BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP TRƢỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HỨNG THÖ TRONG GIỜ HỌC GDTC CHÍNH KHÓA
CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Mã số: LH - 2011 - 03 - ĐHL - HN
Chủ nhiệm đề tài : Th.s. Đỗ Thị Tƣơi & CN. Lƣu Thị Nhân
Thƣ ký
: CN. Nguyễn Trọng Quang
Hà Nội - 11/2011
Đề tài này đƣợc thực hiện bởi sự phối hợp giữa:
* Bộ môn GDTC - Trường Đại học Luật Hà Nội
* Bộ môn Lý luận đại cương Trường Đại học TDTT 1
* Văn phòng Đoàn Thanh Niên - Trường Đại học Luật Hà Nội
* Phòng Công tác sinh viên - Trường Đại học Luật Hà Nội
DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1.
GVC. Đoàn Trung
2.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TDTT
: Thể dục thể thao
GDTC
: Giáo dục thể chất
GD - ĐT
: Giáo dục - đào tạo
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
CLB
: Câu lạc bộ
VĐV
: Vận động viên
MỤC LỤC
Trang
yêu cầu tâm lý của hoạt động sư phạm GDTC.
7. Chuyên đề 7: Thực trạng hứng thú học tập môn GDTC của sinh viên 121
Trường đại học Luật Hà Nội.
8. Chuyên đề 8: Nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hứng thú khi học môn GDTC 134
của sinh viên Trường đại học Luật Hà Nội.
9. Chuyên đề 9: Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hứng thú học tập 141
môn GDTC của sinh viên Trường đại học Luật Hà Nội.
10. Chuyên đề 10: Đánh giá hiệu quả các biện pháp đã đề xuất
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
154
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây sự lớn mạnh của nền kinh tế Thế giới và các
nƣớc trong khu vực đã tạo tiền đề thúc đẩy Việt Nam đi trên con đƣờng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Để làm tốt điều này Đảng và nhà nƣớc ta
đã không ngừng quan tâm đến giáo dục và phát triển giáo dục.
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc đòi hỏi giáo dục phải
tạo ra những con ngƣời phát triển toàn diện về tr , đức, thể, m và nghề
nghiệp. V vậy GTDC trong nhà trƣờng c ng có nghĩa to lớn trong việc phát
huy và bồi dƣỡng nhân tố con ngƣời, góp phần nâng cao thể lực giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa và
phát huy tinh thần dân tộc của con ngƣời Việt Nam, tăng cƣờng và giữ vững
an ninh quốc phòng cho đất nƣớc.
Sinh viên Việt Nam ngày nay đang đƣợc sống và học tập dƣới một chế
độ ƣu việt - chế độ XHCN, đƣợc thừa hƣởng những thành quả của cha ông ta
để lại trong sự nghiệp chiến đấu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, đƣợc Đảng và
nhà nƣớc hết sức quan tâm chăm sóc. Trong di chúc của Hồ Chủ Tịch ngƣời
“ Nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú trong giờ học
GDTC chính khoá của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trong thời gian gần đây, liên quan đến đề tài: Nghiên cứu một số biện
pháp nhằm nâng cao hứng thú trong giờ học GDTC chính khoá của sinh viên
trường Đại học Luật Hà Nội, đã có một số công tr nh khoa học có liên quan
đƣợc một số tác giả quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến một số công tr nh
nhƣ:
1. Trƣơng Gia Quân ( 2001 ) – Đề tài khoa học Các phương pháp gây
hứng thú cho sinh viên trong giờ học thể dục. NXB Triết Giang
2
Về cơ bản tác giả c ng đi sâu vào nghiên cứu thực trạng c ng nhƣ
nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hứng thú trong giờ học GDTC. Tuy nhiên tác giả
không đề cập nhiều đến vai trò của nhà trƣờng trong việc nâng cao hứng thú cho
học sinh bởi lẽ Trung Quốc là một nƣớc phát triển nên học đầu tƣ về cơ sở vật
chất cho ngành giáo dục là rất lớn, một số trƣờng trung học c ng đã có sân vận
động trải nhựa tổng hợp. Cho nên tác giả không đề cập nhiều đến vấn đề cơ sở
vật chất mà chỉ tập trung chủ yếu vào hai đối tƣợng “ Giáo viên – Học sinh”
2. Lê Thu Hằng ( 2007 ) – Đề tài khoa học Bước đầu tìm hiểu hứng thú
với môn chuyên sâu Điền kinh của sinh viên ĐHTDTTTW1.
