìm ra mối liên hệ giữa các
quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa? Từ đó xem xét
nội dung quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, với thực tiễn của

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và xác định tài sản chung của vợ
chồng, chia tài sản chung của vợ chồng và kiến nghị hoàn thiện.


9

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VỀ SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.1.1. Khái niệm
a) Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự, vì vậy,
nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng phải đặt trong bối cảnh của chế định tài sản
nói chung. Tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của phần lớn
các quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, dưới góc độ
pháp lý, rất khó có thể định nghĩa cụ thể về tài sản. Pháp luật các nước thường
không đưa ra định nghĩa cụ thể về tài sản mà nó thường được hiểu thông qua các
học thuyết pháp lý hoặc hiểu gián tiếp thông qua các quy định khác. Ví dụ, Bộ luật
dân sự (BLDS) Pháp không trực tiếp đưa ra khái niệm tài sản mà chỉ ghi nhận "tài
sản được chia thành động sản và bất động sản" (Điều 156) [24], BLDS Nhật Bản
cũng chỉ nêu ra những vật được coi là động sản, bất động sản, vật chính, vật phụ
(Điều 85 đến Điều 88) [23]… mà không định nghĩa tài sản.
Khác với cách quy định của các bộ luật trên, pháp luật dân sự nước ta chọn
cách định nghĩa tài sản bằng cách liệt kê những đối tượng được coi là tài sản "tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" (Điều 163) [3]. Theo
cách liệt kê trên, các đối tượng là tài sản được xác định như sau:
- Vật được coi là tài sản phải là một bộ phận của thế giới vật chất và
nằm trong sự kiểm soát của con người. Đồng thời, vật phải mang lại lợi ích cho con
người, tức là phục vụ cho các nhu cầu về sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng… của con

được Nhà nước giao đất, cho thuê đất…đã tạo những tiền đề cơ bản để kinh tế hộ
gia đình nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng phát triển ngày càng nhanh
chóng.
Theo nội hàm của khái niệm tài sản quy định tại Điều 163 BLDS
năm 2005 thì tài sản của vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản khác. Như vậy, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng. Tài sản của vợ
chồng gồm có tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy
nhiên, vì phạm vi luận văn chỉ đề cập đến vấn đề tài sản chung của vợ chồng nên
xin phép không phân tích vấn đề tài sản riêng ở đây. Về tài sản chung, Điều 214
BLDS năm 2005 quy định "tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung"
[3]. Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung của cả vợ
và chồng - vợ, chồng cùng là chủ sở hữu đối với khối tài sản đó. Đặc điểm của tài
sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất, tức là
"phần quyền của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung"
(Khoản 1 Điều 217 BLDS) [3]. Theo đó, khi hôn nhân còn tồn tại, không thể xác
định được phần tài sản cụ thể của vợ, chồng trong khối tài sản chung. Khối tài sản
chung của vợ chồng thường hình thành từ khi hai bên nam nữ bắt đầu bước vào
cuộc sống vợ chồng thông qua sự kiện kết hôn và sẽ liên tục được bổ sung trong
suốt TKHN bằng nhiều nguồn khác nhau.


11

b) Khái niệm sở hữu chung của vợ chồng
Trong lĩnh vực HN&GĐ, ngoài quan hệ nhân thân còn có quan hệ về tài sản.
Trong đó nổi bật nhất là tài sản chung giữa vợ và chồng. Phần tài sản chung này
thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Theo đó, vợ chồng có quyền ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định, đoạt tài sản chung. Khi hôn nhân còn tồn tại,
vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau quyền sở hữu tài sản chung


