BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU THỦY
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO
THỎA THUẬN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM NĂM 2014
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số:60380103
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI MINH HỒNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự giúp đỡ của giáo
viên hướng dẫn. Những kết luận khoa học của Luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công
trình nghiên cứu nào khác. Tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm về Luận văn này nếu có bất kỳ sự tranh
chấp nào.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2015
Tác giả Luận văn
1.1.2.2 Đặc điểm
9
1.1.2.3 Ý nghĩa của việc thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa
13
thuận
1.2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật ở
17
Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.1 Vấn đề tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
17
1.2.2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật thời kỳ
20
Pháp thuộc
1.2.3 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật ở miền
21
Nam giai đoạn 1954 – 1975
1.2.4 Vấn đề chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật
ở miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975 và từ khi đất nước thống nhất đến nay
34
và Thương mại Thái Lan
1.3.5 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong Đạo luật Gia
35
đình Úc
Chƣơng II QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
39
THEO THỎA THUẬN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2014
2.1 Quy định chung về chế độ tài sản của vợ chồng
39
2.1.1 Nguyên tắc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng
39
2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng
40
2.1.3 Nguyên tắc bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình
42
2.3.3 Phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản
58
2.4 Sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
60
chồng
2.5 Một số đề xuất nhằm thực hiện có hiệu quả chế độ tài sản của
64
vợ chồng theo thỏa thuận
KẾT LUẬN
70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
71
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
HN&GĐ
QTHL
điều và biện pháp thi hành Luật
HN&GĐ năm 2014
: Quốc Triều Hình Luật
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay còn gọi là hôn ước đã được
thừa nhận rộng rãi và áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới. Pháp luật quy định chế độ
tài sản của vợ chồng được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo luật định, trong đó,
chế độ tài sản theo luật định chỉ áp dụng khi vợ chồng không có thỏa thuận về chế
độ tài sản. Ở châu Á, các nước như Ấn Độ, Indonexia, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Philipines, Singapo, Thái Lan...đều giải quyết chế độ tài sản của vợ chồng theo
hướng này. Mặc dù có những lo ngại về việc thực hiện chế độ tài sản của vợ chồng
theo thỏa thuận có thể đe dọa tính cộng đồng và truyền thống trong gia đình Á
Đông, nhưng quan điểm chung được thừa nhận vẫn là tôn trọng sự thỏa thuận của
vợ chồng về chế độ tài sản của họ.
Cũng như các nước khác trong khu vực, quyền tự định đoạt đối với tài sản cá
nhân là quyền hiến định ở nước ta. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình,
Nhà nước ta đặt ra nhiều hạn chế, trong đó chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài
sản theo luật định mà không phải là theo thỏa thuận. Xác định rằng, cho phép vợ
chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận chính là góp phần đảm bảo
thực hiện quyền tự định đoạt đối với tài sản của cá nhân, Luật hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) năm 2014 thay thế Luật HN&GĐ năm 2000 đã thừa nhận chế độ tài sản
của vợ chồng theo thỏa thuận. Đây là một sự chuyển biến lớn về tư tưởng của nhà
lập pháp Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng và là chủ đề được xã hội đặc biệt
tài sản này. Tuy nhiên, bên cạnh một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ
3
chồng theo thỏa thuận, Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu chế độ tài sản của vợ
chồng theo thỏa thuận trong phạm vi các quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam
hiện hành.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu bằng sự kết hợp nhiều phương pháp như: phân
tích, đánh giá, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch sử…trên cơ sở phương pháp luận
của Chủ nghĩa duy vật, Chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm xem xét, đánh giá vấn đề một
cách toàn diện.
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận xung quanh
chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, đánh giá các quy định hoàn toàn mới
về chế độ tài sản này trong Luật HN&GĐ năm 2014 từ đó hoàn thiện và góp phần
bảo đảm tính khả thi của các quy định đó.
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Khái quát một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa
thuận;
- Tìm hiểu quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong
pháp luật ở Việt Nam qua các thời kỳ và trong pháp luật của một số nước trên thế
giới để so sánh, đối chiếu, trên cơ sở đó đưa ra nhận xét và đánh giá chế độ tài sản
của vợ chồng theo thỏa thuận trong Luật HN&GĐ năm 2014;
- Phân tích các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong
Luật HN&GĐ năm 2014, từ đó đưa ra nhận xét, hoàn thiện các quy định này.