Tác giả c ng có nghiên cứu về hứng thú học tập của sinh viên, tuy nhiên
tác giả lại không đi sâu nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến việc thiếu hứng thú
trong giờ học mà tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về những yếu tố gây nên hứng
thú đối với việc học môn chuyên sâu Điền Kinh.
3. Lê Thị Lâm ( 2008 ) – Đề tài khoa học Hứng thú học tập môn tâm lý
học của sinh viên Trường Đại học sư phạm Đà Nẵng.
Ở đây tác giả c ng chỉ mới đề cập đến những nguyên nhân dẫn tới sự
nhóm tác giả đã đề ra những nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở l luận của đề tài:
+ Những đặc t nh cơ bản về tâm sinh lý, diễn biến khả năng lao động tr óc,
cơ sở sinh lý hoạt động thể lực của sinh viên.
+ Lịch sử nghiên cứu về vấn đề “hứng thú”
+ Lý luận chung về “hứng thú” và “hứng thú học tập”.
+ Vai trò của “hứng thú” trong hoạt động TDTT và những yêu cầu tâm lý của
hoạt động sƣ phạm GDTC.
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Thực trạng công tác GDTC Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
4
+ Thực trạng sử dụng các h nh thức tổ chức và phƣơng pháp dạy học môn
GDTC Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
+ Thực trạng hứng thú học tập môn GDTC của sinh viên Trƣờng đại học Luật
Hà Nội.
+ Nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hứng thú khi học môn GDTC của sinh viên
Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
+ Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDTC của
sinh viên Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
+ Đánh giá hiệu quả các biện pháp đã đề xuất
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong đề tài, các tác giả sẽ sử dụng chủ yếu các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp phân t ch và tổng hợp tài liệu
- Phƣơng pháp phỏng vấn
- Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm
- Phƣơng pháp kiểm tra sƣ phạm
- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
- Chuyên đề 7: Thực trạng hứng thú học tập môn GDTC của sinh viên
Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
- Chuyên đề 8: Nguyên nhân dẫn tới sự thiếu hứng thú khi học môn
GDTC của sinh viên Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
- Chuyên đề 9: Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hứng thú học
tập môn GDTC của sinh viên Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
- Chuyên đề 10: Đánh giá hiệu quả các biện pháp đã đề xuất
8. Tổ chức thực hiện:
6
Tháng 1/2011 k hợp đồng nghiên cứu khoa học với Hiệu trƣởng Trƣờng
Đại Học Luật Hà Nội về việc thực hiện đề tài.
Tháng 2/2011 tiến hành cuộc họp giữa chủ nhiệm đề tài với nhóm tác
giả về việc triển khai thực hiện đề tài, thu thập số liệu để phát cho cộng tác
viên nghiên cứu.
Tháng 3/2011 các cộng tác viên nhận chuyên đề và bắt đầu việc nghiên
cứu.
Tháng 7/2011 họp trao đổi giữa chủ nhiệm đề tài với các cộng tác viên
về những vƣớng mắc, hƣớng giải quyết trong quá tr nh nghiên cứu, viết bài.
Tháng 11/2011 thu bài của các cộng tác viên, chủ nhiệm đề tài biên tập.
góp ý cho các cộng tác viên sửa bài cho phù hợp với yêu cầu.
Tháng 1/2012 nộp đề tài cho phòng quản lý khoa học.
7
PHẦN THỨ HAI
BÁO CÁO TỔNG THUẬT VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN & CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
định thành t ch của toàn bộ hoạt động (nhƣ trong cử tạ là sức mạnh, chạy việt
dã là sức bền). Các tố chất vận động đƣợc phát triển thống nhất với k năng
vận động. Sự h nh thành k năng vận động bao giờ c ng phụ thuộc vào mức
độ phát triển các tố chất vận động và ngƣợc lại k năng vận động góp phần
làm cho các tố chất vận động hoàn thiện dần.