12

Hiện nay, đây là cơ sở pháp lý duy nhất đưa ra cách hiểu về sở hữu chung
của vợ chồng, do đó tạo ra quan niệm thống nhất về sở hữu chung của vợ chồng
trong khoa học pháp lý ở Việt Nam.
Tại Điều 172 BLDS năm 2005 có quy định: Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở
hữu chung hợp nhất có thể chia và sở hữu chung hợp nhất không thể chia [3]. Theo đó,
sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể chia.
1.1.2. Nội dung
Vợ và chồng đều có đầy đủ 03 quyền năng đối với tài sản thuộc khối tài sản
chung là: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Việc thực hiện các quyền năng chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc nhất trí, trừ
trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản chung. Khi hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy
quyền cho nhau quyền sở hữu tài sản chung đó.
Tại Đều 219 BLDS năm 2005 và Điều 35 Luật HN&GĐ 2014 quy định rõ:
1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ
chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. [7]
Theo đó, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
trong việc thực hiện quyền sở hữu chung hợp nhất. Đối với việc sử dụng tài sản
chung nếu như mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng,
hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình,
trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, thì các chủ sở

thể của vợ, chồng trong khối tài sản chung. Họ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Ngoài tài sản chung của vợ chồng, nếu
gia đình đã có con trưởng thành, có thu nhập theo nghề nghiệp, được tặng cho hoặc
thừa kế và có đóng góp công sức, tiền vào việc duy trì, phát triển khối tài sản chung
của gia đình, thì họ cũng có quyền sở hữu đối với khối tài sản chung của gia đình.
Phần tài sản cụ thể của mỗi người chỉ được xác định rõ ràng khi có một trong
số họ chết mà những người thừa kế yêu cầu chia tài sản của người chết, nếu tài sản
này thuộc sở hữu chung của bố mẹ và các con; phần cụ thể của mỗi người còn được xác
định nếu có lý do chính đáng và họ thoả thuận chia, hoặc tài sản được chia theo quyết
định của Toà án khi ly hôn. Nếu vợ chồng ly hôn, về nguyên tắc tài sản sẽ được chia đôi,
nhưng có xem xét đến công sức đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản
chung; có ưu tiên cho những người phải nuôi và chăm sóc con còn nhỏ.
Tài sản của vợ chồng là đối tượng của các hợp đồng chuyển giao quyền sử
dụng: Các hợp đồng chuyển giao ở đây có thể là vợ chồng cho người khác sử dụng


14

có thời hạn tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng qua các hợp đồng cho
thuê, cho mượn tài sản. Trong trường hợp tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
được cho thuê, về nguyên tắc cần có sự thỏa thuận, đồng ý của cả vợ và chồng,
bằng cách cả hai cùng đứng tên trong hợp đồng cho thuê, cho mượn tài sản hay
hoặc ủy quyền cho nhau giao kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tài sản. Hình
thức ủy quyền phải được lập thành văn bản. Đối với một số tài sản như nhà ở,
quyền sử dụng đất (QSDĐ),…phải có chứng thực của Ủy ban nhân dân hoặc chứng
nhận của công chứng. Khi tài sản chung hợp nhất của vợ chồng được chuyển giao
cho người khác bằng hợp đồng cho thuê, cho mượn thì những lợi ích thu được từ
hợp đồng thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Tuy nhiên không phải bất kỳ hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng tài sản
nào cũng cần phải có sự đồng ý công khai của cả hai bên vợ chồng. Những tài sản là

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người thứ ba được pháp luật bảo vệ. Theo quy
định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2014:
1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực
hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại
diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37
của Luật này. [7]
Bởi vậy, nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng tài sản chung của vợ
chồng mà không có chữ kí của cả hai bên nhưng bên kí nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt thiết yếu của gia đình, thì khi xảy ra tranh chấp với bên thứ ba liên quan, bên
còn lại của vợ chồng cũng phải chịu trách nhiệm liên đới, nhằm bảo vệ lợi ích của
người thứ ba.
Đối với trường hợp vợ chồng từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản chung: Theo
quy định tại Điều 197 BLDS năm 2005: “chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng
cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ, hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù
hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.” [3]
Như vậy, quyền định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất cũng
tuân theo các phương thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản được
chuyển giao mua bán, tặng cho, cho vay, và cùng định đoạt tài sản theo cách từ bỏ
quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng. Hậu quả của trường hợp vợ
chồng từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản của mình cũng tương tự như đối với các
chủ thể khác: “Vật vô chủ là vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật
đó. Người đã phát hiện vật vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó theo
quy định của pháp luật; nếu vật được phát hiện là bất động sản thì thuộc Nhà
nước” (Khoản 1 Điều 239 BLDS năm 2005) [3].
1.2. CĂN CỨ XÁC LẬP
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa
thuận của vợ chồng về chế độ tài sản hay còn được gọi là khế ước hôn nhân hoặc
hôn ước. "Hôn ước là chứng thư thể hiện sự thỏa thuận của người kết hôn hay của
vợ chồng về chế độ tài sản của họ trong hôn nhân" [34]. Bởi vậy, thành phần, nguồn

