Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số - Pdf 39

ỦY BAN DÂN TỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐỀ ÁN
GIẢM THIỂU TÌNH TRẠNG TẢO HÔN
VÀ HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG TRONG
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ơ

Hà Nội, tháng 12 năm 2014


MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ GIẢI THÍCH TỪ NGỮ
1. “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số
trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả
nước, theo điều tra dân số quốc gia.
3. “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh
sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
4. “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người1.
5. Kết hôn2 là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy
định của Luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
6. Kết hôn trái pháp luật3 là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết
hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
7. Tập quán về hôn nhân và gia đình4 là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng
về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi,

8
Khoản 18 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
9
Khoản 12, 13 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2000; Khoản 17 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
10
Khoản 19 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
2

2


MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của Đề án

Nước ta có 53 dân tộc thiểu số với trên 12 triệu người chiếm tỷ lệ
khoảng 14,27% dân số quốc gia 11. Các dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng
đồng tại các thôn, bản, buôn, làng, phum, sóc... thuộc 5.453 xã, 463 huyện,
56/63 tỉnh, thành phố của cả nước12.
Thực trạng thực hiện Luật hôn nhân và gia đình trong nhiều năm qua cho
thấy tình trạng kết hôn sớm (tảo hôn) và hôn nhân cận huyết thống diễn ra
khá phổ biến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở các vùng Trung
du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây
Nguyên. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực
hiện theo phong tục, tập quán. Những hủ tục như cướp vợ, hứa hôn, cưỡng ép
hôn mang tính gả bán, tục “nối dây”, tâm lý sớm có con đàn cháu đống, có
người nối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm người làm nương rẫy, quan
niệm kết hôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang của
cải sang họ khác... là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng kết hôn sớm, tảo
hôn, hôn nhân cận huyết thống và chung sống như vợ chồng không đăng ký
kết hôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, sự nghèo đói, thất

- Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2002 của Chính phủ
quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số;
- Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính
phủ về công tác dân tộc;

- Nghị định số 84/2012/NĐ-CP ngày 12/10/2012 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc;
- Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020;
- Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân
tộc đến năm 2020;

2.2. Căn cứ thực tiễn
Tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống nhìn chung đã giảm trên quy mô toàn
quốc những vẫn còn cao diễn ra khá phổ biến ở khu vực miền núi, vùng cao nơi
có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
a) Về tảo hôn
Vùng miền núi phía Bắc (đặc biệt là Tây Bắc) và Tây Nguyên nơi có nhiều
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có tỷ lệ tảo hôn cao gấp hơn 2 lần so với
vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ (miền núi phía Bắc 18,9%, Tây
Nguyên 15,8%, đồng bằng sông Hồng 7,9% và Đông Nam bộ 8,1%). Các tỉnh
Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn,
Kon Tum, Gia Lai có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước, trong đó tỉnh Lai
Châu có tỷ lệ tảo hôn cao nhất13 có gần 1/5 dân số nam từ 15-19 tuổi (khoảng
13

Theo số liệu điều tra của Chi cục Dân số và KHHGĐ, từ năm 2004 -2011, tỉnh Lai Châu có trên 1600 người tảo
hôn, trong đó tập trung chủ yếu ở một số dân tộc Thái, Mông, Dao, Mảng, Cống, La hủ… ở các dân tộc Mảng,


Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), các
dân tộc Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê Đê, Chu Ru, Si La, Pu Péo, Mông, Rơ
Măm, Brâu… có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống lên đến 10%. Đặc biệt các dân
tộc như Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Mông (Lào

Cống, La hủ chiếm khoảng 80% so với tỷ lệ tảo hôn trên địa bàn toàn tỉnh.
14
Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Sơn La.
15
Số liệu tổng hợp, phân tích từ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
16
Kết quả đều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2013 do Tổng cục Thống kê thực hiện