1.2. Lịch sử nghiên cứu về vấn đề “hứng thú”.
* Trên thế giới:
Những công tr nh nghiên cứu về hứng thú trên Thế Giới xuất hiện tƣơng đối
sớm và ngày càng đƣợc phát triển. Khi nghiên cứu về hứng thú các nhà tâm lý
học đã đi theo các hƣớng sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu lý luận chung, đại cương về hứng thú: X. L.
Rubinstein, Ch. Buhler, M. F Belaep, X. A. Ananhin, B. M. Chieplôp...
- Thứ hai, nghiên cứu sâu về hứng thú nhận thức: I. V. Lepkôp, G. I.
Sukina, N. G. Marôzôva, A. G. Côvaliôp, A. V. Daparôgiet...
- Thứ ba, nghiên cứu về hứng thú học tập các môn học của học sinh: K.
Đ. Usinxky, A. I. Ghecxen, V. G. Bêlinxky, N. G. Secnƣsepxky, N. A.
Đapraliulôp, A. Packhudôp...
- Thứ tƣ, nghiên cứu các con đường, phương pháp nghiên cứu hứng
thú, tác động đến hình thành, phát triển hứng thú: I. K. Strong, V. G. Ivanôp,
D. Super , V. N. Marcôva...
Qua các công tr nh nghiên cứu trên chứng tỏ các nhà tâm lý học ở các nƣớc
đã rất quan tâm nghiên cứu những vấn đề lý luận của hứng thú c ng nhƣ việc
áp dụng chúng vào thực tiễn hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trƣờng
để phát triển hứng thú nhận thức của học sinh.
* Trong nƣớc:
Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua c ng đã có khá nhiều công tr nh
nghiên cứu về hứng thú, theo một số hƣớng sau:
9
Hứng thú học tập ch nh là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối
tƣợng của hoạt động học tập, v sự cuốn hút về mặt t nh cảm và ý nghĩa thiết thực
của nó trong quá tr nh nhận thức và trong đời sống của cá nhân. Hứng thú học tập
đƣợc h nh thành và phát triển qua 3 giai đoạn (rung động định kỳ, thái độ nhận
thức có xúc cảm tích cực với đối tượng,hứng thú có thể trở thành xu hướng cá
nhân). Việc nắm đƣợc các giai đoạn h nh thành và phát triển của hứng thú học tập,
sẽ giúp ngƣời giáo viên đƣa ra những biện pháp hợp lý nhằm h nh thành và phát
triển hứng thú học tập ở học sinh từ thấp đến cao.
1.4. Vai trò của “hứng thú” trong hoạt động TDTT và những yêu cầu tâm lý
của hoạt động sƣ phạm GDTC.
* Vai trò của hứng thú trong hoạt động thể thao
Hứng thú có một ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống, hoạt động của con
ngƣời. Con ngƣời cảm thấy thoải mái v có hứng thú. Hứng thú k ch th ch t nh
t ch cực của con ngƣời, hứng thú làm tăng sức làm việc của cá nhân, có sức
chịu đựng dẻo dai và làm việc một cách say sƣa.
Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá tr nh nhận thức. V có quan hệ với chú ý và
t nh cảm nên khi đã có hứng thú th cá nhân hƣớng toàn bộ quá tr nh nhận thức
vào đối tƣợng khiến quá tr nh đó nhạy bén và sâu sắc hơn. Hứng thú làm hiệu quả
nhận thức đƣợc nâng cao, con ngƣời hoạt động không cảm thấy mệt mỏi.
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng của con ngƣời để thỏa mãn hoạt động, khi
đó hứng thú trở thành động cơ thú đẩy con ngƣời hoạt động. Nhờ có hứng
thú, con ngƣời nảy sinh những t nh cách tốt đẹp nhƣ: kiên tr , độc lập...Hứng
thú phát triển sâu sắc sẽ tạo ra nhu cầu gay gắt của cá nhân. Cá nhân nhận
thấy cần phải hành động để thỏa mãn hứng thú đó. Những hành động phù hợp
với hứng thú thƣơng đƣợc tiến hành một cách hết sức tự giác, đầy t nh sáng
tạo nên bao giờ c ng có kết quả.
Hoạt động thể thao là một dạng hoạt động đặc biệt bởi nó đòi hỏi sự căng
thẳng về thể chất và tâm lý tối đa trong thi đấu và trong các buổi huấn luyện.
