BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG
ÁP DỤNG TẬP QUÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
Mã số: 60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN CỪ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn khoa học. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phương
1.2.1. Khái niệm áp dụng pháp luật ........................................................ 12
1.2.2. Khái niệm áp dụng tập quán ......................................................... 13
1.2.3. Khái niệm áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình ................ 14
1.2.4. Nguyên tắc áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình .............. 15
1.2.5. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình theo quy định của một
số quốc gia trên thế giới........................................................................... 22
1.3. Nội dung Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31
tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật hôn nhân và gia đình ...................................................................... 26
Chƣơng 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẬP QUÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI THÁI
NGUYÊN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ......................................................... 30
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân số và phân bố dân cƣ, điều
kiện kinh tế - văn hóa xã hội ..................................................................... 30
2.1.1.Điều kiện tự nhiên .......................................................................... 30
2.1.2. Dân số và sự phân bố dân cư ........................................................ 30
2.1.3. Về tình hình kinh tế ....................................................................... 31
2.1.4. Văn hóa - xã hội ............................................................................. 32
2.1.5. Tác động của điều kiện phát triển kinh tế ảnh hưởng đến tập
quán ở Thái Nguyên. ............................................................................... 33
2.2. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình theo pháp luật hiện
hành tại Thái Nguyên ................................................................................ 33
2.2.1. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình trong việc Kết hôn .. 33
2.2.1.1. Về tuổi kết hôn .......................................................................... 34
2.2.1.2. Về sự tự nguyện kết hôn ............................................................ 35
2.2.1.3. Các hành vi cấm ....................................................................... 39
2.2.1.4. Đăng ký kết hôn ........................................................................ 42
2.2.2. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình trong quan hệ vợ và
truyền, vận động nhân dân áp dụng tập quán ....................................... 69
2.4.2.4. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng
cao trình độ dân trí, ý thức pháp luật nói chung và pháp luật về hôn
nhân và gia đình .................................................................................... 70
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 76
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HN&GĐ
: Hôn nhân và gia đình
Luật HN&GĐ
: Luật hôn nhân và gia đình
HĐND
: Hội đồng nhân dân
UBND
: Ủy ban nhân dân
Nghị định số 32/2002/NĐ-CP
: Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27
tháng 3 năm 2002 của Chính phủ quy
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với nhiều tập quán đa dạng, phong
phú. Nhà nước và xã hội tôn trọng những tập quán tốt đẹp và áp dụng trong
quan hệ HN&GĐ. Thái Nguyên là một địa phương, có rất nhiều dân tộc sinh
sống với nhiều tập quán tốt đẹp thể hiện từng bản sắc riêng của mỗi dân tộc,
góp phần xây dựng hạnh phúc hôn nhân, gia đình và xã hội. Bên cạnh đó, có
những tập quán lạc hậu gây ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc bản thân, sự ấm
no phồn thịnh của gia đình và sự phát triển của cộng đồng xã hội như: tảo
hôn, phân biệt đối xử giữa các con, hay các hủ tục cướp dâu, thách cưới, mê
tín dị đoan, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ… Những tập quán này là rào
2
cản lớn trong việc thực thi các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ Việt
Nam được quy định tại Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014.
Trong điều kiện kinh tế - xã hội, ngày một phát triển thì hệ thống pháp luật
ngày càng hoàn thiện hơn để phù hợp với tình hình thực tế. Tuy nhiên, một số
quan hệ xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ, pháp luật không có quy định, các bên
không có thỏa thuận thì áp dụng tập quán. Cơ sở pháp lý và thực tiễn để xây
dựng danh mục tập quán về HN&GĐ áp dụng tại địa phương. Khoản 1 Điều 7
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “1. Trong trường hợp pháp luật không quy
định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của
mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm
điều cấm của Luật này được áp dụng”.
Xuất phát từ lý luận nêu trên và thực tiễn các đồng bào dân tộc thiểu số
tại Thái Nguyên thường áp dụng tập quán về HN&GĐ để điều chỉnh và giải
quyết các vụ việc về HN&GĐ mà không áp dụng quy định của pháp luật, điều
đó gây nhiều khó khăn trong quá trình thi hành Luật HN&GĐ năm 2014. Nên
tác giả đã chọn đề tài “Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình của
đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên” để làm đề tài nghiên cứu.
- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Minh Phương (2007) với đề tài“Áp
dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc
thiểu số theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
- Khóa luận tốt nghiệp của Đèo Thị Lan Hương (2012) với đề tài“áp
dụng phong tục, tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở một số tỉnh
miền núi phía Bắc”.
- Khóa luận tốt nghiệp của Lò Thị Thu Hoa (2012) với đề tài “Một số
vấn đề về áp dụng Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 đối với
đồng bào dân tộc thiểu số tại Tỉnh Sơn La”.