5


Cai, Hà Giang, Yên Bái), Brâu, Rơ Măm (Kon Tum)... cứ 100 trường hợp kết
hôn thì có khoảng 10 trường hợp là hôn nhân cận huyết thống.
Tỉnh Lai Châu, từ năm 2004-2011 có trên 200 người kết hôn cận huyết
thống, tập trung ở một số dân tộc thiểu số rất ít người như: Mảng, La Hủ, Cống;
năm 2012, theo kết quả khảo sát của Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình
tại 44 xã thuộc 9 huyện của tỉnh Lào Cai đã phát hiện 224 cặp hôn nhân cận
huyết thống; tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình có tới 23% dân số trong huyện
mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia); tại tỉnh Kon Tum, qua khảo sát
của Chi cục Dân số, Kế hoạch hoá Gia đình năm 2012 tại 6 xã thuộc 3 huyện Sa
Thầy, Ngọc Hồi và Kon Plông đã phát hiện 56 cặp hôn nhân cận huyết
thống/tổng số 350 cặp tảo hôn (chiếm gần 1/6 số cặp tảo hôn); đặc biệt tình
trạng hôn nhân cận huyết thống diễn ra khá phổ biến giữa thanh niên dân tộc
Chứt tại bản Rào Tre (bản có 35 hộ với 137 nhân khẩu và 100% là dân tộc
Chứt), xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

chồng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống có tỷ lệ mắc các bệnh dị tật bẩm
sinh, chậm phát triển, suy dinh dưỡng, tử vong sơ sinh cao hơn so với những
trẻ em bình thường khác. Những đứa trẻ sinh ra từ các cặp vợ chồng hôn nhân
cận huyết thống thì có tới 25% khả năng bị bệnh và 50% mang gen bệnh bệnh
tan máu bẩm sinh di truyền Thalassemia. Việt Nam được xếp vào khu vực có
nguy cơ cao với trên 5 triệu người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh, hơn
20.000 bệnh nhân cần được điều trị và mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra
đã bị bệnh. Ở nước ta, tỷ lệ mang gen bệnh cao tập trung chủ yếu ở vùng khó
khăn, vùng dân tộc thiểu số, vùng có tỷ lệ tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống
cao. Thalassemia, hiện tại chưa có phương pháp điều trị khỏi bệnh, người
bệnh cần phải điều trị suốt cả cuộc đời với chi phí rất tốn kém, khoảng tối
thiểu 3 tỷ đồng cho một bệnh nhân nặng được điều trị đến 30 tuổi và nó trở
thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, để lại những hậu quả rất nặng nề cho
thế hệ tương lai.
- Rơi vào vòng luẩn quẩn: Đói nghèo - thất học - tảo hôn, kết hôn cận
huyết. Thực tế cho thấy, các tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao, đồng thời tình trạng
tảo hôn, hôn nhân cận huyết cũng gia tăng; tảo hôn và hôn nhân cận huyết
thống vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của nghèo đói, thất học và suy
giảm chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng tiêu cực đến việc hoàn thành các mục
tiêu thiên niên kỷ và thực hiện công bằng trong phát triển và tiến bộ xã hội
của đất nước nói chung, giữa miền núi và miền xuôi nói riêng.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, việc xây dựng và triển khai thực hiện
Đề án là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực nhằm ngăn ngừa, giảm
thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc
thiểu số, góp phần bảo vệ giống nòi, nâng cao chất lượng dân số, nguồn nhân
lực vùng dân tộc thiểu số.

7




Gồm 14 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Lai
Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ.
18
Gồm 05 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng
19
Gồm 6 tỉnh bắc Trung bộ (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế) và 8
tỉnh duyên hải miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận,
Bình Thuận).

8


khí hậu khắc nghiệt nhất trong cả nước. Hàng năm thường xảy ra nhiều thiên
tai như bão, lũ, gió lào, hạn hán,... gây khó khăn cho sản xuất và đời sống
nhân dân;
- Vùng đồng bằng sông Cửu Long (vùng Tây Nam bộ)20 với tổng diện
tích toàn vùng khoảng 40,6 nghìn km², dân số khoảng 17,5 triệu người; là
vùng có điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, sông ngòi thuận lợi cho phát triển
kinh tế nông, ngư nghiệp, chăn nuôi, chế biến thủy hải sản;
- Vùng Đông Nam Bộ21 có diện tích tự nhiên 23.605 km 2, chiếm 7,1%
diện tích cả nước; dân số khoảng 14 triệu người, chiếm 16,3% dân số cả
nước, trong đó TP. Hồ Chí Minh chiếm 51%.
2. Về kinh tế, đời sống
Những năm qua kinh tế vùng dân tộc thiểu số có tốc độ tăng trưởng kinh
tế khá: vùng miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung 12%, Tây Nguyên
12,5%... Cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành: dịch vụ,
thương mại, du lịch, công nghiệp… sản xuất hàng hóa bắt đầu phát triển...
Kết cấu hạ tầng kinh tễ- xã hội thay đổi rõ rệt: 98,6% xã có đường ô tô đến trụ
sở Ủy ban nhân dân xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện22.