Mặt khác, hoạt động thể thao mang t nh chất tự nguyện thuần túy, hiệu quả
một cách thƣờng xuyên c ng nhƣ các bệnh lý tiềm ẩn có liên quan đến hoạt
động thể lực. V vậy, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữ hai đơn vị th hồ sơ sức
12
khỏe của sinh viên sẽ giúp cho quá tr nh quản lý giảng dạy GDTC đƣợc thuận
lợi hơn. Bộ môn GDTC sẽ nắm đƣợc lý lịch sức khỏe của sinh viên để tiến
hành phân loại sức khỏe sinh viên trong quá tr nh giảng dạy cho phù hợp.
Tình hình cán bộ giảng dạy: Trong quá tr nh xây dựng và phát triển của
Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, đội ng cán bộ giảng dạy đã không ngừng phát
triển về chuyên môn và ngày càng nâng cao chất lƣợng, tr nh độ ch nh trị,
tr nh độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng
cao chất lƣợng đào tạo. Hiện tại một nửa số giáo viên là giáo viên trẻ, có thời
gian công tác dƣới 5 năm, đó c ng là một mặt hạn chế v giáo viên chƣa t ch
l y đƣợc nhiều kinh nghiệm giảng dạy. Tuy nhiên đây lại là lực lƣợng có thể
tiếp cận khoa học, có thể học tập nâng cao tr nh độ để trở thành những cán bộ
có tr nh độ cao, đây c ng là một vấn đề có t nh t ch cực và khi căn cứ vào
mục tiêu của nhà trƣờng về đội ng giảng viên, qua so sánh về tr nh độ giảng
viên với các đơn vị khác trong trƣờng cho thấy tỷ lệ giảng viên có tr nh độ sau
đại học là rất thấp (1 giảng viên ch nh,1thạc s ). Do vậy công tác đào tạo, bồi
dƣỡng và nâng cao tr nh độ giảng viên hiện nay là rất cấp bách để đạt mục
tiêu 90% giảng viên có tr nh độ sau đại học của nhà trƣờng.
Mặt khác, số lƣợng sinh viên mỗi khóa của trƣờng hiện khoảng 1620
sinh viên, tỷ lệ sinh viên/giáo viên ở mức 232/1 giáo viên. Đây là một tỷ lệ
cao làm cho mật độ dày và cƣờng độ làm việc lớn ảnh hƣởng rất nhiều đến
quá tr nh giảng dạy và chuẩn bị giáo án. Việc tổ chức giờ học không còn đủ
thời gian để thực hiện đầy đủ theo yêu cầu, khả năng quản lý, bao quát và
điều khiển của giáo viên trong giờ dạy còn hạn chế. Hiện tại và trong những
năm tới khi nhà trƣờng mở thêm quy mô đào tạo th với đội ng giáo viên trên
không thể đáp ứng nhu cầu. V vậy có thể coi đây là một trong những nguyên
ngành TDTT ban hành. Quá tr nh giảng dạy lý thuyết đã giúp cho sinh viên có
nhận thức đúng đắn về vị tr , vai trò và tác dụng của công tác GDTC trong
nhà trƣờng, trong tự rèn luyện sức khỏe c ng nhƣ cung cấp đƣợc những hiểu
biết k thuật về động tác và nguyên tắc tập luyện, rèn luyện thân thể và thi
14
đấu thể thao. Nhƣng việc bố tr toàn bộ nội dung lý thuyết vào một học kỳ là
chƣa hợp lý làm giảm thời lƣợng vận động của sinh viên trong học kỳ đó.
- Phần thực hành:
+ Giảng dạy k thuật đƣợc tiến hành trong các giờ lên lớp theo thời
khóa biểu của trƣờng nhƣng việc bố tr 5 tiết/1 buổi làm ảnh hƣởng nhiều tới
sức khỏe của sinh viên và làm giảm chất lƣợng học tập môn học GDTC.
+ Ngoài các môn bắt buộc th số lƣợng các môn thể thao tự chọn còn
đơn điệu, áp đặt. Sinh viên không đƣợc học theo nguyện vọng riêng dẫn đến
chƣa k ch th ch đƣợc sự say mê, tự giác tập luyện của sinh viên mà nguyên
nhân cơ bản là cơ sở vật chất để phục vụ giảng dạy các môn thể thao tự chọn
còn nhiều khó khăn.