4
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu, các bài viết đã được công bố chủ yếu
đề cập đến mối quan hệ giữa pháp luật và phong tục, tập quán hoặc nghiên
cứu việc áp dụng tập quán trong quan hệ HN&GĐ tại một số tỉnh miền núi
phía Bắc.., mà chưa có đề tài nghiên cứu về việc áp dụng tập quán về
HN&GĐ của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích
Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu các tập quán tốt đẹp, mang bản sắc dân
tộc của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên được đồng bào dân tộc
thiểu số áp dụng vào thực tế cuộc sống, trong quan hệ HN&GĐ về kết hôn,
quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con, về ly hôn.
Luận văn đánh giá những tập quán, hủ tục lạc hậu, trái với thuần phong
mỹ tục của người Việt Nam và trái với quy định của pháp luật HN&GĐ. Từ
đó, đưa ra một số kiến nghị góp phần xây dựng danh mục các tập quán tốt đẹp
được áp dụng tại Thái Nguyên.
Bên cạnh đó, luận văn đưa một số kiến nghị để đồng bào dân tộc thiểu
số áp dụng những tập quán tốt đẹp và kiên quyết xóa bỏ những tập quán lạc
và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con, về ly hôn.
Thực tiễn áp dụng tập quán về HN&GĐ của một số đồng bào dân tộc
thiểu số như: Dao, Sán Dìu, Hmông, Tày, Nùng, Thái, Hoa từ đó nhận định
khái quát chung về áp dụng tập quán về HN&GĐ của đồng bào dân tộc thiểu
số tại tỉnh Thái Nguyên.
Kiến nghị một số giải pháp nhằm áp dụng tập quán về HN&GĐ của đồng
bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên đạt hiệu quả.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, cũng như đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HN&GĐ,
6
luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, tổng hợp.
5. Điểm mới của luận văn
Đề tài là một công trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về tập quán về
HN&GĐ của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên.
Luận văn khắc họa một số vấn đề lý luận cơ bản về tập quán về HN&GĐ
dưới góc độ pháp lý, đồng thời đánh giá, phân loại tập quán tốt đẹp thể hiện
rõ bản sắc dân tộc cần được giữ gìn và phát huy; đồng thời chỉ ra các tập quán
lạc hậu trái thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, trái với quy định của
Luật HN&GĐ.
Kết quả nghiên cứu của luận văn khi công bố có thể được sử dụng mang
tính chất tham khảo trong quá trình ban hành văn bản dưới luật về quy định,
hướng dẫn áp dụng tập quán về HN&GĐ và xây dựng danh mục các tập quán
về HN&GĐ áp dụng tại Thái Nguyên trong thời gian tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: Tập quán là những quy
tắc xử sự được hình thành trong đời sống xã hội được mọi người thừa nhận là
những quy tắc xử sự chung được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Tập quán xã hội mang tính phổ biến, ràng buộc chung đối với nhiều
người và chi phối tới lối sống cũng như các hoạt động xã hội của từng cá nhân
[28, tr. 27].
8
Giống như khái niệm tập quán, khái niệm phong tục hiện nay cũng có
nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng việt phổ thông, phong tục được định nghĩa:
“Phong tục là thói quen, tục lệ đã ăn sâu vào đời sống, xã hội, được mọi
người công nhận và làm theo.”[40, tr.714].
Có tác giả định nghĩa về phong tục như sau:
“Phong tục là thói quen đã thành nếp, hình thành trong những điều
kiện kinh tế, xã hội nhất định, có tính ổn định, được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác, được một giai cấp, một tầng lớp, một dân tộc thừa nhận và tuân
theo một cách tự giác” [16, tr.5].
Từ các cách hiểu về phong tục, tập quán nêu trên chúng ta có thể nhận
thấy phong tục chỉ là thói quen, tục lệ được hình thành một cách tự nhiên, có
tính ổn định và được truyền từ đời này sang đời khác được mọi người công
nhận và làm theo. Nó không có tính bắt buộc đối với tất cả mọi người, nếu có
ai đó không tuân theo cũng không bị chế tài nào xử phạt. Ví dụ: Người Việt
Nam có phong tục cô dâu về nhà chồng, sẽ rót nước mời bố mẹ chồng và các
bậc cao tuổi trong gia đình nhà chồng. Nó là thói quen đã thành nề nếp, được
hình thành từ lâu nhưng không có tính bắt buộc tất cả các cô dâu khi về nhà
chồng đều phải thực hiện phong tục này.
Tập quán là quy tắc xử sự chung, được các chủ thể thừa nhận ở mức độ
trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền
hoặc cộng đồng” [36].