3. Về dân tộc, cơ cấu dân số và hình thái cư trú
Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, 53 dân tộc thiểu số
có 12.251.436 người, chiếm tỷ lệ 14,27% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu
số cư trú xen kẽ trên địa bàn bàn rộng lớn thuộc các tỉnh miền núi, vùng cao,
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và dọc theo biên giới của Việt
Nam với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Quy mô dân số các dân
tộc thiểu số không đều: có 5 dân tộc (Tày, Thái, Mường, Khmer và Mông) có
trên 1 triệu người; 3 dân tộc (Nùng, Hoa, Dao) có từ 500.000 đến dưới 1 triệu
người; 29 dân tộc có từ 10.000 đến dưới 500.000 người; 16 dân tộc (gồm: La
hủ, La ha, Pà thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô lô, Mảng, Cơ lao, Bố y, Cống, Si la,
Pu péo, Rơ măm, Brâu và Ơ đu) có số dân dưới 10.000 người, đặc biệt có 5
dân tộc là Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu và Ơ đu có dân số rất ít người, dưới
1.000 người25.
Xét theo các vùng kinh tế-xã hội, thì Trung du và miền núi phía Bắc là
vùng có số lượng dân tộc thiểu số lớn nhất, chiếm 48,56% dân tộc thiểu số cả
nước; tiếp đến là Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 15,11%; Tây
Nguyên 14,19%; Đồng bằng sông Cửu Long 11,12%; Đông Nam bộ 8,98%;
thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 2,04%. Trung du miền núi phía
Bắc và Tây Nguyên là 2 khu vực có tỷ lệ và số lượng các dân tộc thiểu số cao
nhất, tương ứng là 54,26% (với trên 30 dân tộc anh em chung sống 26) và
34,04% (với 47 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 12 dân tộc thiểu
số tại chỗ27) so với dân số của các vùng còn lại.
Hiện có 12 tỉnh, thành phố có tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm quá nửa dân
số (tỉnh Cao Bằng trên 90%; 11 tỉnh từ 50% đến dưới 90%: Hà Giang, Bắc
Kạn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn, Hòa Bình, Lào Cai, Tuyên
24

Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
26

thành thị; giữa các vùng kinh tế-xã hội và các tỉnh, thành phố.
- Vùng Trung du miền núi phía Bắc (đặc biệt là vùng Tây Bắc) và Tây
Nguyên có tỷ lệ tảo hôn cao hơn so với các vùng khác. Ở khu vực Tây Bắc,
trong độ tuổi 10-19, cứ 10 em trai thì có 1 em có vợ, 5 em gái có 1 em có chồng.
Nhiều xã, tỷ lệ tảo hôn lên tới trên 50%, như tại xã Lóng Luông, huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La có tới 52% cặp vợ chồng kết hôn ở lứa tuổi 12 - 17 tuổi; xã
Vân Hồ, tỷ lệ tảo hôn là 68%; xã có tỷ lệ tảo hôn thấp nhất là Muổi Nọi, huyện
Thuận Châu cũng ở mức 27%. Dân tộc Mông có tỷ lệ tảo hôn cao nhất với 33%,
dân tộc Thái 23,1%, dân tộc Mường chiếm 15,8%28.
- Các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước như: Lai Châu, Hà Giang,
Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Kon Tum, Gia Lai
28

Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Sơn La.

11


đều nằm trong các khu vực này, trong đó tỉnh Lai Châu có tỷ lệ tảo hôn cao
nhất29 có tới 18,65% số nam giới 15-19 tuổi, 33,8% số nữ 15-19 tuổi và, 21,2%
số nữ 15-17 tuổi đang hoặc đã từng có vợ/chồng, tức là có khoảng gần 1/5 dân
số nam và 1/3 dân số nữ 15-19 tuổi trong tỉnh đã từng kết hôn.
b) Xét theo giới tính và nhóm tuổi:
- Tỷ lệ tảo hôn, kết hôn sớm của cả nam giới và nữ giới ở nhóm 15-19 tuổi
đều có xu hướng gia tăng từ 2,4% và 8,4% năm 2011 lên 3,1% và 11,2% năm
201330. Phụ nữ có xu hướng kết hôn sớm hơn và ở nhóm tuổi dưới 15 và dưới 18
thì tỷ lệ tảo hôn ở nữ dân tộc thiểu số cao hơn gần 3 lần so với nam dân tộc thiểu
số (tỷ lệ tương ứng là 4,7% và 15,8% so với 1,8% và 5,8%);
- Tỷ lệ tảo hôn ở nam giới các dân tộc thiểu số cao xấp xỉ 6 lần so với nam
giới dân tộc Kinh và gấp 3 lần so với tỷ lệ chung của cả nước (tỷ lệ tương ứng