6. Những điểm mới của Luận văn
chung. Những quy định này hợp thành một chế độ pháp lý, được gọi là chế độ tài
sản của vợ chồng.
Ở Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng từ lâu đã được pháp luật quy định
nhưng lại chưa được định nghĩa trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Từ điển Luật
học giải thích một cách ngắn gọn: “chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy
định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và tài
sản riêng” [5, tr.129]. Cụ thể hơn, theo TS. Nguyễn Văn Cừ, “chế độ tài sản của vợ
chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh
quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng; bao gồm các quy định về căn cứ, nguồn gốc
xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ,
chồng đối với các loại tài sản đó; quy định các trường hợp và nguyên tắc chia tài
sản chung của vợ chồng” [11, tr.1].
Hai định nghĩa trên đều đã đưa ra những nội dung cơ bản về chế độ tài sản
của vợ chồng. Nhưng, chế độ tài sản này chỉ mang tính cách là chế độ tài sản của vợ
6
chồng theo pháp luật Việt Nam trước đây mà không khái quát được hết về chế độ
tài sản của vợ chồng nói chung theo pháp luật của các nước trên thế giới cũng như
pháp luật Việt Nam hiện hành. Hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam
đã thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, trong đó pháp luật ghi
nhận các nội dung cơ bản của chế độ tài sản của vợ chồng không bắt buộc phải do
“quy định của pháp luật” hay “quy phạm pháp luật” quy định mà có thể do thỏa
thuận của các bên quy định. Nói cách khác, các định nghĩa trên cũng không còn phù
hợp với chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 2014.
Do đó, theo chúng tôi, có thể đưa ra định nghĩa về chế độ tài sản của vợ
chồng như sau: Chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản bao gồm tất cả các
quy định về quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng, gồm: căn cứ, nguồn gốc xác lập
tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối
thống các quy phạm pháp luật riêng.
Ngược lại, nhiều nước từ lâu đã thừa nhận cả hai loại chế độ tài sản của vợ
chồng là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản pháp định ( áp dụng trong
trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận về chế độ tài sản) như Mỹ, Pháp, Bỉ, Hà
Lan, Đức, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Đan Mạch, Thái Lan, Úc, Newzeland, Nhật
Bản…Nhà làm luật ở các nước này quan niệm thuần túy coi hôn nhân như hợp đồng
dân sự, vì vậy đã sớm chấp nhận sự thỏa thuận của vợ chồng trong việc lựa chọn
chế độ tài sản. Các quy định liên quan đến sở hữu chung của vợ chồng thường được
các nước này quy định ngay trong Bộ luật Dân sự [12]. Chẳng hạn, Điều 1465
BLDS và Thương mại Thái Lan quy định: “Khi vợ chồng không có sự thỏa thuận
8
đặc biệt về tài sản của họ trước khi kết hôn, thì quan hệ giữa họ về tài sản sẽ được
điều chỉnh bởi những quy định của chương này…”
Ở Việt Nam, nếu như chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật tồn tại từ
thời phong kiến (trong Bộ Luật Hồng Đức) cho đến nay, thì chế độ tài sản theo thỏa
thuận của vợ chồng chỉ được ghi nhận trong một số văn bản theo từng thời kỳ: Bộ
Dân Luật Bắc Kì năm 1931; Bộ Dân Luật Trung Kì năm 1936 (phỏng theo Bộ Dân
Luật Pháp năm 1804); Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm;
Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 dưới chế độ Nguyễn Khánh; Bộ Luật Dân sự ngày
20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Trong hệ thống pháp luật HN&GĐ của
Nhà nước Việt Nam từ năm 1945 đến nay, chỉ đến Luật HN&GĐ năm 2014 chế độ
tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận mới được thừa nhận song song với chế độ tài
sản của vợ chồng theo pháp luật.
1.1.2 Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
1.1.2.1 Định nghĩa
Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa chế độ tài sản
của vợ chồng theo thỏa thuận hay còn gọi là hôn ước. Theo TS. Nguyễn Văn Cừ,
cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa
vụ của vợ, chồng đối với các loại tài sản đó và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ
chồng.
1.1.2.2 Đặc điểm
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là một trong hai loại chế độ tài
sản của vợ chồng được ghi nhận trong pháp luật về hôn nhân và gia đình. Bởi vậy,
chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có đầy đủ các đặc điểm của chế độ tài
sản của vợ chồng:
10
+ Thứ nhất, chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này phải có quan
hệ hôn nhân hợp pháp. Để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các bên nam,
nữ phải có đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự và phải tuân thủ các
điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật về HN&GĐ. Mặt khác, chế độ tài
sản của vợ chồng cũng không tồn tại giữa những người chỉ chung sống với nhau
như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Nói cách khác, chủ thể của quan hệ sở
hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng phải là vợ, chồng được pháp luật công nhận
qua sự kiện kết hôn hợp pháp.