+ Toàn bộ nội dung chƣơng tr nh môn học GDTC chỉ mới áp dụng cho
những sinh viên có sức khỏe trung b nh còn những sinh viên có sức khỏe yếu
mới chỉ dừng lại ở việc kiểm tra lý thuyết thay thế. Chƣơng tr nh chƣa có sự
phân loại sức khỏe sinh viên khi nhập trƣờng để tiến hành phân nhóm khi tập
luyện cho phù hợp với các đối tƣợng sinh viên, nhóm sinh viên có sức khỏe
tốt vẫn tham gia tập luyện nhƣ nhóm trung b nh. Nhƣ vậy chƣa đạt đƣợc mục
đ ch, yêu cầu của GDTC là củng cố, giữ g n và nâng cao sức khỏe ngƣời tập.
Ngoại khóa: Giáo dục thể chất không chỉ là một môn học mà còn góp
phần nâng cao sức khỏe thể chất của học sinh, sinh viên.Tuy nhiên, trong sinh
viên hiện nay còn tồn tại tƣ tƣởng cho rằng Giáo dục thể chất chỉ là một môn
phụ. Mặc dù thời gian qua công tác GDTC của trƣờng Đại học Luật Hà Nội
của sinh viên mới đƣợc phát triển.
Mặt khác Bộ môn GDTC của trƣờng chƣa thể hiện hết chức năng
nhiệm vụ của m nh là tham mƣu cho Ban giám hiệu để chỉ đạo các hoạt động.
Bộ môn mới chỉ tham gia một nhánh nhỏ trong sơ đồ quản lý là các đội tuyển
thể thao, câu lạc bộ sinh viên mà chủ yếu là mang t nh tự phát và tự đóng góp
của giáo viên và sinh viên chứ chƣa có sự đầu tƣ của nhà trƣờng. Đây c ng là
một nguyên nhân làm ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động thể thao phong trào
của sinh viên.
16
2.2. Thực trạng sử dụng các h nh thức tổ chức và phƣơng pháp dạy học môn
GDTC Trƣờng đại học Luật Hà Nội.
Để t m hiểu và đánh giá thực trạng sử dụng các h nh thức tổ chức dạy
học và phƣơng pháp dạy học cho sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, đề
tài đã tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi đối với các giáo viên trong Bộ môn
GDTC của trƣờng.
Kết quả khảo sát cho thấy thực trạng sử dụng h nh thức tổ chức và
phƣơng pháp dạy học môn GDTC Trƣờng Đại học Luật Hà Nội còn tƣơng
đối đơn giản. Các h nh thức tổ chức dạy học chủ yếu đƣợc sử dụng là h nh
thức dạy học ch nh khóa theo lớp học từ 50 - 60 ngƣời. Trong phân nhóm tập
luyện chủ yếu phân nhóm theo nhóm học tập cố định. Về phƣơng pháp dạy
học chủ yếu dùng phƣơng pháp giảng dạy truyền thống là phƣơng pháp luân
lƣu dòng chảy và tập luyện lặp lại. Việc kết hợp các phƣơng pháp nhằm phát
huy t nh t ch cực và nâng cao lƣợng vận động nhƣ phƣơng pháp trò chơi,
phƣơng pháp tập luyện vòng tròn...còn t hoặc không sử dụng. Ch nh v vậy
đã không khuấy động đƣợc t nh t ch cực chủ động sáng tạo của ngƣời học và
làm cho sinh viên vẫn rơi vào thế tiếp thu một cách thụ động. Rõ ràng là việc
sử dụng các phƣơng pháp dạy học truyền thống của các giáo viên Bộ môn
GDTC Trƣờng Đại học Luật Hà Nội vẫn chƣa tiếp cận đƣợc phƣơng pháp dạy
thấp hơn so với số phiếu trả lời ở mức 3, chỉ có 2 chỉ tiêu “Đến lớp đúng giờ”
và “Không bỏ giờ học GDTC” là có số phiếu trả lời ở mức 3 thấp (12% và
17.5%). Nhƣ vậy sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội đã không có hứng
thú học môn GDTC ngay trong nhận thức của các em.