Và đặc biệt đến Luật HN&GĐ năm 2014 chế độ tài sản chung của vợ chồng
lại được kế thừa và hoàn thiện hơn nữa. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng là toàn
bộ những quy định của pháp luật về việc hình thành khối tài sản chung của vợ
chồng và quyền nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản ấy. Trong chế độ xã hội chủ
nghĩa nam nữ kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu chân chính, bình đẳng và tự
nguyện. Khi trở thành vợ chồng tính chất cộng đồng tài sản giữa họ được xác lập.
So với Luật HN&GĐ 2000 thì Luật HN&GĐ 2014 có những quy định rõ ràng, cụ
thể hơn về chế độ tài sản chung của vợ chồng.


17

Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ
chồng như sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài
sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong TKHN, trừ trường hợp được quy định
tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc
được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ
trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được
thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”. [7]
Từ quy định nói trên có thể thấy việc hình thành tài sản chung rất sinh động,
đa dạng, nhưng tựu chung có thể từ các nguồn sau:
1.2.1. Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo từ điển tiếng Việt thì “thu nhập” được hiểu là “nhận được tiền bạc, của
cải vật chất từ một hoạt động nào đó” [42]. Thu nhập hợp pháp được hiểu là thu
nhập được tạo ra từ những hoạt động hợp pháp của vợ, chồng và được Nhà nước
kiểm soát, bảo vệ. Đối với những thu nhập không chứng minh được là bất hợp pháp
thì cũng được coi là thu nhập hợp pháp.
Căn cứ xác định TKHN là sự kiện pháp lý kết hôn. Kết hôn là một hiện

còn sống nhưng hôn nhân chấm dứt bằng ly hôn (khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ
năm 2014) [7] tính từ thời điểm phán quyết của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Việc xác định thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân, theo nguyên tắc chung
phải dựa trên cơ sở giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận kết hôn. Vì sau khi kết hôn,
vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng tạo dựng tài sản nhằm đảm bảo cuộc
sống gia đình, vì lợi ích gia đình. Quan hệ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
được xác lập dựa trên cơ sở tình cảm yêu thương, gắn bó chung sống với nhau suốt
đời giữa vợ và chồng. TKHN là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng trước
pháp luật. Những tài sản (bao gồm cả động sản và bất động sản) do vợ, chồng tạo ra
trong TKHN (trừ tài sản riêng của vợ, chồng) đều thuộc khối tài sản chung của vợ
chồng.
Như vậy, những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong TKHN thuộc khối tài
sản chung của vợ chồng.
Thứ nhất, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những
thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong TKHN.
Thu nhập của vợ chồng thuộc khối tài sản chung là những lợi ích vật chất mà
vợ, chồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thông
thường tài sản do vợ, chồng tạo ra trong TKHN đều được xác định là tài sản chung
của vợ chồng. Những tài sản đó có thể là do vợ và chồng cùng trực tiếp lao động,
hoặc do một trong hai bên trực tiếp lao động để làm ra sản phẩm, sản phẩm đó để
dùng trong gia đình, còn dư ra, đem bán để có sự tích lũy, cũng có thể toàn bộ sản
phẩm do vợ chồng làm ra đều đem bán, tạo ra thu nhập cho gia đình; tài sản chung
cũng có thể hình thành qua việc được trả công lao động, thuê người khác làm, do tổ
chức sản xuất, kinh doanh mà có v.v…


19

Có thể thấy rằng thông qua sức lao động của vợ, chồng được thể hiện dưới
các hình thức khác nhau để tạo nguồn thu nhập, tạo ra tài sản trong gia đình, dù các

doanh được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc tài sản chung của vợ chồng. Thu nhập
của vợ chồng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng là những giá trị vật chất mà vợ,
chồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể theo
tính chất nghề nghiệp, chuyên môn, công việc mà vợ chồng thực hiện, vợ chồng