Thuật ngữ tập quán về HN&GĐ được Luật HN&GĐ năm 2014 giải
thích rõ, giúp chúng ta dễ nhận biết trong trường hợp nào tập quán được coi là
tập quán về HN&GĐ. Nhưng theo tác giả, khoản 4 Điều 3 Luật HN&GĐ năm
2014 chưa làm rõ nội dung để trở thành tập quán về HN&GĐ được áp dụng
thì những quy tắc xử sự đó phải được hình thành trong chính đời sống sinh
hoạt hàng ngày của đồng bào dân tộc thiểu số và được Nhà nước thừa nhận,
đảm bảo thi hành có tính bắt buộc, để mọi người thực hiện.
10
Từ nhiều cách hiểu về khái niệm tập quán và thuật ngữ tập quán về
HN&GĐ mà Luật HN&GĐ 2014 giải thích, chúng ta có thể định nghĩa tập
quán về HN&GĐ như sau: “Tập quán về HN&GĐ là những quy tắc xử sự
trong xã hội, được hình thành trong đời sống được các chủ thể và Nhà nước
thừa nhận, trở thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc và có tính chất
pháp lý về kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các
thành viên trong gia đình, quan hệ nuôi con nuôi và các quan hệ khác trong
lĩnh vực HN&GĐ.”
1.1.3. Đặc điểm tập quán về hôn nhân và gia đình
- Là những quy tắc xử sự chung tồn tại trong đời sống xã hội được Nhà
nước thừa nhận, để điều chỉnh các quan hệ xã hội về HN&GĐ mà pháp luật
không có quy định hoặc các bên không có thỏa thuận.
Trong bất cứ xã hội nào, để xã hội tồn tại và phát triển thì các quan hệ
xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội nói chung và trong
quan hệ HN&GĐ nói riêng phải tuân theo các quy tắc chung nhất định. Khi
có sự việc hay tranh chấp xảy ra mà pháp luật không có quy định, các bên
không có thỏa thuận thì áp dụng tập quán để giải quyết.
họ nên họ dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện theo. Trong khi đó pháp luật là hệ
thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu và
định hướng cụ thể. Những quy tắc xử sự này có nhiều câu chữ, nhiều điều
khoản, dẫn đến người dân khó hiểu, khó nhớ, khó áp dụng. Bởi“luật pháp chỉ
tồn tại dưới dạng văn bản, người dân phải học, phải đọc mới nhớ, do vậy với
xã hội chưa có chữ viết hay có chữ viết mà người dân mù chữ, nhưng luật
pháp vẫn là cái gì đó “bên ngoài con người”, khi cần thì mới quan tâm tới
nó” [42, tr.416].
- Tập quán về HN&GĐ có mối quan hệ gắn bó mật thiết với pháp luật.
Pháp luật có ba nguồn cơ bản là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản
quy phạm pháp luật. Tập quán cũng là một bộ phận hình thành nên pháp
12
luật, nên giữa pháp luật và tập quán có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Pháp luật ghi nhận, bảo vệ, phát triển những tập quán tốt đẹp, tiến bộ và
phù hợp với truyền thống văn hóa đạo đức của dân tộc. Trong trường hợp
pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận thì áp dụng
tập quán tốt đẹp của địa phương để giải quyết tranh chấp phát sinh. Việc áp
dụng tập quán địa phương trong trường hợp này là thấu tình, đạt lý, lấp
được thiếu sót và chỗ hổng của pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích cho
công dân. Việc nghiên cứu, tìm hiểu tập quán chính là cơ sở, tiền đề để
chúng ta xây dựng các văn bản luật theo hướng khuyến khích các phong
tục, tập quán tốt đẹp [16, tr.7]; còn những tập quán lạc hậu không phù hợp
với nếp sống mới, trái thuần phong mỹ tục, trái với nguyên tắc của luật thì
cần vận động xóa bỏ hoặc cấm áp dụng.
1.2. Khái niệm áp dụng pháp luật, áp dụng tập quán và áp dụng tập
quán về hôn nhân và gia đình
pháp và thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước. Đây là hoạt động thực hiện
pháp luật của cơ quan nhà nước, được xem như là đảm bảo đặc thù của Nhà
nước sao cho các quy phạm pháp luật được thực hiện hiệu quả trong đời sống
xã hội.” [20, tr.245]
Như vậy, thực tế có nhiều tác giả với nhiều quan điểm, cách tiếp cận và
biểu đạt khác nhau về áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, đa số họ đều thống nhất
coi áp dụng pháp luật là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, có sự
can thiệp của Nhà nước sao cho các quy phạm pháp luật, được đưa vào thực
hiện hiệu quả trong đời sống xã hội.
1.2.2. Khái niệm áp dụng tập quán
Tập quán được hình thành một cách tự nhiên, truyền từ đời này qua đời
khác, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa tộc người, mang tính đặc thù từng
vùng, địa phương khác nhau. Tập quán mang tính phổ biến, ràng buộc chung
đối với nhiều người chi phối từng hoạt động của các cá nhân và được mọi
người thừa nhận và tuân theo.