đăng (11,4%), Ba na (10,4%);
Dân tộc Mông, tỷ lệ kết hôn của nam giới ở nhóm tuổi dưới 15 - dưới 18 dưới 20 lần lượt là 16,7% - 28,0 - 53,3%, của nữ ở nhóm tuổi dưới 15 - dưới 18
là 18,3% - 45,4%. Một số dân tộc khác có tỷ lệ kết hôn của nam và nữ theo
nhóm tuổi tương ứng là: Xinh mun 8,5% - 21,5% - 45,2% và 17,2% - 47,1%;
Dao 4,1% - 11,5% - 30,4% và 5,4% - 22,7%; Gia rai 0,6% - 8,8% - 31,0% và
8,7% - 22,7%; Ba na 1,7% - 7,1 – 23,3% và 5,7% - 22,0%31...
- Đáng chú ý là, một số dân tộc có dân số dưới 10.000 người như: Lô lô,
Mảng, La ha, Lự, Cơ lao, La hủ, Ơ đu, Cống có tỷ lệ tảo hôn khá cao, từ 1224%32. Các dân tộc có tỷ lệ tảo hôn cao tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng miền
núi phía Bắc và Tây Nguyên33.
d) Mức sống và đặc biệt là trình độ học vấn gây ra sự khác biệt trong mức
độ phổ biến của hiện tượng kết hôn sớm. Khoảng 1/3 phụ nữ từ 20-49 tuổi
(26,9%) không có bằng cấp kết hôn trước 18 tuổi, trong khi đó đối với nhóm
phụ nữ có bằng trung học chuyên nghiệp, trung cấp nghề hoặc cao đẳng trở lên
chỉ có 1,2% kết hôn sớm34.
1.2. Hôn nhân cận huyết thống
Hiện nay, kết hôn cận huyết thống tuy đã giảm nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ
phát sinh trở lại. Hôn nhân cận huyết thống vẫn còn xảy ra ở một số dân tộc
trong vùng dân tộc thiểu số nước ta, phổ biến là kết hôn giữa con cô với con cậu,
con dì, con chú với con bác.
Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế)
cho thấy, các dân tộc Lô lô, Hà nhì, Phù lá, Chứt, Ê đê, Chu ru, Si la, Pu péo,
Mông, Rơ măm, Brâu… có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống lên đến 10%, tức là
cứ 100 trường hợp kết hôn thì có 10 trường hợp hôn nhân cận huyết thống.
Hôn nhân cận huyết thống xảy ra chủ yếu ở miền núi phía Bắc và Tây
Nguyên:
31

Số liệu tổng hợp, phân tích từ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009
Số liệu tổng hợp, phân tích từ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
33

35 hộ và 137 nhân khẩu), xã Hương Liên, huyện Hương Khê;
- Tỉnh Kon Tum: Năm 2012, qua khảo sát tại 6 xã thuộc 3 huyện Sa Thầy,
Ngọc Hồi và Kon Plông của Chi cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Kon
Tum đã phát hiện 56 cặp hôn nhân cận huyết thống/tổng số 350 cặp tảo hôn.
2. Nguyên nhân
Từ thực trạng về tình hình tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống cho thấy
có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống,
bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó,
nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân quan trọng nhất.
35

Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh và số liệu điều tra của Chi cục Dân số và KHHGĐ tỉnh Lai Châu.
Việt Nam là nước có tỷ lệ người mắc bệnh Thalassemia cao, với các thể α Thal, β Thal và HbE. Tỷ lệ mắc
bệnh cũng rất khác nhau giữa các dân tộc: ở người Ê đê và Khơme thì tỉ lệ HbE cao tới khoảng 40%; ở các dân
tộc thiểu số Mường, Thái, Tày cũng cao tới 10 - 25%, còn ở người Kinh tỉ lệ này từ 2 - 4% .
Năm 2009, Tổng cục DS&KHHGĐ phối hợp với Bệnh viện Nhi TW tiến hành khảo sát, lấy máu xét nghiệm
trong nhân dân của 3 xã Vĩnh Đồng, Đú Sáng, Nam Thượng của huyện Kim Bôi, Hòa Bình cho kết quả về tỷ lệ
mang gen bệnh Thalassemia tương ứng là 27,7% (khoảng 1.200 người), 24% và 18%.
36