* Biểu hiện trong giờ học:
Chúng tôi sử dụng ch nh 15 chỉ tiêu trên để quan sát biểu hiện hứng thú
của các em trong giờ học Bóng chuyền. Kết quả cho thấy số sinh viên không
chú ý luôn chiếm cao hơn so với số sinh viên chú ý trong toàn bộ nội dung
18
giờ học. Chỉ có hai chỉ tiêu “Đến lớp đúng giờ” và “Không bỏ giờ học
GDTC” là có tỷ lệ không chú ý thấp chiếm 30.3% và 30.6%.
Nhƣ vậy thông qua phỏng vấn c ng nhƣ quan sát sƣ phạm ta có thể
thấy rằng sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội không quan tâm nhiều đến
môn học GDTC cả về ý thức, thái độ lẫn hành vi.
Từ việc không hứng thú (không th ch) học môn GDTC nhƣ vậy th kết
quả học tập của các em có tốt hay không? Đề tài tiến hành đánh giá kết quả
học tập môn GDTC của sinh viên với ý nghĩa nhƣ là hậu quả của việc thiếu
t ch cực và hứng thú khi học môn GDTC. Các số liệu khảo sát cho thấy kết
quả học tập của sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội là chƣa đƣợc tốt, tỷ lệ
sinh viên không đạt chiếm khá cao đặc biệt là nội dung thực hành (44.41%),
tỷ lệ sinh viên đạt loại khá giỏi rất t (5.54%).
Nhƣ vậy, qua các số liệu nghiên cứu thu đƣợc ta có thể kết luận rằng
sinh viên Trƣờng Đại học Luật Hà Nội rất t hứng thú với môn học GDTC và
câu hỏi đặt ra là nguyên nhân nào dẫn đến t nh trạng trên? Điều này đòi hỏi
chúng ta phải t m ra nguyên nhân và biện pháp để khắc phục để nâng cao hiệu
quả công tác GDTC.
II. NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI SỰ THIẾU HỨNG THÚ KHI HỌC MÔN GDTC CỦA
thiếu ch nh xác của sinh viên đối với môn học sau đó nó chi phối tới tâm lý khiến
các em lƣời nhác, không muốn học tập. Bên cạnh đó có một số em quá bận v đi
làm thêm nên môn GDTC lại trở thành một gánh nặng...
Nhóm 2: Những nguyên nhân thuộc về phía giáo viên ( Gồm 6 nguyên nhân
10,11,12,13,14, ) :
- Tập luyện th nhiều, giới thiệu về kiến thức TDTT th t
- Phƣơng pháp giảng dạy không hấp dẫn
- Giáo viên t kh ch lệ, động viên ngƣời học
- Năng lực thị phạm của giáo viên kém
- Giáo viên thiếu tôn trọng học sinh
20
- Vị tr giáo viên TDTT thấp
Nhóm nguyên nhân này có một ảnh hƣởng không nhỏ đến vấn đề hứng thú
của học sinh đối với môn học GDTC. Điều này có lẽ một phần do giáo viên thiếu
kinh nghiệm trong giảng dạy và một phần là do vị tr môn học c ng nhƣ bản thân
ngƣời giáo viên dạy môn GDTC bị coi „thấp‟ nên tác động trực tiếp đến tâm lý
của giáo viên từ đó học t dần đi lòng nhiệt t nh và sự say mê đối với nghề nghiệp.
Nhóm 3: Những nguyên nhân thuộc về phía điều kiện khách quan ( Gồm 8
nguyên nhân 4,8,9,15,16,17,18,19 ) :
- Gánh nặng học tập quá lớn không đủ sức
- Thiếu nƣớc tắm sau khi vận động
- Chƣơng tr nh môn học còn đơn điệu, thiếu thiết thực
- Bố tr giờ học vào thời điểm không th ch hợp
- Điều kiện thời tiết xấu
- Môn học không đƣợc nhà trƣờng coi trọng nhƣ các môn học khác
- Thiếu sự quan tâm của nhà trƣờng
- Điểm môn học GDTC không đƣợc t nh vào điểm trung b nhchung học tập
Môn học có đƣợc yêu th ch hay không, có phát triển hay không, điều