20

được hưởng thành quả lao động hoặc các lợi nhuận do kinh doanh mang lại, hoa lợi,
lợi tức thu được từ các loại tài sản của vợ chồng do kinh doanh mang lại. Thu nhập
của vợ chồng gồm nhiều loại nhưng thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh
doanh là loại thu nhập ổn định, cơ bản nhất. Theo điểm b khoản 2 Điều 59 Luật
HN&GĐ năm 2014 “lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như là lao
động có thu nhập” [7], vì thế trong cuộc sống gia đình vì sức khoẻ, hoặc vì hoàn
cảnh và khả năng lao động mà tài sản chỉ do một người tạo ra thì vẫn coi như vợ,
chồng cùng đóng góp công sức vào việc tạo lập khối tài sản chung. Dù vợ, chồng
làm việc ở những ngành, nghề khác nhau với mức thu nhập khác nhau song mọi thu
nhập từ lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng đều là tài sản chung
của vợ chồng. Điều này phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và cũng hoàn toàn phù hợp với quy định về quyền
nhân thân của vợ chồng là tự do lựa chọn việc làm. Chính công việc cũng như công
sức lao động của mỗi người đều góp phần vào khối tài sản chung của gia đình.
Theo tính chất nghề nghiệp chuyên môn, công việc mà vợ chồng thực hiện,
được hưởng thành quả lao động hoặc các lợi nhuận do kinh doanh mang lại, cũng
như các hoa lợi, lợi tức thu được từ các loại tài sản của vợ chồng trong quá trình lao
động sản xuất, kinh doanh. Trong đời sống xã hội hiện nay, thu nhập chủ yếu của
các cặp vợ chồng là tiền lương, tiền công lao động, làm kinh tế gia đình (trồng trọt,
chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp…) hoặc lợi nhuận thông qua kinh doanh, sản xuất.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định tài sản
chung của vợ chồng cũng bao gồm các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong

Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm QSDĐ mà vợ chồng có
được sau khi kết hôn (khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014).
Theo Điều 53 hiến pháp năm 2013 và quy định trong BLDS năm 2005 về
hình thức sở hữu thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân [1, 4]. Nhà nước thống nhất và
quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật bảo đảm đúng mục đích và có hiệu quả.
BLDS và pháp luật đất đai có quy định QSDĐ là một loại tài sản có tính chất đặc
thù. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng lâu dài (Điều 53, 54
Hiến pháp năm 2013) [1]. Cá nhân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
thế chấp, để lại QSDĐ. QSDĐ mà vợ chồng có được sau khi kết hôn thuộc khối tài
sản chung của vợ chồng. Trong thực tế khi xảy ra vấn đề chia tài sản là QSDĐ khi
ly hôn thì luật phải dự liệu để xác định rõ tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ có
thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay không hay thuộc tài sản riêng để căn cứ
vào đó mà Toà án có thể giải quyết các tranh chấp theo quy định pháp luật. Theo
quy định tại Luật HN&GĐ năm 2014:
+ QSDĐ mà cả vợ chồng hoặc mỗi bên vợ, chồng được Nhà nước giao, kể cả
giao khoán là tài sản chung của vợ chồng (các QSDĐ đối với đất nông nghiệp trồng
cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất lâm nghiệp trồng
rừng….).
+ Sau khi kết hôn, QSDĐ mà cả vợ và chồng hay chỉ mỗi bên vợ hoặc chồng
được Nhà nước cho thuê là tài sản chung của vợ chồng, cũng là tài sản chung của
vợ chồng đối với đất mà vợ chồng nhận thế chấp QSDĐ của người khác.
+ QSDĐ mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng
chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.


22

Tóm lại, kể từ thời điểm kết hôn và trong suốt TKHN hợp pháp của vợ
chồng, thì mọi thu nhập của cả hai vợ chồng hoặc thu nhập của vợ hoặc của chồng
có được đều là tài sản chung của vợ chồng, không có sự phân biệt tài sản nào do vợ

Nghị quyết 35/2000/QH10 của Quốc hội, họ có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong
thời hạn 2 năm kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 010/2/2003 [2].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status