14


2.1. Nguyên nhân khách quan
a) Do ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập
quán lạc hậu
Phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số tồn tại và ăn sâu trong nhận
thức của người dân từ nhiều đời nay và ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ trong đời
sống, sinh hoạt của phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số. Đối với đồng bào
dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán;

còn tồn tại ở các nhóm cộng đồng này. Báo cáo tổng kết của một số địa phương
cho thấy, tỷ lệ kết hôn trước tuổi luật định ở vùng cao, nơi đồng bào dân tộc
thiểu số sinh sống còn khá cao. Khi được tuyên truyền Luật hôn nhân và gia
đình, bà con hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, nhưng do phong tục,
tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường
dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm (15 - 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi). Vì chưa
đủ tuổi theo luật định, nên việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong
tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó
là một cặp vợ chồng.
- Về áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình:
Khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình quy định trách nhiệm của Nhà
nước và xã hội: “Vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn
nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản
sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6
của Luật quy định nguyên tắc: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những
phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những
nguyên tắc quy định tại Luật thì được tôn trọng và phát huy”. Tuy nhiên, qua
tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình cho thấy những quy định này tính
khả thi còn thấp, vì chỉ mới thể hiện được thái độ tôn trọng của nhà nước đối với
phong tục, tập quán mà chưa thực sự tạo căn cứ pháp lý rõ ràng và đầy đủ để các
cơ quan có liên quan áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân
và gia đình.
Về điều kiện để áp dụng tập quán: quy định về điều kiện áp dụng tập quán
trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là không cụ thể, rất khó có sự thống
nhất trong áp dụng. Điều kiện chung là những tập quán tốt đẹp thì được kế thừa,
phát huy, nhưng “tính chất tốt đẹp” lại là một giá trị trừu tượng, có thể được
hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Nội dung của giá trị này có thể thay đổi theo
từng giai đoạn phát triển của kinh tế - xã hội, phụ thuộc vào quan niệm của từng
cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội. Vì vậy, trong thực tế, rất khó xác

tập tục kết hôn theo nguyên tắc "nội hôn tộc người và ngoại hôn dòng họ", nghĩa
là chỉ cho phép nam nữ kết hôn với những người trong cùng dân tộc. Những
trường hợp hôn nhân ngoại tộc không được khuyến khích, thậm chí bị cấm đoán.
Theo đó, những người trong cùng một dòng họ (họ mẹ theo chế độ mẫu hệ ở
một số dân tộc thiểu số: Gia rai, Ba na, K'ho, Chu ru...; họ cha theo chế độ phụ
hệ, như các dân tộc Mông, Mạ,...) dù xa đến mấy đời cũng không được phép có
quan hệ hôn nhân với nhau. Nếu vi phạm điều này sẽ bị coi là loạn luân và bị
luật tục xử rất nặng. Những quy định này cho đến nay hầu như vẫn được tuân
thủ chặt chẽ. Tục lệ này đã cản trở chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và cũng
17


là một trong những hạn chế về hiệu lực của các quy định về kết hôn tại Chương
II của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi
tảo hôn, tổ chức tảo hôn; hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế
độ hôn nhân một vợ, một chồng chưa được thực hiện nghiêm túc và thiếu tính
khả thi ở vùng dân tộc thiểu số. Do trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của
nhiều bà con người dân tộc thiểu số còn hạn chế nên việc tự nguyện tự giác chấp
hành các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình còn gặp nhiều khó
khăn. Bên cạnh đó, việc xem xét, xử lý lý hành chính đối với các trường hợp vi
phạm là người dân tộc thiểu số lại càng khó khăn và không phải dễ thực hiện đối
với những người có thẩm quyền xử lý vi phạm. Nếu xử phạt ở mức thấp nhất là
cảnh cáo thì họ cũng không chấp hành bởi tính răn đe không cao, còn nếu áp
dụng hình thức xử phạt bằng tiền có tính răn đe cao hơn thì phần lớn những
người dân đó đều là dân nghèo không có tiền để nộp phạt, và trong trường hợp
đó, khả năng thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp phạt của chính quyền địa
phương là điều không thể thực hiện được. Do không có hình thức chế tài nào
khác nên các cặp vợ chồng nghèo vẫn tự do kết hôn khi chưa đủ tuổi mà không
lo bị xử phạt. Cũng có không ít cặp tảo hôn sẵn sàng lên xã nộp phạt. Họ coi

kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ chưa nhận thức được tầm quan trọng của
giáo dục, nâng cao dân trí, không khuyến khích con em họ đến trường mà muốn
con cái ở nhà làm việc giúp đỡ gia đình; mặt khác, rào cản về ngôn ngữ là một
trong những yếu tố quan trọng cản trở khả năng học tập của học sinh dân tộc
thiểu số khiến họ không theo kịp học sinh khác trong lớp dẫn đến tình trạng
không thích học và bỏ học.
Tỉ lệ biết chữ ở nhóm dân tộc thiểu số từ 10 tuổi trở lên ở mức thấp và có
sự chênh lệch lớn so với nhóm dân tộc Kinh (83,8% so với 96,8% năm 2012). Ở
nhóm tuổi 15-24, chỉ có 82,3% phụ nữ dân tộc thiểu số biết đọc biết viết (tỷ lệ
chung là 96,4%), nghĩa là cứ 5 phụ nữ dân tộc thiểu số ở nhóm tuổi 15-24 thì có
1 người sống trong các hộ gia đình dân tộc thiểu số không biết đọc biết viết; một
số tỉnh có tỉ lệ biết chữ đặc biệt thấp, như: Lai Châu (69,3%), Điện Biên
(73,5%), Hà Giang (76,0%), Sơn La (77,2%)39.
Thực tế cho thấy, đối với đồng bào dân tộc thiểu số do trình độ dân trí thấp,
nhận thức và ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế đã tác động làm gia tăng tình
trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, nhất là đối với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu
số.
b) Công tác tuyên truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao
37

TCTK: Kết quả điều tra đánh giá mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS4 và MICS5).
Theo kết quả điều tra quốc gia về lao động trẻ em do Bộ LĐ,TB&XH thực hiện năm 2012, có 9,6% tổng số trẻ
em trong độ tuổi 5-17 không đi học. Tỷ lệ không đi học tăng dần theo độ tuổi: 7,3% ở nhóm12-14 tuổi và 26,5%
ở nhóm 15-17 tuổi. Hai vùng có tỷ lệ trẻ em không đi học cao nhất là Tây Nguyên (12,2%) và Tây Nam bộ
(12,5%).
39
Nguồn Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ.
38

19

xuyên thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng một bộ phận người dân,
nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm
vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên
tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình đã cản trở hôn nhân tiến bộ và hiệu
lực, tính khả thi của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như Nghị định số
32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ, quy định về việc áp dụng Luật
20


hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số. Vì vậy, phần lớn trường hợp
tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống đều rơi vào các hộ nghèo, đối tượng vị thành
niên, thanh niên thất học, hiểu biết pháp luật hạn chế và việc tiếp cận với các
phương tiện thông tin đại chúng còn khó khăn.
c) Sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo
hôn, hôn nhân cận huyết thống còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết
Việc loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ tục tảo
hôn, hôn nhân cận huyết thống nói riêng ra khỏi đời sống xã hội đạt được hiệu
quả không nhỏ nếu có sự can thiệp một cách mạnh mẽ, kiên quyết từ phía cơ
quan địa phương. Tuy nhiên, trên thực tế tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống
vẫn còn tiếp diễn và một phần lỗi không nhỏ thuộc về chính quyền địa phương.
Và thực tế cho thấy, không chỉ những người dân mà cả gia đình cán bộ, Đảng
viên là lãnh đạo xã, phường cũng tiếp tay, thậm chí tảo hôn, hôn nhân cận huyết
thống còn diễn ra ngay trong gia đình của những người cán bộ này.
3. Hậu quả của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống
3.1. Ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh
Việc kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi vị thành niên 40 khi cơ
thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, thiếu hiểu biết, kinh nghiệm và chưa
sẵn sàng về mặt tâm sinh lý để mang thai và sinh con đã ảnh hưởng lớn tới sức
khỏe bà mẹ, sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh. Đây là nguyên
nhân làm gia tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 1