14
Hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về áp dụng tập quán. Có
tác giả định nghĩa chung chung về áp dụng tập quán: “Áp dụng tập quán thực
chất là việc áp dụng các qui tắc xử sự hình thành từ tập quán và là một phần
của áp dụng pháp luật” [41].
Có tác giả lại cho rằng: “Áp dụng tập quán là sử dụng các xử sự được
cộng đồng địa phương, dân tộc thừa nhận như là chuẩn mực ứng xử đối với
các thành viên trong cộng đồng dân tộc, địa phương đó (như việc áp dụng
các đơn vị đo lường giạ lúa; chục ở miền Nam; chia thịt thú rừng ở các vùng
dân tộc...)” [26].
Từ các cách hiểu trên chúng ta có thể hiểu như sau: “Áp dụng tập quán
là sử dụng những quy tắc xử sự chung được hình thành trong đời sống xã hội
chồng có quyền lựa chọn nơi cư trú của người Hmông sau khi kết hôn, vợ
chồng có thể ở cùng nhà chồng hoặc ở nhà vợ. Tập quán này đã đảm bảo
quyền tự do cư trú của vợ chồng phù hợp với quy định của Luật HN&GĐ.
Hay tập quán cô dâu trước khi về nhà chồng phải biết thiêu thùa, đan lát và
làm nương rẫy. Tập quán về HN&GĐ chỉ có giá trị áp dụng giải quyết các
tranh chấp liên quan, nếu tập quán đó là quy tắc xử sự đã được hình thành từ
lâu và được cả cộng đồng thừa nhận. Theo tập quán của người Thái sau khi
kết hôn, chú rể phải ở rể ở nhà cô dâu 3 năm, trong thời gian này chú rể tham
gia lao động, sản xuất chung với gia đình. Nếu phát sinh tranh chấp, Tòa án
tôn trọng tập quán ở rể của người Thái. Vấn đề chia tài sản áp dụng quy định
về chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình tại
thời điểm có tranh chấp để giải quyết.
Thứ hai: Tập quán được áp dụng trong trường hợp pháp luật không có
quy định, các bên không có thỏa thuận và nội dung của tập quán không trái
với các nguyên tắc cơ bản và không vi phạm điều cấm của Luật HN&GĐ.
16
Khi Nhà nước cần điều chỉnh một quan hệ xã hội, thông thường Nhà
nước sẽ ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội
đó, nhưng trong thực tế có những quan hệ xã hội phát sinh nhưng Nhà nước
chưa ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoặc có những quan hệ
xã hội mà Nhà nước cần điều chỉnh lại đang được điều chỉnh bởi các tập
quán. Vì vậy, nếu những tập quán này phù hợp với mục tiêu điều chỉnh các
quan hệ xã hội của Nhà nước, Nhà nước sẽ sử dụng phương pháp thừa nhận,
bảo đảm thực hiện, tập quán đó trở thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung. Vấn đề này được Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong
trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có
thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự
nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Trước đây, một số đồng bào dân tộc thiểu số duy trì tập quán cấm kết
hôn giữa những người khác dân tộc; kết hôn với người nước ngoài, hiện nay
tập quán này đã được xóa bỏ. Đồng bào dân tộc có quyền được kết hôn với
người khác dân tộc, nhưng trong nghi thức cưới hỏi thì vẫn áp dụng tập quán
riêng của từng dân tộc.
- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia
đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân
biệt đối xử giữa các con.
Với sự nỗ lực của chính quyền địa phương, người đứng đầu thôn (bản)
trong công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền bình đẳng
giữa vợ chồng, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, quyền và nghĩa vụ
giữa các thành viên trong gia đình. Tại Thái Nguyên, tình trạng bạo lực gia
đình, mâu thuẫn giữa các anh chị em trong gia đình, vi phạm quyền và nghĩa
vụ giữa cha mẹ và con ít xẩy ra. Đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên
có sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, con trai được đầu tư học tập,
con gái thì việc học chỉ dừng lại ở mức độ phổ cập giáo dục, về nhà cửa,
18
ruộng vườn, trâu bò, tiền mặt, bố mẹ chỉ cho con trai và chỉ con trai mới được
quyền thừa kế. Con gái được nhận trâu hoặc bò, tiền mặt làm của hồi môn khi
đi lấy chồng nếu tập quán có quy định. Cụ thể: Theo tập quán của người Sán
Dìu thì chỉ có con trai mới được thừa kế tài sản và phân chia ruộng đất, con
gái thì không có quyền thừa kế. Đây là tập quán lạc hậu không đúng quy định
của pháp luật Dân sự và HN&GĐ cần vận động xóa bỏ.
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em,
người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về HN&GĐ; giúp đỡ
các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ, thực hiện kế hoạch