+ Thứ hai, xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình đối với xã hội, pháp
luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng luôn hướng đến mục tiêu bảm đảm
quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng. Chế độ tài sản
của vợ chồng dù theo thỏa thuận hay theo luật định vẫn đảm bảo trên hết quyền lợi
của gia đình, đặc biệt là những nhu cầu thiết yếu để duy trì cuộc sống. Bên cạnh đó,
chế độ tài sản của vợ chồng cũng góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân vợ, chồng,
trong đó, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận giúp vợ, chồng có thể đảm
bảo tối ưu quyền tự định đoạt của riêng mình đối với tài sản cá nhân.
+ Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Mặc dù có thể được thỏa thuận trước khi hôn nhân xác lập (đối với chế độ tài sản
trong việc đảm bảo quyền tự định đoạt tài sản theo ý chí của cá nhân vợ, chồng.
Hầu hết các nước thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đều
quy định việc thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được thực hiện một
cách tự nguyện trước khi kết hôn. Theo đó, trước khi bước vào hôn nhân, hai bên
vợ, chồng thông qua hoạt động thỏa thuận đã thể hiện rõ phần nào ý chí cá nhân đối
với tài sản của mình. Mặc dù chế độ tài sản pháp định cũng ghi nhận sự thỏa thuận
12
của vợ chồng trong một số trường hợp nhất định, tuy nhiên chúng tôi cho rằng việc
thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn, tức là khi nam, nữ chưa xác lập quan hệ vợ
chồng sẽ đảm bảo tính tự nguyện, bình đẳng cao hơn. Do chưa chịu ảnh hưởng của
các mối quan hệ gia đình, quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân cũng do đó mà dễ
dàng được đảm bảo hơn.
+ Thứ hai, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận phải được lập thành
văn bản trước khi kết hôn, tuy nhiên nó chỉ phát sinh hiệu lực trong thời kỳ hôn
nhân. Nếu như việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp
luật hoàn toàn không cần vợ, chồng thể hiện bằng ý chí (mặc nhiên thừa nhận nếu
vợ, chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận), thì chế độ tài sản của vợ
chồng theo thỏa thuận chỉ được công nhận khi ý chí của các bên tham gia thỏa
thuận được thể hiện rõ ràng bằng văn bản. Như trên đã nêu, thỏa thuận về chế độ tài
sản của vợ chồng phải được thực hiện trước khi kết hôn, do đó văn bản thể hiện sự
thỏa thuận này cũng cần phải được lập trước khi kết hôn. Chế độ tài sản của vợ
chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân nên văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản
của vợ chồng chỉ có hiệu lực khi hôn nhân tồn tại.
+ Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có phần đề cao quyền
lợi cá nhân của vợ, chồng hơn so với chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
Mặc dù vẫn hướng tới việc đảm bảo quyền lợi chung của gia đình, song chế độ tài
sản này cho phép vợ, chồng có thể tự do hơn trong việc thực hiện quyền sở hữu tài
sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Việc thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo
thỏa thuận có một số ý nghĩa quan trọng sau:
+ Thứ nhất, việc thừa nhận chế độ tài sản ước định đã bảo đảm quyền tự định
đoạt của công dân về sở hữu tài sản. Điều này là hoàn toàn phù hợp với tinh thần
14
của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và quy định
của BLDS năm 2005. Cụ thể, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã tuyên bố:
“1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng,
bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật;
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”
Điều 32 Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định:
“1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở,
tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các
tổ chức kinh tế khác;
2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.”
Điều 15 BLDS Việt Nam năm 2005 quy định:
“Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:
1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;
2. Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản;
3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.”
Có thể thấy, chế độ tài sản pháp định theo quy định của Luật HN&GĐ năm
2014 cũng đã thể hiện sự tôn trọng quyền công dân trong quan hệ sở hữu tài sản của
vợ chồng bằng nhiều quy định ghi nhận sự thỏa thuận như: chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung (Điều 35), thỏa thuận đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 36),
16
sản, coi đây là cách thức hiện đại và tiến bộ để tránh những mâu thuẫn về tài sản
trong hôn nhân, thì quan hệ giữa vợ chồng không những không bị thỏa thuận này
làm cho xấu đi mà còn được củng cố vững chắc hơn. Người Việt Nam có câu “mất
lòng trước, được lòng sau”. Vì vậy, việc cụ thể hóa – “rạch ròi” quan hệ tài sản
trước khi kết hôn không hề tạo ra sự nghi ngại, ngăn cách giữa hai vợ chồng, thể
hiện sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, không có ý thức xây dựng cuộc sống gia đình bền
vững như nhiều người lầm tưởng.
+ Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thừa nhận giúp
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba – những người khác có liên
quan đến chế độ tài sản của vợ chồng. Khi vợ, chồng tham gia vào các giao dịch
dân sự với bên thứ ba, nhờ có thỏa thuận rõ ràng, cụ thể về tài sản của vợ, chồng mà
người thứ ba tham gia giao dịch có thể đánh giá được mức rủi ro khi họ tiến hành
hoạt động mua bán, tặng cho, cầm cố tài sản...với vợ hoặc chồng. Bởi, chế độ tài
sản của vợ chồng theo thỏa thuận với các nội dung cụ thể được thể hiện bằng văn
bản giúp bên thứ ba dễ dàng xác định được nghĩa vụ vợ, chồng phải thực hiện được
đảm bảo bằng tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng.
+ Thứ năm, trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu phân chia tài sản, việc
thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận giúp Tòa án giải quyết việc
phân chia tài sản một cách công bằng và nhanh chóng. Chế độ tài sản theo thỏa
thuận đã khắc phục được yếu điểm của chế độ tài sản theo luật định trong trường
hợp này. Nếu như với chế độ tài sản pháp định, Tòa án thường gặp rất nhiều khó
khăn trong việc xác định cụ thể đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ
chồng nằm trong khối tài sản tranh chấp thì với chế độ tài sản ước định, thỏa thuận
về chế độ tài sản của vợ chồng được thể hiện dưới dạng văn bản, lập trước khi kết
hôn là cơ sở, căn cứ quan trọng để Tòa án giải quyết vụ việc một cách dễ dàng. Như
hôn nhân (tần tảo điền sản). Sự quy định rõ thành phần khối tài sản chung của vợ
chồng là điểm rất tiến bộ và độc đáo của pháp luật nhà Lê.
Tài sản riêng của vợ chồng là những tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước
khi kết hôn, do được thừa kế từ gia đình của mỗi người. Vợ chồng đều có quyền sở
hữu đối với những tài sản này. Những tài sản này được quản lý chung và khai thác
sử dụng chung. Tuy nhiên, tài sản riêng chỉ tạm thời gộp chung để vợ chồng quản lý
trong thời gian hôn nhân tồn tại. Khi li hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về
người đó và họ có quyền mang theo, trừ trường hợp người vợ có lỗi như gian dâm
thì điền sản phải để lại cho chồng: “Gian dâm với vợ người khác thì xử tội lưu hay
tội chết; với vợ lẽ người khác thì giảm một bậc. Với người quyền quý thì sẽ xử cách
khác, kẻ phạm tội đều phải nộp tiền tạ như luật định. Vợ cả, vợ lẽ phạm tội đề xử tội
lưu, điền sản trả lại cho người chồng. Nếu là vợ chưa cưới thì đôi bên đều được
giảm một bậc”(Điều 401) [38, tr.417].
Tuy QTHL đã có những bước cải tiến lớn trong việc phân định tài sản riêng,
chung trong quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng nhưng những quy định trong bộ
luật này vẫn bị ràng buộc bởi rất nhiều yếu tố mang tính phân biệt nam, nữ như:
người vợ được hưởng phần chia từ điền sản của chồng khi chồng mất, không được
nhận phần tài sản đó làm của riêng, nếu lấy chồng khác phải trả lại cho những người
thừa kế khác, nhưng chồng đi lấy vợ khác không bị tước đoạt phần điền sản…Chế
độ tài sản của vợ chồng trong Bộ luật này mặc dù đã có bước tiến vượt bậc so với
pháp luật thời Lý, thời Trần, quyền lợi của phụ nữ đã được bảo vệ hơn, tính bình
đẳng được thể hiện rõ hơn, song vẫn còn nhiều hạn chế do ảnh hưởng của tư tưởng
phụ quyền.
Đến pháp luật thời nhà Nguyễn (1802-1945), với Bộ luật Gia Long hay còn
gọi là Hoàng Việt Luật lệ (HVLL), các quy định về tài sản của vợ chồng có phần
19