kinh tế- xã hội, tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu
số.
Tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống không chỉ đi ngược với thuần phong,
mỹ tục của người Việt mà còn vi phạm pháp luật và nguy hại hơn nữa, những
hậu quả để lại cho thế hệ tương lai thật khó lường. Thực tiễn và khoa học đã
chứng minh những trẻ em được sinh ra từ các cặp vợ chồng tảo hôn và hôn nhân
cận huyết thống có tỷ lệ mắc các bệnh dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, suy dinh
dưỡng, tử vong sơ sinh cao hơn so với những trẻ em bình thường khác. Đặc biệt
đối với các cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống, những đứa trẻ sinh ra có nguy
cơ rất cao mắc các bệnh dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da
vảy cá, nhất là bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia.
Thalassemia là bệnh di truyền bẩm sinh, là bệnh thiếu máu do tan máu với
hai biểu hiện nổi bật là thiếu máu và thừa sắt trong cơ thể. Nếu hai người mang
gen bệnh kết hôn với nhau thì khi sinh con có 25% khả năng bị bệnh, 50% mang
gen bệnh. Việt Nam được xếp vào khu vực có nguy cơ cao với khoảng hơn 5
triệu người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh, khoảng hơn 20.000 bệnh nhân cần
được điều trị và mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra đã bị bệnh. Ở nước ta, tỷ lệ
mang gen bệnh cao tập trung chủ yếu ở vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số.
Hôn nhân cận huyết thống là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ
người bị bệnh Thalassemia ở vùng miền núi, điển hình như: tỉnh Hòa Bình và
khu vực Tây Nguyên. Qua khảo sát, tiến hành xét nghiệm của Bệnh viện Nhi
Trung ương đối với 10.425 trường hợp, chủ yếu là phụ nữ có thai và học sinh
trung học phổ thông có độ tuổi tiền hôn nhân tại các huyện Kim Bôi, Ðà Bắc,
Lạc Thủy, Yên Thủy và Cao Phong của tỉnh Hòa Bình đã phát hiện có 1.422
42
43

Nguồn Bộ KHĐT: điều tra MICS4 năm 2011 và Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ năm 2013.
Nguồn Bộ KHĐT: Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ năm 2013


nhân cận huyết cao nhất cả nước;
Phần lớn các dân tộc thiểu số cư trú ở các tỉnh miền núi, vùng cao, biên
giới, nơi có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khó khăn nhất của cả nước.
Vùng Trung du miền núi phía Bắc (đặc biệt là Tây Bắc) và Tây Nguyên là hai
vùng có tỷ lệ và số lượng các dân tộc thiểu số cao nhất, tương ứng lần lượt là
54,26%, trên 30 DTTS và 34,04% với 47 dân tộc thiểu số cùng chung sống.
23


Trong giai đoạn 2010-2013, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong giảm
nghèo được cộng đồng Quốc tế đánh giá cao, đưa tỷ lệ giảm nghèo từ 14,2%
năm 2010 xuống còn 9,6% năm 2012. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo và tỷ lệ hộ
nghèo giữa vùng miền và các nhóm dân tộc còn có sự cách biệt. Tây Bắc, Đông
Bắc và Tây Nguyên là các vùng có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao nhất so với cả
nước, đồng thời cũng là các vùng có tỷ lệ tảo hôn, hôn nhân cận huyết cao
nhất44.
- Chịu ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ của các phong tục, tập quán, trong đó
có các hủ tục và quan niệm lạc hậu trong hôn nhân;
- Công tác truyền thông còn bất cập, hiệu quả chưa cao;
- Nhận thức, ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế;
- Chưa được sự quan tâm đúng mức của cấp ủy, chính quyền, tổ chức đoàn
thể các cấp và cộng đồng.

44

Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ: các vùng có tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo năm
2012 cao nhất so với tỷ lệ chung của cả nước (9,6%) là: miền núi Tây Bắc 28,55% (cao gấp xấp xỉ 3 lần so với tỷ
chung của cả nước), Đông Bắc 17,39% (cao gấp 1,8 lần so với tỷ chung); Tây Nguyên 15,58%(cao gấp 1,5 lần
so với tỷ lệ chung).


1. Biên soạn, cung cấp tài liệu, sản phẩm truyền thông; tài liệu tập huấn về
kiến thức, kỹ năng truyền thông, vận động, tư vấn pháp luật liên quan về hôn
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status